Khảo sát năng lực số của sinh viên đáp ứng nhu cầu nhân lực trong kỷ nguyên chuyển đổi số

A survey of students’ digital competencies in relation to workforce needs in the era of digital transformation

TS. Vũ Hồng Vân
Trường Đại học Tài chính – Marketing
Email: vhvan@ufm.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang diễn biến mạnh mẽ và ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động kinh tế – xã hội. Yêu cầu về nhân lực cũng có sự thay đổi lớn trong cách thức triển khai công việc, cũng như trong việc đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu suất làm việc. Đối với sinh viên, việc nhận thức được nhu cầu đó và chủ động nâng cao kỹ năng số trong học tập và định hướng công việc trong tương lai là rất cần thiết. Bài viết xây dựng mô hình các yếu tố thuộc khung năng lực số ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và làm việc của sinh viên. Thông qua khảo sát 438 sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, phân tích bằng phần mềm SPSS 26 cho thấy, các giả thuyết được chấp nhận; các yếu tố ảnh hưởng từ cao đến thấp là khả năng hợp tác trong môi trường số. Khả năng khai thác thiết bị công nghệ, phát triển kỹ năng số, năng lực quản lý thông tin và khai thác nội dung số ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và làm việc.

Từ khóa: Chuyển đổi số; năng lực số; khung năng lực số; nhu cầu nhân lực.

Abstract: Digital transformation is progressing rapidly and significantly affecting all economic and social activities. Workforce demands have also changed significantly in how work is carried out and in meeting the need to improve performance. Students must recognize these needs and proactively strengthen their digital skills in their studies and future career planning. This paper develops a model of the factors within the digital competency framework that influence students’ learning and work effectiveness. Based on a survey of 438 students in Ho Chi Minh City, analysis using SPSS 26 software confirmed the hypotheses; the factors influencing effectiveness, ranked from highest to lowest, are the ability to collaborate in a digital environment. The ability to utilize technological devices, develop digital skills, manage information, and leverage digital content all influence academic and work performance.

Keywords: Digital transformation; digital competence; digital competency framework; workforce needs.

1. Đặt vấn đề

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số, một quá trình thay đổi gắn liền với việc ứng dụng công nghệ số vào mọi mặt của đời sống xã hội. Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ điện tử; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế số chiếm 30% GDP.

Cùng với Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số, xã hội số, nguồn nhân lực đều vận động theo xu hướng chuyển đổi số nói chung, đặc biệt là giới trẻ cần xác định kỹ năng số là yêu cầu cơ bản khi tuyển dụng và làm việc tại các doanh nghiệp hiện nay.

Thực trạng cho thấy giới trẻ hiện nay khai thác công cụ số và ứng dụng số rất phổ biến. Ngoài mục đích giải trí và kết nối, mục đích phục vụ học tập và tìm hiểu kiến thức liên quan đến công việc cũng được giới trẻ chủ động khai thác. Các nghiên cứu trước đây chưa đánh giá mức độ đáp ứng năng lực số của đối tượng cụ thể là sinh viên – những người trẻ có tri thức và khả năng học tập để đáp ứng những tiến bộ công nghệ trong thời kỳ số hóa. Do đó, nghiên cứu này đề cập đến việc sử dụng các khung năng lực số đáng tin cậy để đo lường mức độ đáp ứng khung năng lực số của đội ngũ nhân sự tương lai. Đây là việc làm cần thiết nhằm dự báo mức độ sẵn sàng của thế hệ nhân lực số đối với thị trường lao động.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Năng lực số

Theo Siebel (2019), chuyển đổi số (digital transformation) là việc sử dụng công nghệ số hoặc ứng dụng công nghệ số trên cơ sở dữ liệu số hoặc dữ liệu đã được số hóa để thay đổi mô hình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, nhằm tạo ra nhiều cơ hội và giá trị mới, cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động, cũng như tính cạnh tranh của tổ chức/cơ quan/doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các tổ chức hay doanh nghiệp cần trang bị và phát triển năng lực số (digital competence) cho người lao động một cách liên tục và cập nhật. Hội đồng châu Âu (2018) đưa ra định nghĩa: “Năng lực số liên quan tới việc sử dụng tự tin, nghiêm túc và có trách nhiệm các công nghệ số cho việc học tập, làm việc và tham gia trong xã hội”. UNESCO (2018) định nghĩa cụ thể khái niệm “Năng lực số” là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho các công việc từ đơn giản đến phức tạp, cũng như khởi nghiệp. Năng lực số là tổng hợp của năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin, năng lực thông tin và năng lực truyền thông”. Như vậy, có thể hiểu năng lực số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo ra thông tin một cách an toàn và hợp lý thông qua các công nghệ số nhằm phục vụ các mục đích học tập, nghiên cứu, giải trí và các mục đích làm việc chuyên nghiệp khác. Năng lực số có nền tảng từ các kỹ năng sử dụng máy tính và Internet; nói cách khác, đó là việc sử dụng máy vi tính để tìm kiếm, kết nối, lưu trữ, sản xuất, trình bày và trao đổi thông tin, cũng như giao tiếp và tham gia các mạng lưới cộng tác trên Internet.

2.2. Khung năng lực số

Khung năng lực số quy định một nhóm tiêu chuẩn về kiến thức và kỹ năng số áp dụng cho các công việc liên quan đến việc thu thập, phân tích thông tin và sáng tạo để giải quyết vấn đề. Theo (Helsper, 2021), các kỹ năng số cơ bản bao gồm 4 nhóm: (1) Kỹ năng kỹ thuật và vận hành; (2) Kỹ năng định hướng và xử lý thông tin; (3) Kỹ năng giao tiếp và tương tác; và (4) Kỹ năng sáng tạo và sản xuất nội dung.

Các khung năng lực số của các tổ chức quốc tế và trong nước đang được sử dụng phổ biến hiện nay bao gồm: Khung năng lực số của Ủy ban châu Âu (DigComp), bản cập nhật Version 2.2 năm 2022. Khung năng lực số toàn cầu của UNESCO (DLGF), phiên bản V4.4.2 năm 2018. Khung năng lực số dành cho sinh viên DigiLit 1.0 của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2021.

Năm 2018, UNESCO đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá 47 khung năng lực số của các quốc gia đa dạng về mặt kinh tế tại các châu lục còn lại, đối sánh các khung này với khung DigComp của châu Âu và kết luận rằng tất cả các năng lực được mô tả trong 47 khung NLS này đều có thể được ánh xạ tới khung DigComp (Jashari, Fetaji, Nussbaumer, & Gütl, 2021). Từ đó, UNESCO thống nhất bổ sung vào khung DigComp một số năng lực để xây dựng khung tham chiếu toàn cầu DLGF (UNESCO, 2018). Cấu trúc của khung năng lực số UNESCO gồm 7 nhóm năng lực, mỗi nhóm được chia thành các năng lực thành phần, trong đó có mô tả chi tiết các biểu hiện của năng lực thành phần theo các nhánh: hiểu biết, áp dụng và tạo ra nội dung mới. Cụ thể như sau:

Nhóm 0: Vận hành thiết bị và phần mềm. Nhận dạng và sử dụng các công cụ phần cứng và công nghệ nhận diện dữ liệu, thông tin và nội dung số để vận hành các công cụ và công nghệ này.

Nhóm 1: Năng lực về thông tin và dữ liệu. Làm rõ nhu cầu thông tin, định vị và truy cập dữ liệu, thông tin và nội dung số; đánh giá các nguồn tin và nội dung của chúng; lưu trữ, quản lý và tổ chức dữ liệu, thông tin và nội dung số.

Nhóm 2: Giao tiếp và hợp tác. Tương tác, giao tiếp và hợp tác thông qua công nghệ số, đồng thời nhận thức được sự đa dạng về văn hóa và thế hệ; tương tác xã hội thông qua các dịch vụ số công cộng cũng như cá nhân và thực hành vai trò công dân; tự quản lý định danh và uy tín số của bản thân.

Nhóm 3: Sáng tạo nội dung số. Tạo lập và biên tập nội dung số. Nâng cấp và kết hợp thông tin và nội dung số vào vốn tri thức sẵn có, đồng thời hiểu rõ các giấy phép và bản quyền được áp dụng; biết cách đưa ra các lệnh dễ hiểu cho hệ thống máy tính.

Nhóm 4: An ninh. Bảo vệ các thiết bị, nội dung, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số; bảo vệ sức khỏe và tinh thần; nhận thức về tác động của công nghệ số đối với hạnh phúc xã hội và hòa nhập xã hội; nhận thức về ảnh hưởng của công nghệ số và việc sử dụng chúng đối với môi trường.

Nhóm 5: Giải quyết vấn đề. Nhận diện nhu cầu và vấn đề, giải quyết vấn đề trong môi trường số; sử dụng công cụ số để đổi mới quy trình và sản phẩm; cập nhật tiến trình phát triển của công nghệ số.

Nhóm 6: Năng lực liên quan đến nghề nghiệp. Vận hành các công nghệ số đặc thù; hiểu, phân tích và đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số đặc thù trong một lĩnh vực cụ thể.

Tại Việt Nam, Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành. Bộ chuẩn này bao gồm hai bậc trình độ: bậc cơ bản gồm 6 module được mã hóa từ IU01 đến IU06, và bậc nâng cao gồm 9 module được mã hóa từ IU07 đến IU15. Mỗi cá nhân muốn đạt chuẩn ở trình độ cơ bản phải đáp ứng yêu cầu của tất cả các module IU01-IU06. Trình độ nâng cao yêu cầu ứng viên phải đạt trình độ cơ bản và hoàn thành ít nhất 3 trong số các module IU07-IU15. Mỗi module được quy định rất chi tiết, chia thành 3 cấp, mô tả các nội dung hoặc yêu cầu cần đạt được. Tuy nhiên, tất cả các nội dung mô tả trong bộ chuẩn này đều chỉ dừng lại ở những tác vụ kỹ thuật thuần túy, mà không thể hiện được tính chất tích hợp trong các năng lực tổng quát phục vụ các mục tiêu học tập, nhận thức hoặc tương tác với môi trường giáo dục và xã hội xung quanh.

2.3. Đề xuất mô hình đáp ứng năng lực số cho sinh viên

Dựa vào Khung năng lực của UNESCO (2018) và của Bộ Thông tin và Truyền thông, tác giả đề xuất xây dựng Khung năng lực số cho sinh viên, bao gồm các yếu tố: (1) Khả năng khai thác thiết bị công nghệ, (2) Năng lực quản lý thông tin, (3) Khả năng hợp tác trong môi trường số, (4) Khai thác nội dung số và (5) Phát triển kỹ năng số, ảnh hưởng đến (6) Hiệu quả học tập và làm việc.

Các giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Khả năng khai thác thiết bị công nghệ tác động tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc

H2: Năng lực quản lý thông tin tác động tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc

H3: Khả năng hợp tác trong môi trường số tác động tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc

H4: Khai thác nội dung số tác động tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc

H5: Phát triển kỹ năng số tác động tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc

Bảng 1: Thang đo nghiên cứu

TTKý hiệuNội dung
Khả năng khai thác thiết bị công nghệ (TB)
1TB1Tôi có thể sử dụng tốt các thiết bị công nghệ số
2TB2Tôi có thể sử dụng các ứng dụng số và các phần mềm liên quan đến học tập công việc
3TB3Tôi có thể sử dụng tốt các công cụ và phương pháp học trực tuyến
4TB4Tôi biết khai thác các nguồn học liệu số
Năng lực quản lý thông tin (TT)
5TT1Tôi có khả năng thu thập thông tin phục vụ học tập và công việc
6TT2Tôi khai thác tốt các công cụ AI phổ biến hiện nay
7TT3Tôi thường đánh giá nguồn thông tin số trước khi sử dụng
8TT4Tôi thường tổ chức và lưu trữ các thông tin quan trọng một cách khoa học
9TT5Tôi biết sử dụng và phân phối thông tin có trách nhiệm
Khả năng hợp tác trong môi trường số (HT)
10HT1Tôi hiểu và thực hiện đúng quyền của một công dân số
11HT2Tôi biết cách tương tác và trao đổi thông tin
12HT3Tôi chia sẻ thông tin số một cách phù hợp
13HT4Tôi có hành vi ứng xử đúng trong môi trường số
Khai thác nội dung số (KT)
14KT1Tôi có thể sáng tạo nội dung số
15KT2Tôi hào hứng với chuyển đổi số trong công việc
16KT3Tôi có thể sử dụng nội dung số hiệu quả
Phát triển kỹ năng số (PT)
17PT1Tôi tích cực tìm hiểu các công nghệ và nội dung số liên quan đến công việc sau này
18PT2Tôi ý thức rèn luyện năng lực số phục vụ công việc
19PT3Tôi cảm thấy tự tin với sự tiếp cận và lĩnh hội các nội dung số cập nhật về công việc trong tương lai
Hiệu quả học tập (HQ)
20HQ1Khai thác dữ liệu số rất hữu ích cho tôi trong học tập
21HQ2Tôi hài lòng với kỹ năng số của bản thân
22HQ3Chuyển đổi số trong học tập là xu hướng tất yếu
23HQ4Tôi tiếp tục học hỏi để khai thác công nghệ số hiệu quả trong học tập và công việc tương lai
Nguồn: Tác giả xây dựng giả thuyết

2.4. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Mô hình được xây dựng dựa trên Khung năng lực số của UNESCO (DipCOM). Tác giả đã khảo sát sơ bộ 20 phiếu để điều chỉnh bảng hỏi. Các biến được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ tháng 8/2025 đến tháng 10/2025 thông qua việc gửi link khảo sát đến sinh viên của một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Số phiếu hợp lệ thu về là 438 và được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0.

3. Kết quả khảo sát và thảo luận về năng lực số của sinh viên

3.1. Thống kê mô tả

Bảng 2: Thống kê mô tả

Thuộc tínhSố lượngPhần trăm
1.Giới tính  
+ Nam18442.0
+ Nữ25456.0
2. Năm học  
+ Năm nhất10824.6
+ Năm hai8719.9
+ Năm ba10323.5
+ Năm tư9922.6
+ Năm năm419.4
3.Thời gian sử dụng internet  
+ Dưới 2 giờ6815.5
+ Từ 2 đến dưới 3 giờ8319.0
+ Từ 3 đến dưới 4 giờ9120.7
+ Từ 4 đến 5 giờ9321.3
+ Trên 5 giờ10323.5
4.Thời gian sử dụng internet cho học tập  
+ Dưới 1 giờ8118.4
+ Từ 1 đến 2 giờ17640.2
+ Trên 2 giờ18141.4
5.Hài lòng với kết quả học tập  
+ Rất hài lòng7517.1
+ Hài lòng11626.5
+ Bình thường16938.6
+ Không hài lòng439.8
+ Rất không hài lòng358.0
Tổng438100.0
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Kết quả trên cho thấy 65,5% sinh viên sử dụng thiết bị công nghệ từ 3 giờ/ngày trở lên. Thời gian dùng máy tính và điện thoại cho mục đích học tập đa số trên 1 giờ/ngày cho thấy sinh viên tìm kiếm thông tin và học tập thông qua các thiết bị kết nối Internet phục vụ hoạt động nghiên cứu và học tập. Số sinh viên được hỏi có mức độ hài lòng với kết quả học tập chiếm 43,6%.

3.2. Kiểm định sự tin cậy của thang đo

Kết quả phân tích ở Bảng 3 cho thấy giá trị độ tin cậy của thang đo đối với 6 biến đều đạt yêu cầu (>0.7)

Bảng 3: Chỉ số độ tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha

TTNhân tốKý hiệuHệ số tương quan biến -tổng nhỏ nhấtGiá trị Cronbach’s Alpha
1Khả năng khai thác thiết bị công nghệTB0.7390.908
2Năng lực quản lý thông tinTT0.7110.894
3Khả năng hợp tác trong môi trường sốHT0.8200.935
4Khai thác nội dung sốKT0.7600.895
5Phát triển kỹ năng sốPT0.7610.891
6Hiệu quả học tập và làm việcHQ0.6040.907
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.3. Phân tích nhân tố khám phá

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được thực hiện cho 5 biến độc lập, cho kết quả như sau: giá trị Sig. của kiểm định Bartlett = .000<.005; 0.5 < KMO = 0.907 < 1; tỷ lệ trích = 79.381%. Với phép quay Varimax, 19 quan sát của các biến độc lập được xác định thành 5 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và làm việc (HQ).

  Bảng 4: Ma trận xoay các nhân tố
12345
TT4.803    
TT5.771    
TT2.770    
TT3.767    
TT1.741    
HT1 .892   
HT4 .877   
HT3 .870   
HT2 .845   
TB2  .831  
TB1  .827  
TB3  .779  
TB4  .702  
PT3   .858 
PT2   .835 
PT1   .833 
KT3    .819
KT2    .814
KT1    .770
 Nguồn: Tính toán của tác giả

Đối với biến phụ thuộc HQ, giá trị Sig. là. = .000; KMO = 0.801; tỷ lệ trích = 78.483% và tải lên một thành phần duy nhất.

3.4. Phân tích hồi quy

Các phân tích tương quan và hồi quy Pearson được thực hiện để đánh giá tác động của các biến độc lập thuộc khung năng lực số đối với hiệu quả học tập của sinh viên.

Bảng 5. Kết quả phân tích hồi quy    
ModelUnstandardized CoefficientsStandardized CoefficientstSig.Collinearity Statistics
BStd. ErrorBetaToleranceVIF
1(Constant)-.291.197 -1.475.142  
TB.273.058.2654.667.000.5161.939
TT.181.059.1643.053.003.5801.725
HT.291.047.2966.226.000.7361.359
KT.135.057.1332.378.019.5331.877
PT.260.050.2615.172.000.6531.531
Dependent Variable: HQ
Nguồn: Tính toán của tác giả.

Kết quả trên cho thấy giá trị Sig. Của 5 biến độc lập đều nhỏ hơn 0.05, phản ánh mỗi biến có tương quan với biến phụ thuộc HQ. R-squared = 0.720 cho thấy 72% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 5 biến trong phương trình hồi quy này.

4. Một số đề xuất

Thứ nhất, chủ động tiếp cận và khai thác hiệu quả các thiết bị công nghệ số phục vụ cho hoạt động học tập. Sinh viên cần nhận thức được sự thuận tiện và hữu ích của các thiết bị công nghệ như laptop, smartphone để tận dụng chúng trong việc tìm kiếm dữ liệu và sử dụng các ứng dụng tiện ích sẵn có cho hoạt động nghiên cứu và học tập.

Thứ hai, các công cụ AI thực sự có tác động tích cực đến hoạt động của mỗi cá nhân và tổ chức và đang dần thay đổi cách thức làm việc trong mọi ngành nghề, nên sinh viên cần nghiên cứu để khai thác các công cụ AI phù hợp, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động học tập cũng như làm quen và khai thác hiệu quả với các công việc liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai. Một điểm cần lưu ý: sinh viên cần sử dụng các công cụ AI một cách có trách nhiệm, kiểm chứng tính xác thực và tính chính xác của dữ liệu được cung cấp. Thêm nữa, sinh viên cần kết hợp tư duy sáng tạo để phân tích và giải quyết vấn đề theo cách tiếp cận và hướng giải quyết riêng của mình.

Thứ ba, trong quá trình học tập tại trường, sinh viên nên tích cực tìm hiểu để có định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Từ đó, sinh viên nên tận dụng thời gian để tập trung học tập tốt, trang bị các chứng chỉ nghề nghiệp cần thiết và cập nhật để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cũng như các kỹ năng bổ trợ cho bản thân. Hiện nay, trong thời đại số, có rất nhiều website và ứng dụng cung cấp các khóa học hữu ích, miễn phí hoặc có phí hợp lý về chuyên môn và nghiệp vụ.

5. Kết luận

Thông qua khảo sát và phân tích dữ liệu, các yếu tố này đều ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả học tập và làm việc của sinh viên. Trong đó, khả năng hợp tác trong môi trường số có ảnh hưởng lớn nhất. Điều này cho thấy sinh viên có thể trao đổi, chia sẻ và ứng xử phù hợp trong môi trường tương tác số như học trực tuyến. Khả năng khai thác thiết bị công nghệ ảnh hưởng thứ hai đến hiệu quả học tập và làm việc, cho thấy sinh viên có thể sử dụng tốt các thiết bị kết nối Internet và khai thác hiệu quả các học liệu số. Yếu tố phát triển kỹ năng số phản ánh nhận thức của sinh viên về sự cần thiết phải không ngừng nâng cao kỹ năng số để tiếp thu tri thức mới. Năng lực quản lý thông tin và Khai thác nội dung số có tác động ít nhất đến hiệu quả học tập và làm việc của sinh viên cho thấy sinh viên vẫn có tâm lý khai thác nội dung số phục vụ cho mục đích tức thời và ngắn hạn do yêu cầu của các môn học, chưa có kế hoạch trang bị kiến thức chuyên nghiệp để có thể sáng tạo nội dung số cho mục đích lâu dài.

Tài liệu tham khảo:
Bond, M., Marín, V. I., Dolch, C., Bedenlier, S., & Zawacki-Richter, O. (2018). Digital transformation in German higher education: Student and teacher perceptions and usage of digital media. International Journal of Educational Technology in Higher Education, 15, Article 48. https://doi.org/10.1186/s41239-018-0130-1
Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Quyết định số 1970/QĐ-BTTTT ngày 13/12/2021 phê duyệt Đề án xác định Chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số của doanh nghiệp và hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số.
Bộ Thông tin và Truyền thông. (2022). Quyết định số 922/QĐ-BTTTT ngày 20/5/2022 phê duyệt Đề án “Xác định Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của quốc gia”.
Cote, T. J., & Milliner, B. (2017). Preparing Japanese students’ digital literacy for study abroad: Is more training needed? The JALT CALL Journal, 13(3), 187–197. https://doi.org/10.29140/jaltcall.v13n3.218
Ferrari, A. (2013). DIGCOMP: A framework for developing and understanding digital competence in Europe (EUR 26035). Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2788/52966
Helsper, E. J. (2021). The digital disconnect: The social causes and consequences of digital inequalities. SAGE.
Jashari, X., Fetaji, B., Nussbaumer, A., & Gütl, C. (2021). Assessing digital skills and competencies for different groups and devising a conceptual model to support teaching and training. In M. E. Auer and D. May (Eds.), Cross reality and data science in engineering: Proceedings of the 17th International Conference on Remote Engineering and Virtual Instrumentation (pp. 982–995). Springer. https://doi.org/10.1007/978-3-030-52575-0_82
Law, N., Woo, D., de la Torre, J., & Wong, G. (2018). A global framework of reference on digital literacy skills for indicator 4.4.2. UNESCO Institute for Statistics. https://www.uis.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2025/08/ip51-global-framework-reference-digital-literacy-skills-2018-en.pdf
Mai, A. T., Huỳnh, N. T., & Ngô, A. T. (2021). Khung năng lực số cho sinh viên đại học: Từ các công bố gợi mở hướng tiếp cận cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục Kỹ thuật, 66, 101–111. https://doi.org/10.54644/jte.66.2021.1072
Phạm, H. G. (2020). Chuyển đổi số: Bản chất, thực tiễn và ứng dụng. Tạp chí Dầu khí, 12, 12–16. https://doi.org/10.47800/PVJ.2020.12-02
Siebel, T. M. (2019). Chuyển đổi số (P. A. Tuấn, dịch). Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Trần, Đ. B., & Bùi, Đ. T. (2024). Phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số trong quá trình chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển, 3(2), 1–9. https://doi.org/10.58902/tcnckhpt.v3i2.140
Trần, Đ. H., & Đỗ, V. H. (2021). Khung năng lực số cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (1), 12–21. https://vjol.info.vn/Tapchi_ThongtinvaTulieu/vi/article/view/58291
Trần, T. T. H., & Nguyễn, K. Q. (2022). Năng lực kĩ thuật số của nhà giáo dục: Khái niệm liên quan và các bộ công cụ đánh giá. Tạp chí Giáo dục, 22(16), 24–28.