Phát huy vai trò cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại tỉnh Gia Lai

Promoting the role of communities and artisans in conserving national intangible cultural heritage in Gia Lai Province

Trần Thị Mỹ Dung
Email: trandung.13042003@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Cộng đồng và nghệ nhân giữ vai trò chủ thể trong thực hành, lưu giữ và trao truyền di sản văn hóa phi vật thể. Bài viết phân tích vai trò của cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại tỉnh Gia Lai; làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và nghệ nhân, nâng cao hiệu quả bảo tồn, trao truyền và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Di sản văn hóa phi vật thể, cộng đồng, nghệ nhân, bảo tồn di sản, tỉnh Gia Lai.

Abstract: Communities and cultural artisans play a central role as custodians, practitioners, and transmitters of intangible cultural heritage. This article examines the role of communities and cultural artisans in the preservation and promotion of national intangible cultural heritage in Gia Lai province, highlighting achievements, limitations, and practical issues arising in the current context. On this basis, the article proposes several solutions to strengthen the agency and role of communities and cultural artisans, thereby improving the effectiveness of preserving, transmitting, and promoting the values of intangible cultural heritage in the new context.

Keywords: Intangible cultural heritage; community; artisans; heritage conservation; Gia Lai Province.

1. Đặt vấn đề

Di sản văn hóa phi vật thể là những thực hành, tri thức, kỹ năng và hình thức biểu đạt văn hóa được cộng đồng, nhóm người và cá nhân sáng tạo, duy trì và trao truyền qua các thế hệ. Vì vậy, bảo tồn di sản không chỉ dừng ở việc lưu giữ các giá trị truyền thống mà còn phải bảo đảm điều kiện để các chủ thể văn hóa tiếp tục thực hành và trao truyền di sản (UNESCO, 2003). Công ước UNESCO năm 2003 và Luật Di sản văn hóa năm 2024 của Việt Nam đều khẳng định vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản (UNESCO, 2003; Quốc hội, 2024).

Tuy nhiên, thực tiễn bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể vẫn đối mặt với nhiều thách thức, nhất là sự thiếu hụt lực lượng kế cận, khó khăn trong truyền nghề và những hạn chế về điều kiện hoạt động của nghệ nhân. Trong bối cảnh tỉnh Gia Lai có không gian văn hóa mở rộng, quy tụ nhiều loại hình di sản và cộng đồng thực hành, yêu cầu bảo tồn và phát huy di sản đặt ra những vấn đề mới đối với công tác quản lý và tổ chức thực hiện (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 11/4/2025). Do đó, nghiên cứu phát huy vai trò của cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại tỉnh Gia Lai có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đồng thời, đề xuất giải pháp phù hợp với yêu cầu bảo tồn, trao truyền và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh mới.

2. Thực trạng phát huy vai trò của cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại tỉnh Gia Lai

2.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Luật Di sản văn hóa năm 2024 và Nghị định số 215/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 tạo cơ sở pháp lý cho các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các danh sách của UNESCO và danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể (Chính phủ, 2025). Trên cơ sở đó, tỉnh Gia Lai đã triển khai một số đề án chuyên biệt, như: Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Hát bội Bình Định và Nghệ thuật Bài chòi giai đoạn 2026 – 2030; Đề án bảo tồn, phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng giai đoạn 2026 – 2030 (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2026a; Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025). Việc cụ thể hóa chính sách bằng các chương trình, đề án góp phần tạo khuôn khổ để cộng đồng và nghệ nhân tiếp tục thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị di sản.

Thứ hai, về kiểm kê, nhận diện, tư liệu hóa di sản và xác định chủ thể di sản. Công tác kiểm kê, nhận diện và xác định chủ thể di sản được đặt trong khuôn khổ pháp lý của Luật Di sản văn hóa năm 2024, trong đó nhấn mạnh yêu cầu nhận diện, xác định giá trị, đánh giá hiện trạng và lập hồ sơ khoa học di sản (Quốc hội, 2024, khoản 11 Điều 3). Về nguồn lực con người, theo thông tin do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai cung cấp, sau ba đợt xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, khu vực phía Tây tỉnh có 32 nghệ nhân được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú, trong đó 8 người đã qua đời (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025). Theo số liệu công bố năm 2026, toàn tỉnh Gia Lai có 7 Nghệ nhân Nhân dân và 67 Nghệ nhân Ưu tú (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai, 2026). Đội ngũ nghệ nhân là lực lượng quan trọng trong thực hành, lưu giữ và trao truyền di sản văn hóa phi vật thể; do đó, việc nhận diện, tư liệu hóa tri thức, kỹ năng và kinh nghiệm của nghệ nhân cần gắn với các hoạt động truyền dạy, bảo đảm sự tiếp nối của di sản trong cộng đồng.

Thứ ba, về truyền dạy, phổ biến, trình diễn, phục dựng và phát huy giá trị di sản. Hoạt động truyền dạy được triển khai với sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân. Năm 2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức 6 lớp bồi dưỡng về di sản; riêng đợt tháng 11 có 40 học viên tham gia 4 lớp về chỉnh chiêng, dệt thổ cẩm và tạc tượng gỗ Bahnar do nghệ nhân trực tiếp truyền dạy (Lam Nguyên, 2025). Tại khu vực tỉnh Bình Định cũ, Nghệ thuật Bài chòi được duy trì tại 35 nhóm, 28 câu lạc bộ với hơn 200 nghệ nhân; Võ cổ truyền Bình Định được truyền dạy tại 177 võ đường với 415 huấn luyện viên (Đào Bích Hạnh & Trần Thị Mỹ Dung, 25/02/2025). Những hoạt động này cho thấy, cộng đồng và nghệ nhân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn trực tiếp tham gia thực hành, truyền dạy và duy trì sức sống của di sản.

Thứ tư, về chính sách đối với nghệ nhân và chủ thể di sản. Luật Di sản văn hóa năm 2024 quy định các chính sách tôn vinh, hỗ trợ cơ sở vật chất, không gian thực hành, kinh phí truyền dạy và hoạt động của các nhóm, câu lạc bộ; Nghệ nhân Nhân dân và Nghệ nhân Ưu tú được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định. Trước khi sáp nhập, Bình Định có 42 nghệ nhân được phong tặng, gồm 7 Nghệ nhân Nhân dân và 35 Nghệ nhân Ưu tú (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,13/4/2023). Việc công nhận, tôn vinh và hỗ trợ nghệ nhân góp phần khẳng định vị trí của họ với tư cách là chủ thể nắm giữ, thực hành và trao truyền di sản, tạo điều kiện để họ tiếp tục đóng góp vào công tác bảo tồn.

Thứ năm, về huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực cho bảo tồn và phát huy di sản. Tỉnh Gia Lai từng bước gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch và các sản phẩm văn hóa, qua đó, mở rộng nguồn lực và không gian thực hành di sản. Tiêu biểu, Quyết định số 3414/QĐ-UBND ngày 14/8/2026 phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nghề chằm nón ngựa Phú Gia gắn với phát triển du lịch cộng đồng (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2026b). Đối với Võ cổ truyền Bình Định, tỉnh triển khai các cơ chế hỗ trợ lò võ, võ đường, đưa võ cổ truyền vào trường học và mở rộng hoạt động giao lưu, quảng bá trong nước và quốc tế. Việc gắn bảo tồn với giáo dục, du lịch và phát triển sản phẩm văn hóa góp phần tạo thêm không gian, cơ hội và nguồn lực để cộng đồng, nghệ nhân duy trì hoạt động thực hành di sản.

Thứ sáu, về kiểm tra, đánh giá, quảng bá và phát huy sự tham gia của cộng đồng. Công tác bảo tồn ngày càng gắn với các hoạt động trình diễn, giao lưu, quảng bá và mở rộng không gian thực hành di sản. Năm 2025, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO ghi danh Võ cổ truyền Bình Định; đồng thời, triển khai các đề án bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng, Bài chòi và Tuồng. Năm 2026, Liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam (lần thứ IX) tại Gia Lai có 16 đoàn quốc tế của 09 quốc gia với 260 thành viên, cùng 13 đoàn trong nước và 12 câu lạc bộ, võ đường của tỉnh với 432 thành viên tham gia (Đảng bộ tỉnh Gia lai, 2026). Những hoạt động này góp phần mở rộng không gian thực hành, tăng cường giao lưu và quảng bá, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội.

Nhìn chung, việc phát huy vai trò của cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại tỉnh Gia Lai mới đã đạt một số kết quả tích cực. Hệ thống chính sách và các chương trình, đề án từng bước được cụ thể hóa; công tác kiểm kê, nhận diện và tôn vinh chủ thể di sản được quan tâm; hoạt động truyền dạy và thực hành được duy trì thông qua các nhóm, câu lạc bộ, võ đường; đồng thời, bảo tồn di sản từng bước gắn với giáo dục, du lịch, giao lưu và phát triển kinh tế – xã hội. Qua đó, vai trò của cộng đồng và nghệ nhân ngày càng được khẳng định không chỉ ở phương diện lưu giữ di sản, mà còn ở thực hành, trao truyền và phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại.

2.2. Hạn chế

Một là, chính sách và cơ chế bảo tồn chưa được triển khai đồng đều giữa các loại hình và địa bàn. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Gia Lai quản lý không gian văn hóa rộng, với các loại hình di sản có đặc điểm, chủ thể thực hành và phương thức trao truyền khác nhau. Theo nghiên cứu của Đào Bích Hạnh và Trần Thị Mỹ Dung (2025), tại tỉnh Bình Định trước sắp xếp, nghệ thuật Bài chòi được truyền dạy tại 35 nhóm, 28 câu lạc bộ, với hơn 200 nghệ nhân; Võ cổ truyền Bình Định được duy trì tại 177 võ đường, với 415 huấn luyện viên. Trong khi đó, tại khu vực phía Tây Gia Lai, hoạt động truyền dạy một số di sản như chỉnh chiêng, dệt thổ cẩm và tạc tượng gỗ Bahnar được triển khai thông qua các lớp bồi dưỡng có sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025). Sự khác biệt về phương thức tổ chức cho thấy, yêu cầu xây dựng cơ chế bảo tồn phù hợp với đặc điểm từng loại hình và điều kiện thực hành của cộng đồng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thường xuyên và bền vững, cần tiếp tục rà soát chính sách hỗ trợ, nguồn lực thực hiện, trách nhiệm của các chủ thể và cơ chế phối hợp giữa các cấp quản lý, tránh tình trạng hoạt động bảo tồn phụ thuộc chủ yếu vào các chương trình, đợt triển khai riêng lẻ.

Hai là, công tác kiểm kê, tư liệu hóa và quản lý thông tin về chủ thể di sản chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Số lượng nghệ nhân được công nhận chưa phản ánh đầy đủ khả năng duy trì, thực hành và trao truyền di sản. Tại khu vực phía Tây, trong 32 nghệ nhân được xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú hiện chỉ còn 24 Nghệ nhân Ưu tú, nguy cơ suy giảm lực lượng nắm giữ tri thức và kỹ năng truyền thống. Trong khi đó, thông tin về độ tuổi, người kế cận, năng lực truyền dạy và mức độ thực hành của nghệ nhân chưa được thể hiện đầy đủ trong dữ liệu quản lý. Điều này gây khó khăn cho việc xác định nhu cầu hỗ trợ, xây dựng kế hoạch truyền dạy và chủ động hình thành lực lượng kế cận.

Ba là, hoạt động truyền dạy chưa hình thành cơ chế kế thừa thường xuyên và bền vững. Năm 2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức 6 lớp bồi dưỡng về di sản văn hóa phi vật thể; riêng đợt tháng 11 có 40 học viên tham gia 4 lớp về chỉnh chiêng, dệt thổ cẩm và tạc tượng gỗ Bahnar, do nghệ nhân trực tiếp truyền dạy (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025). Đây là hoạt động thiết thực nhằm duy trì tri thức và kỹ năng thực hành di sản. Tuy nhiên, đối với những loại hình đòi hỏi quá trình rèn luyện lâu dài như chỉnh chiêng, dệt thổ cẩm, tạc tượng gỗ, hát bội và Bài chòi, các lớp bồi dưỡng theo đợt khó có thể thay thế quá trình học tập, thực hành và tương tác thường xuyên giữa nghệ nhân với người học. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần chuyển từ tổ chức các lớp truyền dạy riêng lẻ sang xây dựng cơ chế truyền nghề liên tục, gắn với gia đình, cộng đồng, câu lạc bộ và các không gian thực hành di sản; đồng thời, có chính sách hỗ trợ nghệ nhân, tạo điều kiện để người học duy trì thực hành và từng bước đảm nhận vai trò truyền dạy cho thế hệ tiếp theo.

Bốn là, chính sách đối với nghệ nhân chưa gắn chặt với sinh kế và động lực truyền nghề. Việc tôn vinh, hỗ trợ nghệ nhân mới là điều kiện cần, chưa đồng nghĩa với việc bảo đảm nguồn thu nhập ổn định từ hoạt động thực hành, truyền dạy và trình diễn di sản. Trong điều kiện nhiều nghệ nhân vẫn phải dựa vào nghề nghiệp hoặc sinh kế khác, thời gian, không gian và nguồn lực dành cho hoạt động truyền nghề bị hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tham gia lâu dài của nghệ nhân và làm giảm sức hấp dẫn của việc theo học, tiếp nối di sản đối với thế hệ trẻ.

Năm là, xã hội hóa và khai thác giá trị di sản chưa gắn với lợi ích của cộng đồng. Việc gắn bảo tồn di sản với du lịch và phát triển sản phẩm văn hóa, như định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với Nghề chằm nón ngựa Phú Gia, chưa đi kèm cơ chế rõ ràng để cộng đồng và nghệ nhân tham gia vào quá trình quyết định phương thức khai thác và hưởng lợi từ di sản. Khi lợi ích của chủ thể chưa được xác định rõ, động lực kinh tế cho việc duy trì thực hành và trao truyền di sản có thể chưa đủ mạnh; đồng thời, việc khai thác thiếu kiểm soát có thể làm gia tăng nguy cơ thương mại hóa, giản lược hoặc biến đổi không phù hợp các giá trị và không gian thực hành truyền thống.

Sáu là, sự tham gia của cộng đồng và nghệ nhân trong quản trị di sản chưa đầy đủ. Vai trò của cộng đồng và nghệ nhân hiện chủ yếu thể hiện ở thực hành, truyền dạy, trình diễn và phục dựng, trong khi sự tham gia vào xây dựng kế hoạch, xác định ưu tiên bảo tồn, giám sát, đánh giá và quyết định phương thức khai thác di sản còn hạn chế. Do đó, cộng đồng và nghệ nhân chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò chủ thể trong toàn bộ chu trình quản lý, từ xác định vấn đề, hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả.

Nhìn chung, những hạn chế hiện nay không chủ yếu nằm ở sự thiếu hụt các hoạt động bảo tồn, mà ở tính đồng bộ của cơ chế, tính bền vững của hoạt động truyền dạy và mức độ tham gia thực chất của cộng đồng, nghệ nhân trong quản trị di sản. Những vấn đề nổi bật, gồm: cơ chế bảo tồn chưa đồng đều giữa các địa bàn và loại hình; dữ liệu về chủ thể chưa đầy đủ; truyền dạy thiếu tính thường xuyên; chính sách chưa gắn chặt với sinh kế; cơ chế chia sẻ lợi ích từ khai thác di sản chưa rõ; và sự tham gia của cộng đồng, nghệ nhân vào quá trình quản trị còn hạn chế. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để chuyển vai trò của cộng đồng và nghệ nhân từ chủ thể thực hành và thụ hưởng sang chủ thể tham gia quản trị và quyết định đối với di sản.

2.3. Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, sự khác biệt về đặc điểm di sản, chủ thể và điều kiện thực hành giữa các địa bàn. Sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai quản lý một không gian văn hóa rộng, với các loại hình di sản có đặc điểm, cộng đồng chủ thể và môi trường thực hành khác nhau. Di sản ở khu vực Bình Định cũ chủ yếu gắn với không gian đồng bằng, ven biển và đô thị; trong khi nhiều di sản ở khu vực Gia Lai cũ gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số, làng truyền thống và không gian sinh hoạt cộng đồng. Sự khác biệt này gây khó khăn cho việc xây dựng cơ chế quản lý thống nhất nhưng vẫn phù hợp với đặc thù của từng loại hình di sản. Bên cạnh đó, quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy và phối hợp giữa các cấp, ngành sau sáp nhập cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc tích hợp và tổ chức thực hiện chính sách. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự chưa đồng đều trong cơ chế bảo tồn giữa các địa bàn và loại hình di sản.

Thứ hai, cơ sở dữ liệu về di sản và chủ thể di sản chưa được xây dựng theo hướng cập nhật thường xuyên. Công tác kiểm kê trước đây chủ yếu tập trung vào danh mục, giá trị và hồ sơ di sản, trong khi thông tin về nghệ nhân, người thực hành và lực lượng kế cận chưa được quản lý như một hệ thống dữ liệu động. Các thông tin về độ tuổi, năng lực thực hành, khả năng truyền dạy, người kế cận và mức độ tham gia của từng chủ thể cần được cập nhật thường xuyên, nhất là trong bối cảnh đội ngũ nghệ nhân có xu hướng cao tuổi. Dữ liệu chưa đầy đủ làm hạn chế khả năng nhận diện mức độ mai một, xác định nhu cầu hỗ trợ và xây dựng kế hoạch truyền dạy phù hợp đối với từng di sản, từng chủ thể.

Thứ ba, môi trường thực hành truyền thống bị thu hẹp, trong khi sức hút của di sản đối với thế hệ trẻ chưa cao. Đô thị hóa, chuyển dịch sinh kế, thay đổi thị hiếu và nhu cầu việc làm khiến một bộ phận người trẻ ít có điều kiện gắn bó với nghề và không gian thực hành truyền thống. Trong khi đó, nhiều loại hình di sản đòi hỏi quá trình học tập trực tiếp, liên tục và lâu dài từ nghệ nhân. Các lớp truyền dạy theo từng đợt có thể tạo điều kiện tiếp cận ban đầu nhưng khó hình thành lực lượng kế cận nếu thiếu môi trường thực hành thường xuyên và động lực theo nghề. Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho hoạt động truyền dạy chưa chuyển thành cơ chế kế thừa bền vững.

Thứ tư, chính sách hỗ trợ nghệ nhân chưa gắn đầy đủ với yêu cầu duy trì sinh kế và truyền nghề. Hoạt động thực hành và truyền dạy di sản đòi hỏi nghệ nhân đầu tư thời gian, công sức và nguồn lực, trong khi thu nhập từ các hoạt động này chưa ổn định, đặc biệt đối với những di sản có khả năng thương mại hóa hạn chế. Người trẻ tiếp nối di sản cũng cần có thu nhập và cơ hội nghề nghiệp phù hợp để duy trì việc theo nghề. Vì vậy, việc hỗ trợ chủ yếu đối với nghệ nhân đang nắm giữ di sản chưa đủ tạo động lực duy trì quá trình truyền nghề lâu dài và hình thành thế hệ kế cận. Đây là nguyên nhân của hạn chế trong duy trì đội ngũ nghệ nhân và bảo đảm tính liên tục của di sản.

Thứ năm, nguồn lực xã hội hóa chưa đồng đều và cơ chế phân phối lợi ích từ khai thác di sản còn hạn chế. Với địa bàn rộng và hệ thống di sản đa dạng, ngân sách nhà nước khó đáp ứng toàn bộ nhu cầu bảo tồn. Trong khi đó, khả năng huy động nguồn lực xã hội phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương cũng như khả năng thu hút doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Việc khai thác di sản cho du lịch, giáo dục và phát triển sản phẩm văn hóa chưa có cơ chế rõ ràng để cộng đồng và nghệ nhân tham gia xây dựng sản phẩm, kiểm soát phương thức khai thác và hưởng lợi trực tiếp. Điều này hạn chế khả năng tạo nguồn lực từ chính hoạt động khai thác để tái đầu tư cho bảo tồn, đồng thời chưa tạo được động lực kinh tế đủ mạnh cho chủ thể di sản.

Thứ sáu, phương thức quản lý còn thiên về hành chính, trong khi cơ chế đồng quản trị di sản chưa được hình thành đầy đủ. Cơ quan nhà nước vẫn giữ vai trò chủ yếu trong xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả; cộng đồng và nghệ nhân chủ yếu được huy động ở khâu thực hiện. Cơ chế để cộng đồng và nghệ nhân tham gia từ xác định vấn đề, lựa chọn ưu tiên, xây dựng kế hoạch đến giám sát và đánh giá chính sách chưa được thể chế hóa rõ ràng. Vì vậy, vai trò của cộng đồng và nghệ nhân chưa chuyển hóa đầy đủ từ chủ thể thực hành thành chủ thể tham gia quản trị và ra quyết định đối với di sản.

Như vậy, các hạn chế nêu trên bắt nguồn từ cả những biến đổi về không gian văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội và môi trường thực hành di sản, cũng như những bất cập trong cơ chế dữ liệu, chính sách hỗ trợ, huy động nguồn lực và phương thức quản lý. Điểm cốt lõi là cơ chế bảo tồn chưa tạo được sự kết nối đầy đủ giữa bảo vệ di sản, duy trì sinh kế, truyền nghề và trao quyền tham gia quản trị cho cộng đồng, nghệ nhân. Đây là cơ sở để xác định các nhóm giải pháp nhằm phát huy thực chất vai trò chủ thể của cộng đồng và nghệ nhân trong bảo tồn, trao truyền và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Gia Lai.

3. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng phân cấp và bảo đảm tính đặc thù của từng di sản. Tỉnh Gia Lai cần rà soát, tích hợp chính sách bảo tồn của hai địa phương trước sáp nhập, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn, chính quyền cơ sở và cộng đồng trong từng khâu bảo tồn. Đối với mỗi di sản, cần xây dựng kế hoạch bảo tồn phù hợp với đặc điểm chủ thể, không gian thực hành và mức độ nguy cơ mai một; đồng thời thể chế hóa sự tham gia của nghệ nhân, đại diện cộng đồng trong xác định ưu tiên và lựa chọn phương thức bảo tồn.

Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản, nghệ nhân và người thực hành theo hướng cập nhật thường xuyên. Cơ sở dữ liệu thống nhất cần bao quát 9 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, không chỉ về lịch sử, giá trị và hiện trạng mà cả thông tin về nghệ nhân, người thực hành và thế hệ kế cận như độ tuổi, năng lực truyền dạy, tình trạng hoạt động và nguy cơ mai một. Đồng thời, đẩy mạnh số hóa tư liệu bằng hình ảnh, âm thanh, video và hồ sơ điện tử để bảo tồn tri thức của nghệ nhân và làm cơ sở phân bổ nguồn lực, xác định đối tượng ưu tiên.

Ba là, xây dựng hệ sinh thái truyền dạy di sản thay cho các lớp truyền dạy ngắn hạn. Tỉnh cần phát triển mạng lưới truyền dạy thường xuyên tại cộng đồng, trường học, câu lạc bộ, nhà văn hóa, võ đường và các không gian thực hành phù hợp; đồng thời lựa chọn, đào tạo người trẻ có năng lực và tâm huyết làm lực lượng kế cận. Đối với di sản có nguy cơ mai một cao, cần xây dựng chương trình truyền dạy dài hạn, gắn với chỉ tiêu về người kế cận và đánh giá kết quả định kỳ.

Bốn là, đổi mới chính sách đối với nghệ nhân theo hướng bảo đảm điều kiện sống, thực hành và truyền nghề. Bên cạnh các chính sách hiện hành, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ nghệ nhân trực tiếp truyền dạy, phục dựng, tư liệu hóa và đào tạo người kế cận, ưu tiên nghệ nhân cao tuổi và nắm giữ tri thức có nguy cơ thất truyền. Đồng thời, hỗ trợ người trẻ thông qua đào tạo, học bổng, công cụ thực hành và kết nối việc làm; từng bước tạo cơ chế để nghệ nhân có thu nhập phù hợp từ truyền dạy, trình diễn và phát huy giá trị di sản.

Năm là, tăng cường xã hội hóa và bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi từ di sản. Tỉnh cần đa dạng hóa nguồn lực thông qua hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục và cộng đồng. Việc khai thác di sản cho du lịch, giáo dục và phát triển sản phẩm văn hóa cần bảo đảm giá trị gốc, sự đồng thuận và lợi ích của chủ thể. Cần xác định rõ quyền, trách nhiệm của nghệ nhân và cộng đồng trong xây dựng, khai thác sản phẩm; đồng thời, dành một phần nguồn thu để tái đầu tư cho không gian thực hành, truyền dạy và hỗ trợ nghệ nhân.

Sáu là, chuyển từ quản lý di sản sang quản trị di sản có sự tham gia thực chất của cộng đồng và nghệ nhân. Tỉnh cần thiết lập cơ chế để nghệ nhân và đại diện cộng đồng tham gia chính thức vào xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá chính sách. Có thể thành lập hoặc củng cố ban quản lý, hội đồng tư vấn hoặc nhóm đại diện chủ thể đối với từng di sản, bảo đảm tiếng nói của cộng đồng trong xác định nhu cầu, lựa chọn nội dung bảo tồn và giám sát khai thác. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, cung cấp nguồn lực và hướng dẫn chuyên môn; cộng đồng và nghệ nhân tham gia trực tiếp vào các quyết định liên quan đến thực hành và phát huy di sản.

4. Kết luận

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Gia Lai sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý theo hướng đồng bộ, thực chất và lấy cộng đồng làm trung tâm. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được trong kiểm kê, truyền dạy, tổ chức thực hành và quảng bá di sản, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao chất lượng dữ liệu, bảo đảm tính liên tục của hoạt động truyền nghề và thu hẹp khoảng cách trong điều kiện bảo tồn giữa các loại hình, địa bàn. Vì vậy, bảo tồn không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ các giá trị đã được nhận diện mà cần tạo điều kiện để di sản tiếp tục được thực hành, trao truyền và thích ứng với đời sống đương đại.

Để đáp ứng yêu cầu đó, cần chuyển từ tư duy “bảo tồn cho cộng đồng” sang “bảo tồn cùng cộng đồng và vì cộng đồng”, trong đó xác lập rõ vai trò chủ thể của nghệ nhân, người thực hành và các thế hệ kế cận; hoàn thiện chính sách hỗ trợ và cơ chế phối hợp giữa các bên; xây dựng cơ sở dữ liệu di sản thống nhất, có khả năng cập nhật và kết nối; đồng thời, duy trì hoạt động truyền dạy gắn với không gian thực hành tại cộng đồng. Việc kết hợp bảo tồn với phát triển sinh kế bền vững, du lịch có trách nhiệm và các hoạt động kinh tế văn hóa cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng giá trị, bản sắc và quyền lợi của chủ thể di sản. Hiệu quả bảo tồn vì thế không chỉ được đo bằng số lượng di sản được kiểm kê, hồ sơ được lập hay sự kiện được tổ chức mà quan trọng hơn là khả năng duy trì sức sống của di sản trong cộng đồng, bảo đảm sự tiếp nối giữa các thế hệ và phát huy giá trị di sản như một nguồn lực cho phát triển bền vững của tỉnh Gia Lai.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (13/4/2023). Bình Định: Trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. https://bvhttdl.gov.vn/binh-dinh-trao-tang-danh-hieu-nghe-nhan-nhan-dan-nghe-nhan-uu-tu-linh-vuc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-20230413105733233.htm
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (17/11/2025). Bồi dưỡng di sản văn hóa phi vật thể cho đồng bào Jrai và Bahnar. https://bvhttdl.gov.vn/Pages/chi-tiet.aspx?url=%2Fboi-duong-di-san-van-hoa-phi-vat-the-cho-dong-bao-jrai-va-bahnar-20251117213017619.htm
Chính phủ (2025). Nghị định số 215/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 quy định các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể.
Đảng bộ tỉnh Gia Lai (21/7/2026). 16 đoàn quốc tế tham dự Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX – Gia Lai 2026. https://gialai.dcs.vn/van-hoa-xa-hoi/-/view-content/579502/16-doan-quoc-te-tham-du-lien-hoan-quoc-te-vo-co-truyen-viet-nam-lan-thu-ix-gia-lai-2026.
Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai (2025). Nghị quyết số 100/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 về việc thông qua Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030.
Đào Bích Hạnh & Trần Thị Mỹ Dung (25/02/2025). Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trên địa bàn tỉnh Bình Định. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/25/bao-ton-va-phat-huy-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-tren-dia-ban-tinh-binh-dinh/.
Lam Nguyên (17/11/2025). Gia Lai bồi dưỡng di sản văn hóa phi vật thể cho 40 học viên. Báo Gia Lai. https://baogialai.com.vn/gia-lai-boi-duong-di-san-van-hoa-phi-vat-the-cho-40-hoc-vien-post572507.html
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai. (2026, May 4). Gia Lai đánh thức nguồn lực văn hóa cho phát triển. https://lienhiephoi.gialai.gov.vn/news/trong-tinh/gia-lai-danh-thuc-nguon-luc-van-hoa-cho-phat-trien-1644.html
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
UNESCO (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage. Paris.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (11/4/2025). Giữ nguyên tên gọi các di sản phi vật thể, di tích, khu du lịch quốc gia sau sáp nhập. https://vpub.gialai.gov.vn/tin-tu-tinh/giu-nguyen-ten-goi-ca-c-di-sa-n-phi-vat-the-di-tich-khu-du-lich-quoc-gia-sau-sap-nhap.html
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2026a). Quyết định số 2914/QĐ-UBND ngày 08/7/2026 phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hát bội Bình Định và Nghệ thuật Bài chòi trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2026 – 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2026b). Quyết định số 3414/QĐ-UBND ngày 14/8/2026 phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề chằm nón ngựa Phú Gia gắn với phát triển du lịch cộng đồng.