Ngoại giao kiến tạo phát triển – yêu cầu mới đối với đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Development-enabling diplomacy: new imperatives for Vietnam’s external relations in the new era

Nguyễn Thị Xuân Hòa
Đại học Công nghiệp Hà Nội
Email: Nguyenthixuanhoa1408@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đặt ra đòi hỏi mới đối với đối ngoại Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW xác định đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, phát huy vai trò tiên phong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và mở không gian phát triển mới. Bài viết làm rõ nội hàm “ngoại giao kiến tạo phát triển”, chuyển từ bảo vệ sang chủ động kiến tạo năng lực phát triển; chỉ ra các yêu cầu về nghiên cứu dự báo, hiệu quả quan hệ, ngoại giao kinh tế, định hình luật chơi quốc tế, phối hợp tổng hợp và quản trị kết quả. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đối ngoại, chuyển hóa quan hệ quốc tế thành năng lực phát triển thực chất của đất nước.

Từ khóa: Đối ngoại Việt Nam; ngoại giao kiến tạo phát triển; lợi ích quốc gia – dân tộc; hội nhập quốc tế; Đại hội XIV của Đảng.

Abstract: In the context of a complex global landscape and the imperative for rapid yet sustainable development, new demands are placed upon Vietnam’s foreign affairs. The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam and Resolution No. 06-NQ/TW identify foreign affairs as a critical and permanent mission, emphasizing its pioneering role in safeguarding the Fatherland through early action and from afar while opening up new spaces for development. This article clarifies the conceptual content of “development-enabling diplomacy,” marking a shift from protection to proactively building development capacity. It further identifies key requirements concerning research and forecasting, the effectiveness of relations, economic diplomacy, the shaping of international rules, comprehensive coordination, and results-based governance. On this basis, the article proposes solutions to enhance the effectiveness of foreign affairs and to transform international relations into substantive national development capacity.

Keywords: Vietnam’s foreign affairs; development-enabling diplomacy; national interests; international integration; 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới, đối ngoại Việt Nam luôn gắn với yêu cầu bảo vệ và phát triển đất nước. Từ chủ trương phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại đến chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với sự vận động của tình hình thế giới và yêu cầu phát triển của đất nước. Những thành tựu đối ngoại đạt được trong 40 năm Đổi mới đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ với các nước và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu đối với đối ngoại có sự phát triển mới cả về vị trí, chức năng và phương thức hoạt động. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại, phát huy vai trò của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Đặc biệt, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị  về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển đáng chú ý trong tư duy đối ngoại. Nghị quyết xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”; nhấn mạnh tự chủ chiến lược, tự cường, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời, đặt yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi, mở ra không gian phát triển mới và nâng cao vị thế quốc gia (Bộ Chính trị, 2026).

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, diễn ra từ ngày 01/8 – 07/8/2026 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong và thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới” tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu đó. Hội nghị đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; nâng cao hiệu quả các mối quan hệ; đưa ngoại giao phục vụ phát triển đi vào chiều sâu; nâng tầm đối ngoại đa phương và hội nhập quốc tế; đổi mới cơ chế phối hợp, kiểm tra, tổ chức thực hiện và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại đáp ứng yêu cầu mới (Bộ Ngoại giao, 07/8/2026).

Những định hướng trên cho thấy, cùng với chức năng bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc và giữ vững môi trường hòa bình, đối ngoại đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ phát triển” sang tư duy kiến tạo năng lực và không gian phát triển. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách diễn đạt mà là sự phát triển về chất trong nhận thức và tổ chức thực hiện đường lối đối ngoại. Ngoại giao kiến tạo phát triển phải trở thành một phương thức quan trọng để kết nối Việt Nam với các dòng chảy lớn của thế giới, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài; đồng thời, nâng cao nội lực, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh quốc gia.

2. Từ ngoại giao bảo vệ không gian phát triển đến ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển

Một trong những điểm đáng chú ý của tư duy đối ngoại hiện nay là sự chuyển dịch từ mục tiêu chủ yếu là bảo vệ không gian phát triển sang chủ động kiến tạo không gian, điều kiện và năng lực phát triển. Hai chức năng này không tách rời mà bổ sung, thống nhất với nhau. Không có môi trường hòa bình, ổn định thì không thể phát triển; nhưng trong điều kiện cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, chỉ duy trì môi trường thuận lợi thôi chưa đủ. Đối ngoại phải chủ động tạo ra những cơ hội, kết nối và điều kiện mới để đất nước nâng cao năng lực phát triển. Nghị quyết số 06-NQ/TW đã thể hiện rõ bước phát triển này khi nhấn mạnh đối ngoại phải góp phần mở rộng không gian phát triển mới cho đất nước, điều này đặt ra yêu cầu nhận thức lại một số phương diện của hoạt động đối ngoại.

Thứ nhất, đối ngoại phải gắn với các mục tiêu phát triển đất nước. Hiệu quả đối ngoại không chỉ được thể hiện ở số lượng và cấp độ các chuyến thăm, cuộc gặp, văn kiện được ký kết hay phạm vi quan hệ được mở rộng mà ngày càng phải được đánh giá bằng khả năng tạo ra giá trị mới cho phát triển. Một thỏa thuận quốc tế chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành chương trình hợp tác, dự án, dòng vốn, công nghệ, thị trường, tri thức, nhân lực, tiêu chuẩn hoặc những điều kiện thuận lợi khác phục vụ trực tiếp cho phát triển.

Thứ hai, đối ngoại phải tham gia sâu hơn vào quá trình hình thành các không gian phát triển mới. Trong bối cảnh kinh tế số, chuyển đổi xanh, AI, công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng mới và các chuỗi cung ứng toàn cầu đang định hình lại cấu trúc kinh tế thế giới, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra ở thị trường truyền thống mà còn ở công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu, nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nếu đối ngoại chỉ dừng ở mở rộng quan hệ mà không tham gia sớm vào quá trình hình thành các mạng lưới, chuẩn mực và chuỗi giá trị mới, khả năng tận dụng cơ hội phát triển sẽ bị hạn chế.

Thứ ba, ngoại giao phải góp phần nâng cao nội lực. Kiến tạo phát triển không đồng nghĩa với phụ thuộc vào ngoại lực. Ngược lại, ngoại lực chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng nội lực đủ mạnh. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã xác định rõ nội lực có vai trò quyết định; đồng thời, yêu cầu tranh thủ hiệu quả ngoại lực; chuyển từ tâm thế tiếp nhận, tham gia sang chủ động đóng góp, xây dựng và định hình. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW cũng đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác, đồng thời nâng cao năng lực thực thi các cam kết quốc tế (Bộ Chính trị, 2025).

Như vậy, ngoại giao kiến tạo phát triển phải tạo được vòng liên kết: mở rộng quan hệ – tạo cơ hội – thu hút nguồn lực – chuyển giao tri thức, công nghệ – nâng cao năng lực nội sinh – tạo ra giá trị mới – tiếp tục nâng cao vị thế quốc gia. Nếu thiếu một trong các khâu này, hoạt động đối ngoại khó chuyển hóa đầy đủ thành động lực phát triển.

3. Những yêu cầu đặt ra đối với ngoại giao kiến tạo phát triển

Một là, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược

Trong môi trường quốc tế biến động nhanh, độ trễ của thông tin và chính sách có thể làm gia tăng chi phí cơ hội đối với phát triển. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, điều chỉnh chuỗi cung ứng, biến động thương mại, chuyển đổi năng lượng, các vấn đề an ninh phi truyền thống, công nghệ mới và những thay đổi của cấu trúc kinh tế thế giới đang tác động trực tiếp đến không gian phát triển của Việt Nam. Vì vậy, ngoại giao kiến tạo phát triển trước hết phải bắt đầu từ năng lực nhận diện cơ hội và rủi ro. Công tác nghiên cứu, dự báo không thể chỉ cung cấp thông tin về tình hình bên ngoài mà phải trả lời được những câu hỏi có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạch định chính sách: xu hướng nào tạo ra cơ hội cho Việt Nam; lĩnh vực nào cần chủ động tham gia; đối tác nào có khả năng bổ sung cho lợi thế của Việt Nam; những rủi ro nào có thể ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, năng lượng, công nghệ và chuỗi cung ứng; cần chuẩn bị chính sách gì để chuyển thách thức thành cơ hội?

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 xác định nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm. Đây là yêu cầu có tính nền tảng, bởi nếu dự báo không đi trước thì đối ngoại khó có thể giữ vai trò tiên phong. Cùng với đó, cần hình thành năng lực phân tích liên ngành, kết nối dữ liệu đối ngoại với dữ liệu kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và địa phương. Ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và các công cụ phân tích hiện đại cần được coi là phương tiện nâng cao chất lượng tham mưu, thay vì chỉ dừng ở số hóa quy trình hành chính (Bộ Ngoại giao, 07/8/2026).

Hai là, chuyển trọng tâm từ mở rộng quan hệ sang nâng cao hiệu quả quan hệ.

Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới và tham gia ngày càng sâu rộng vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế. Trong điều kiện đó, dư địa phát triển không còn chủ yếu nằm ở “mở rộng thêm quan hệ” mà ngày càng nằm ở làm sâu sắc và nâng cao chất lượng các quan hệ hiện có. Mỗi quan hệ cần được nhìn nhận theo lợi ích chiến lược và khả năng bổ trợ lẫn nhau. Với từng đối tác, cần xác định rõ những lĩnh vực có thể tạo ra đột phá: thương mại, đầu tư, công nghệ, đào tạo nhân lực, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lượng, logistics, giáo dục, y tế, văn hóa hoặc hợp tác địa phương.

Tư duy này đòi hỏi chuyển từ ngoại giao “theo sự kiện” sang ngoại giao “theo chương trình”; từ quan hệ được xác lập trên giấy tờ sang quan hệ được tổ chức thực hiện bằng các dự án, cơ chế hợp tác và sản phẩm cụ thể. Đây cũng là yêu cầu được nhấn mạnh tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33: nâng cao hiệu quả các mối quan hệ, đưa ngoại giao phục vụ phát triển đi vào chiều sâu và lấy hiệu quả thực chất làm trọng tâm.

Ba là, đưa ngoại giao kinh tế trở thành một cấu phần trực tiếp của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ngoại giao kinh tế trong giai đoạn mới không nên được hiểu đơn thuần là xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư hay hỗ trợ doanh nghiệp ra nước ngoài. Yêu cầu cao hơn là tham gia kiến tạo hệ sinh thái kinh tế đối ngoại, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cùng tham gia. Việt Nam cần tận dụng tốt hơn mạng lưới quan hệ và các hiệp định thương mại để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hình thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường cho sản phẩm Việt Nam. Trong điều kiện kinh tế thế giới biến động, ngoại giao kinh tế còn phải góp phần đa dạng hóa thị trường, đối tác và chuỗi cung ứng; giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường hoặc nguồn cung; tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Thực tiễn hợp tác ASEAN năm 2026 cho thấy, xu hướng này ngày càng rõ. Tại Hội nghị Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN lần thứ 27, các nước nhấn mạnh xây dựng khả năng chống chịu dài hạn trước các cú sốc bên ngoài; đồng thời thúc đẩy các sáng kiến về kinh tế số và thương mại. Việt Nam khẳng định sẵn sàng phối hợp với các nước ASEAN để biến các cam kết chung thành hành động thiết thực (Bộ Công thương, 08/5/2026).

Bốn là, chủ động tham gia và góp phần định hình luật chơi quốc tế.

Một quốc gia có vị thế ngày càng cao không thể chỉ là bên thích ứng với các quy tắc được hình thành bởi các chủ thể khác. Năng lực đối ngoại phải từng bước chuyển sang tham gia xây dựng chuẩn mực, sáng kiến và luật chơi phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những lĩnh vực đang hình thành chuẩn mực mới, như: AI, kinh tế số, thương mại số, chuyển đổi xanh, năng lượng, an ninh mạng, dữ liệu, công nghệ mới và phát triển bền vững.

Để làm được điều này, Việt Nam cần phát huy đồng thời năng lực chính trị, pháp lý, khoa học – công nghệ, kinh tế và ngoại giao. Các nhà ngoại giao cần có khả năng hiểu sâu các vấn đề chuyên ngành; trong khi các chuyên gia, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu cần được tham gia sớm hơn vào quá trình xây dựng chính sách đối ngoại và đàm phán quốc tế.

Năm APEC Việt Nam 2027 là một cơ hội quan trọng để thực hiện yêu cầu này. Công tác chuẩn bị hiện đang được đẩy nhanh; Bộ Ngoại giao xác định đây là một trong những nhiệm vụ đối ngoại đa phương quan trọng, gắn với quảng bá hình ảnh đất nước, phát huy vai trò và vị thế quốc gia và phục vụ các mục tiêu phát triển, hội nhập quốc tế. Nếu được chuẩn bị tốt, APEC 2027 không chỉ là một sự kiện ngoại giao lớn mà còn có thể trở thành không gian thử nghiệm năng lực kiến tạo sáng kiến của Việt Nam, nhất là trong những vấn đề gắn với chuyển đổi số, khoa học – công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và củng cố chủ nghĩa đa phương (Bộ Ngoại giao, 14/8/2026).

Năm là, tăng cường phối hợp, tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao toàn diện.

Một trong những yêu cầu nổi bật của đường lối đối ngoại hiện nay là phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết số 06-NQ/TW xác định đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa Trung ương với địa phương, doanh nghiệp và người dân. Điểm cần nhấn mạnh là phối hợp phải được chuyển từ phối hợp theo vụ việc sang phối hợp có thể chế, có quy trình và có trách nhiệm cụ thể.

Đối ngoại cấp cao cần tạo định hướng và mở đường; các bộ, ngành phải cụ thể hóa thành chương trình; địa phương phải chủ động triển khai; doanh nghiệp phải là chủ thể thực hiện; cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải hỗ trợ kết nối; các cơ sở nghiên cứu và đào tạo phải cung cấp tri thức, chuyên gia và nguồn nhân lực. Thực tiễn Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 cho thấy yêu cầu này đang được cụ thể hóa. Hội nghị đã tổ chức phiên họp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao, thể hiện yêu cầu kết hợp chặt chẽ đối ngoại, quốc phòng và an ninh trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Sáu là, chuyển mạnh sang quản trị thực thi và đo lường kết quả đối ngoại.

Đây có thể xem là một trong những khâu quyết định để ngoại giao kiến tạo phát triển không trở thành một khẩu hiệu.

Một chủ trương tốt nếu thiếu cơ chế thực thi sẽ khó tạo ra kết quả. Vì vậy, sau mỗi chuyến thăm, mỗi thỏa thuận, mỗi sáng kiến hoặc cam kết quốc tế cần xác định rõ: việc gì phải làm, cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp, nguồn lực nào được sử dụng, thời hạn nào phải hoàn thành và kết quả nào cần đạt được.

Tinh thần này đã được nhấn mạnh trong quá trình triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW, với yêu cầu lấy kết quả cụ thể, tính thực tế và thực chất làm thước đo hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Đáng chú ý, Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế đến năm 2035 phải theo hướng “chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển”. Chương trình yêu cầu các chương trình, kế hoạch thực hiện phải cụ thể hóa mục tiêu thành chỉ tiêu, thứ tự ưu tiên, tiến độ, phân bổ nguồn lực, sản phẩm đầu ra và gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới phương thức quản trị hoạt động đối ngoại theo hướng quản trị bằng mục tiêu, sản phẩm và kết quả, thay cho cách đánh giá nặng về hoạt động đầu vào.

4. Kết luận

Ngoại giao kiến tạo phát triển là bước phát triển phù hợp của tư duy đối ngoại Việt Nam trong điều kiện mới. Từ chỗ chủ yếu tạo dựng và bảo vệ không gian hòa bình, ổn định cho phát triển, đối ngoại ngày càng phải trực tiếp tham gia kiến tạo không gian, nguồn lực, thị trường, công nghệ, tri thức và các điều kiện quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước. Đây không phải là sự thay đổi mục tiêu của đối ngoại, mà là sự phát triển về phương thức thực hiện lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh mới.

Vấn đề đặt ra hiện nay không còn chỉ là Việt Nam có bao nhiêu quan hệ đối tác, tham gia bao nhiêu cơ chế hay ký kết bao nhiêu thỏa thuận, mà quan trọng hơn là có thể chuyển hóa những quan hệ, cam kết và nguồn lực đó thành bao nhiêu năng lực phát triển mới cho đất nước. Vì vậy, thước đo ngày càng quan trọng của đối ngoại phải là mức độ đóng góp vào giữ vững môi trường hòa bình, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện đời sống Nhân dân. Trong quá trình đó, tự chủ chiến lược và tự cường phải là nền tảng; lợi ích quốc gia – dân tộc phải là nguyên tắc cao nhất; phát triển đất nước phải là mục tiêu xuyên suốt; hiệu quả thực chất phải là thước đo; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị phải là điều kiện bảo đảm. Khi những yếu tố đó được kết nối đồng bộ, đối ngoại không chỉ “đi cùng” quá trình phát triển mà thực sự trở thành một phương thức quan trọng để kiến tạo năng lực phát triển quốc gia, góp phần đưa Việt Nam chủ động hơn trong định hình môi trường quốc tế, nâng cao vị thế và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, 2035 và năm 2045.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Bộ Công Thương (08/5/2026). Hội nghị Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN lần thứ 27. https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoi-nghi-hoi-dong-cong-dong-kinh-te-asean-lan-thu-27.html
Bộ Ngoại giao (07/8/2026). Bế mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. https://web.mofa.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/be-mac-hoi-nghi-ngoai-giao-lan-thu-33-61420-1073.html
Bộ Ngoại giao (14/8/2026). Rà soát, đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị Năm APEC Việt Nam 2027. https://vnembassy-colombo.mofa.gov.vn/vi/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/ra-soat-day-nhanh-tien-do-chuan-bi-nam-apec-viet-nam-2027-61536-140.html
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.