Hoàn thiện phân cấp mạng lưới chợ dân sinh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Nghệ An

Improving the decentralization of management of the traditional market network under the two-tier local government model in Nghe An Province

Phan Đức Thịnh
Sở Công thương Nghệ An
Email: phanducthinh.0501@gmail.com
Hồ Mỹ Hạnh
Trường Đại học Vinh
Email: hanhhm@vinhuni.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Quản lý mạng lưới chợ dân sinh là một nội dung cốt lõi của kết cấu hạ tầng thương mại truyền thống, gắn liền với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, an toàn thực phẩm, trật tự đô thị và thúc đẩy kinh tế – xã hội địa phương. Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vấn đề phân định thẩm quyền quản lý tài sản kết cấu hạ tầng chợ, tổ chức khai thác kinh doanh và xử lý chợ tự phát đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Bài viết phân tích những đổi mới về thể chế, chỉ ra cơ hội và thách thức trong việc thực hiện phân cấp quản lý chợ, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và phát triển mạng lưới chợ dân sinh bền vững tại tỉnh Nghệ An.

Từ khóa: Quản lý; chợ dân sinh; chính quyền địa phương; phân cấp.

Abstract: The management of traditional markets constitutes a core component of traditional commercial infrastructure and is closely associated with the objectives of ensuring social welfare, food safety, urban order, and local socio-economic development. In the context of state administrative apparatus reform under the two-tier local government model, new requirements have emerged regarding the delineation of authority over market infrastructure assets, the organization of market operations and commercial activities, and the handling of spontaneously established markets. This article analyzes institutional reforms, identifies the opportunities and challenges arising from the decentralization of market management, and proposes solutions to enhance governance effectiveness and efficiency and promote the sustainable development of the traditional market network in Nghe An Province.

Keywords: Management; traditional markets; local government; decentralization.

1. Đặt vấn đề

Chợ dân sinh giữ một vị trí đặc thù trong hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam. Dù mạng lưới bán lẻ hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi và các sàn thương mại điện tử) phát triển nhanh chóng, chợ dân sinh vẫn là mắt xích cung ứng nông sản, thực phẩm tươi sống và hàng tiêu dùng thiết yếu rộng khắp, gắn với đời sống thường nhật và bảo đảm nguồn sinh kế căn bản cho hàng triệu tiểu thương, hộ kinh doanh cá thể.

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, công tác quản lý và đầu tư mạng lưới chợ chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, như: Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ và Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP (Chính phủ, 2003; Chính phủ, 2009) đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cơ chế: quy định nguồn vốn hạn chế (ngân sách nhà nước khó bố trí trực tiếp cho chợ dân sinh), tài sản kết cấu hạ tầng chợ do Nhà nước đầu tư chưa được quy chế hóa đồng bộ theo pháp luật về tài sản công và cơ chế chuyển đổi mô hình quản lý còn nhiều lúng túng, chậm trễ.

Để tháo gỡ các rào cản này, ngày 05/6/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2024/NĐ-CP về phát triển và quản lý chợ, tạo bước đột phá trong quản lý tài sản hạ tầng chợ và phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương (Chính phủ, 2024). Cùng với tiến trình tinh gọn bộ máy và phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, các địa phương đã khẩn trương thể chế hóa các quy định trung ương. Điển hình, Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND ngày 25/5/2026 của UBND tỉnh Nghệ An đã cụ thể hóa mô hình phân cấp toàn diện cho chính quyền cấp cơ sở trong quản lý chợ (UBND tỉnh Nghệ An, 2026). Do vậy, việc nghiên cứu, luận giải mối quan hệ giữa các quy định của Nghị định 60/2024/NĐ-CP và thực tiễn triển khai phân cấp tại địa phương theo Quyết định 29/2026/QĐ-UBND có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với yêu cầu hoàn thiện quản trị công hiện nay.

2. Thực trạng chợ dân sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

2.1. Về số lượng, quy mô, ngành, nghề hoạt động

Nghị định số 60/2024/NĐ-CP đánh dấu sự chuyển đổi tư duy lập pháp từ quản lý hành chính sự nghiệp sang quản trị tài sản công kết hợp cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xác lập chuẩn hóa khái niệm và tiêu chí phân loại chợ: theo đó “chợ dân sinh” là loại hình phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu thường nhật của người dân; chợ được phân loại theo nguồn vốn (ngân sách và ngoài ngân sách) và quy mô số lượng điểm kinh doanh (Hạng 1: trên 400 điểm, Hạng 2: từ 200 – 400 điểm, Hạng 3: dưới 200 điểm).

Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An có 371 chợ dân sinh đang hoạt động, gồm: 5 chợ hạng I, 18 chợ hạng II, còn lại là các chợ hạng III và chợ chưa được xếp hạng. Các ngành hàng kinh doanh chính tại chợ là thực phẩm tươi sống, tạp hóa, nông sản khô và sơ chế, sản phẩm của hộ sản xuất nhỏ… Những ngành hàng này chiếm hơn 80% tổng số hộ kinh doanh (mức chung của cả nước là 70 – 80%). Trong đó, hàng thực phẩm tươi sống có số hộ kinh doanh lớn nhất, chiếm 47,6% (mức chung của cả nước là 35 – 40%), tiếp theo là sản phẩm của hộ sản xuất nhỏ chiếm 13,7%, tạp hóa chiếm 7,52%… Tổng số hộ kinh doanh trong chợ trên địa bàn tỉnh khoảng 73.000 hộ, trong đó có 26.320 hộ kinh doanh cố định, thu hút khoảng 81.000 lao động với thu nhập bình quân từ 5 – 8 triệu đồng/tháng (UBND tỉnh Nghệ An, 2025).

Chợ đầu mối nông sản Nghệ An được khởi công đầu tư xây dựng năm 2004 tại xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc là một trong 4 chợ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 31/5/2004 về Chương trình phát triển chợ đến năm 2010 với mục tiêu đầu tư để làm đầu mối giao dịch thu mua nông sản hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh, hình thành hệ thống kho bảo quản, chế biến phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa có hiệu quả (Thủ tướng Chính phủ, 2004). Tuy nhiên, đến nay chợ đầu mối không phát huy được hiệu quả, cơ sở vật chất đã xuống cấp và chủ yếu chỉ thực hiện dịch vụ cho thuê kho bãi bảo quản hàng hóa.

2.2. Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường

Phần lớn các chợ được xây dựng trên đất công, một số ít là đất của doanh nghiệp/hợp tác xã đầu tư để làm chợ. Các chợ chủ yếu tồn tại trước thời điểm Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ, diện tích các điểm kinh doanh chỉ đạt trung bình từ 2 – 2,5m2 (chưa đạt theo chuẩn quy định hiện nay là 3m2); không có kho chứa hàng riêng mà tận dụng các điểm kinh doanh làm kho chứa hàng. Nhiều chợ thu hút đầu tư có quy mô khá lớn, hiện đại đáp ứng các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường, như: Khu thương mại dịch vụ kết hợp chợ truyền thống Đô Lương, chợ Kim Sơn – Quế Phong, chợ Hoàng Mai, chợ Tân Kỳ… Bên cạnh đó, có đến 133 chợ bán kiên cố và 84 chợ là các chợ có cơ sở vật chất tạm bợ.

Về công tác phòng cháy, chữa cháy: một số chợ đầu tư xây mới, nâng cấp cải tạo có lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy, còn lại các chợ khác hầu như chỉ trang bị các thiết bị phòng cháy, chữa cháy như: bình chữa cháy, búa… Các chợ thường xuyên tuyên truyền pháp luật phòng cháy, chữa cháy đối với Ban Quản lý và các tiểu thương buôn bán, kinh doanh tại chợ… Nhìn chung, công tác phòng cháy, chữa cháy ở các chợ tương đối tốt, tuy nhiên còn có một số tồn tại như: thương nhân để hàng hóa chắn lối đi, vách ngăn giữa các sạp bằng chất dễ cháy, hệ thống điện câu mắc phức tạp, khó bảo đảm an toàn, chợ không thông thoáng… (UBND tỉnh Nghệ An, 2025).

Về công tác vệ sinh môi trường: hầu hết các chợ không có nơi tập kết rác, các chợ chỉ hợp đồng với bên thu gom rác, đến thời gian quy định các tiểu thương sẽ đem rác ra để bên đơn vị thu gom rác tới gom rác đưa thẳng ra xe, có một số chợ chỉ có thùng rác lớn để chứa rác tạm thời không đáp ứng đủ lượng rác phát sinh nên vẫn còn tình trạng để rác thải bừa bãi gây mất mỹ quan, ảnh hưởng vệ sinh môi trường.

2.3. Về cơ chế quản lý tài sản kết cấu hạ tầng chợ

Từ năm 2024, một trong những thay đổi có ý nghĩa nền tảng là việc xác định hạ tầng chợ do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng chợ và được quản lý theo chế định quản lý tài sản công. Đất đai cùng các hạng mục kỹ thuật, kiến trúc của chợ thuộc phạm vi tài sản kết cấu hạ tầng chợ. Các tài sản này phải được thống kê, kế toán, theo dõi hao mòn, trích khấu hao và cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công theo quy định.

2.4. Về cơ chế khai thác tài sản kết cấu hạ tầng chợ

Tỉnh Nghệ An đã thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ và xã hội hóa trong thu hút đầu tư, đến nay, đã chuyển đổi, đầu tư mới 24 chợ do các doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện quản lý, khai thác và kinh doanh tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng, có lợi thế về thương mại.

Về đầu tư chợ từ nguồn ngân sách: tỉnh đã huy động các nguồn lực đầu tư gần 25 tỷ đồng để nâng cấp sửa chữa 9 chợ trong giai đoạn 2021 – 2024; đầu tư xây dựng mới 3 chợ với số tiền là 16,01 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2024 đã được Thủ tướng Chính phủ giao theo đề xuất của các địa phương (UBND tỉnh Nghệ An, 2025).

Từ khi Nghị định 60/2024/NĐ-CP có hiệu lực đã cho phép đa dạng hóa phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng chợ, gồm: (1) Trực tiếp khai thác; (2) Cho thuê quyền khai thác; (3) Chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác thông qua đấu giá công khai, minh bạch. Đồng thời, hỗ trợ nguồn lực đầu tư phát triển chợ, cho phép sử dụng vốn đầu tư công, ngân sách nhà nước để hỗ trợ đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, bảo trì hạ tầng chợ dân sinh, xóa bỏ hoàn toàn rào cản pháp lý ngăn cản việc bố trí vốn công cho chợ truyền thống.

3. Thực trạng phân cấp quản lý chợ dân sinh tại tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay

3.1. Mô hình phân cấp quản lý chợ dân sinh trước đây

Trước ngày 01/7/2025, công tác quản lý nhà nước về chợ dân sinh được phân theo từng cấp, cụ thể:

Cấp tỉnh (UBND cấp tỉnh, Sở Công Thương) chịu trách nhiệm ban hành cơ chế, chính sách đầu tư và quản lý chợ chung trong tỉnh, được phân cấp phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống chợ trên địa bàn, ra quyết định thành lập hoặc phân hạng đối với các chợ loại 1 trên địa bàn toàn tỉnh

Cấp huyện (UBND cấp huyện, phòng Kinh tế hoặc Công Thương) trực tiếp triển khai quy hoạch và quản lý các hoạt động chợ tại địa phương, ra quyết định thành lập, phân hạng hoặc quản lý đối với chợ loại 2 và một số chợ trên địa bàn.

Cấp xã: trực tiếp quản lý các chợ loại 3 (chợ dân sinh, chợ nông thôn) phục vụ dân cư tại xã, phường, giám sát hoạt động của các ban quản lý chợ hoặc các hộ kinh doanh trực tiếp tại cơ sở.

3.2. Sự thích ứng về phân cấp trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Nghệ An hiện nay

Khi tổ chức bộ máy chính quyền địa phương vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND đã xác định cơ quan chuyên môn quản lý tài sản chợ: cấp tỉnh là Sở Công Thương; cấp xã là phòng Kinh tế hoặc phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị. UBND cấp xã trực tiếp quản lý, quyết định điều chuyển tài sản kết cấu hạ tầng chợ trong phạm vi thẩm quyền và lưu trữ hồ sơ tài sản.

Trao quyền quản lý cho UBND xã, phường chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với toàn bộ các chợ trên địa bàn (bao gồm chợ hạng 1, hạng 2, hạng 3). Phạm vi quản lý bao quát từ đầu tư xây dựng, tổ chức và giám sát hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự, xử lý các vấn đề phát sinh đến tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo. UBND cấp xã trực tiếp rà soát, công bố quyết định phân hạng chợ. Sự thay đổi này thể hiện sự dịch chuyển đáng kể của trung tâm ra quyết định về cấp chính quyền gần dân hơn. UBND cấp xã được giao thẩm quyền định giá cụ thể “dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ” được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (Điều 4, chương II, quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An kèm theo Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND ngày 25/5/2026 của UBND tỉnh). Đồng thời, Ban chuyển đổi mô hình chợ cấp xã được thành lập do chủ tịch UBND cấp xã làm Trưởng ban, trực tiếp xây dựng, phê duyệt và tổ chức đấu giá chuyển đổi chợ sang mô hình doanh nghiệp/hợp tác xã. Đồng thời, quy định trách nhiệm người đứng đầu trong xử lý chợ tự phát, gắn trách nhiệm cá nhân trực tiếp cho chủ tịch UBND cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức xóa bỏ triệt để các điểm kinh doanh tự phát, lập phương án tái bố trí tiểu thương vào các chợ hợp quy hoạch.

Từ góc độ nghiên cứu quản lý kinh tế, những điều chỉnh về thẩm quyền quản lý chợ theo Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND phản ánh sự chuyển dịch mang tính cấu trúc trong mô hình quản trị công địa phương hai cấp. Sự thay đổi này được thể hiện rõ nét qua ba đặc trưng cốt lõi sau:
Thứ nhất, phân cấp theo địa bàn. Trước đây, việc quản lý các chợ quy mô lớn (hạng 1, hạng 2) thường phân tán hoặc tập trung ở các cấp hành chính cao hơn, dẫn đến độ trễ trong phản ứng chính sách. Việc trao toàn quyền QLNN cho UBND cấp xã đối với toàn bộ các chợ trên địa bàn bất kể hạng chợ đã xóa bỏ các tầng nấc trung gian. Chính quyền cơ sở là nơi nắm bắt cung – cầu hàng hóa, biến động giá cả, mối quan hệ giữa các tiểu thương và nhu cầu tiêu dùng thực tế của cư dân.

Tối ưu hóa chi phí giao dịch xã hội: việc cấp xã trực tiếp rà soát, công bố quyết định phân hạng chợ, tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo, cũng như giám sát an ninh trật tự và vệ sinh an toàn thực phẩm giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính. Tiểu thương và người dân không phải di chuyển lên các cơ quan cấp trên, từ đó, giảm đáng kể chi phí tuân thủ và chi phí thời gian cho các chủ thể tham gia thị trường.

Tạo lập môi trường kinh doanh thích ứng nhanh: chợ truyền thống là không gian kinh tế mang tính địa phương sâu sắc. Khi thẩm quyền ra quyết định thuộc cấp cơ sở, chính quyền có thể linh hoạt điều chỉnh quy chế hoạt động, phương án bố trí ngành hàng cho phù hợp với tập quán văn hóa và nhịp sống của cộng đồng địa phương, bảo đảm chợ thực hiện tốt chức năng lưu thông hàng hóa thiết yếu.

Thứ hai, phân cấp gắn với tài sản và nguồn lực. Phân cấp quản lý chỉ thực sự có hiệu lực khi đi kèm quyền hạn thực chất về tài sản công và công cụ điều tiết kinh tế. Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa chức năng hành chính và quyền quản trị nguồn lực:

Quy định phân định rõ cơ quan chuyên môn cấp xã (phòng Kinh tế hoặc phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị) trực tiếp quản lý, lưu trữ hồ sơ và quyết định điều chuyển tài sản kết cấu hạ tầng chợ trong phạm vi thẩm quyền. Cấp xã từ một đơn vị “chỉ thực thi theo lệnh” thành một chủ thể quản trị tài sản có trách nhiệm pháp lý độc lập, giúp ngăn ngừa tình trạng thất thoát, xuống cấp hạ tầng chợ do thiếu cơ chế giám sát tại chỗ. Việc trao quyền cho chủ tịch UBND cấp xã làm Trưởng Ban chuyển đổi mô hình chợ – trực tiếp lập phương án, phê duyệt và tổ chức đấu giá chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đã kích hoạt cơ chế hợp tác công – tư (PPP) ở cấp cơ sở. Cấp xã có động lực chủ động tìm kiếm nhà đầu tư, giảm bớt gánh nặng chi ngân sách nhà nước cho việc vận hành chợ; đồng thời, nâng cao hiệu quả khai thác tài sản thông qua mô hình quản trị kinh doanh hiện đại. Bên cạnh đó, việc trao công cụ điều tiết kinh tế thông qua định giá dịch vụ là bước tiến đột phá. Thay vì áp dụng khung giá cào bằng, cứng nhắc, cấp xã có thể cân đối giữa mục tiêu an sinh (tạo điều kiện cho hộ kinh doanh nhỏ lẻ) và mục tiêu bù đắp chi phí duy tu, bảo dưỡng hạ tầng. Mức giá dịch vụ phản ánh sát giá trị thực tế của vị trí kinh doanh và khả năng chi trả của tiểu thương tại từng địa bàn cụ thể.

Thứ ba, phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình. Cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu trong xử lý các điểm nghẽn kinh tế. Phân quyền mà thiếu trách nhiệm giải trình sẽ dễ dẫn đến nguy cơ buông lỏng hoặc lạm quyền. Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND giải quyết triệt để vấn đề “cha chung không ai khóc” bằng cách thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân cụ thể: quy định gắn trực tiếp trách nhiệm của chủ tịch UBND cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch và xóa bỏ các điểm kinh doanh tự phát (chợ cóc, chợ tạm). Điều này loại bỏ hoàn toàn sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan liên ngành, kết quả chấn chỉnh trật tự đô thị và kỷ cương thị trường thành một chỉ số đo lường hiệu quả công vụ (KPI) trực tiếp của người đứng đầu chính quyền cơ sở. Giao trách nhiệm của chủ tịch UBND cấp xã không chỉ dừng lại ở mệnh lệnh hành chính (dẹp bỏ, xử phạt) mà bắt buộc phải đi kèm với giải pháp quản lý kinh tế: lập phương án tái bố trí tiểu thương vào các chợ hợp quy hoạch. Đây là điểm cốt lõi của trách nhiệm giải trình toàn diện, vừa bảo đảm kỷ cương QLNN, vừa duy trì sinh kế cho người dân.

Việc phân cấp còn nâng cao tính minh bạch và áp lực thực thi. Khi người đứng đầu cấp xã chịu trách nhiệm toàn diện từ khâu điều hành, đấu giá chuyển đổi mô hình chợ đến dẹp bỏ chợ tự phát, mọi quyết định đều nằm dưới sự giám sát trực tiếp của cử tri, tiểu thương và Hội đồng nhân dân cùng cấp. Áp lực giải trình tại chỗ buộc người đứng đầu phải hành động công tâm, minh bạch trong định giá, lựa chọn nhà đầu tư và phân bổ vị trí kinh doanh, bảo đảm tính bền vững của môi trường thương mại địa phương.

3.3. Những thuận lợi và cơ hội mang lại

Thứ nhất, tinh giản quy trình, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính. Các vướng mắc tại cơ sở (sửa chữa, bảo trì khẩn cấp hạ tầng, giải quyết tranh chấp điểm kinh doanh, ban hành nội quy chợ) được UBND cấp xã xử lý trực tiếp, nhanh chóng, nâng cao tính nhạy bén chính sách.

Thứ hai, minh bạch hóa quản lý tài sản công: quy chế hóa tài sản kết cấu hạ tầng chợ giúp tài sản không bị buông lỏng hoặc khai thác theo cơ chế xin – cho. Việc kiểm kê, hạch toán khấu hao định kỳ buộc các bên liên quan tuân thủ kỷ luật tài chính, tối ưu hóa nguồn thu nộp về tài khoản tạm giữ Kho bạc Nhà nước.

Thứ ba, tạo hành lang an toàn thu hút đầu tư tư nhân: cơ chế cho thuê và chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản thông qua đấu giá công khai (thời hạn lên tới 50 năm theo Điều 25 Nghị định số 60/2024/NĐ-CP) tạo chỗ dựa pháp lý vững chắc, khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã mạnh dạn đầu tư nâng cấp chợ truyền thống.

3.4. Những điểm nghẽn và thách thức đặt ra

Một là, nghịch lý “trách nhiệm lớn – năng lực hạn chế” ở cấp xã. Trước đây, cấp xã chỉ quản lý chợ hạng 3 quy mô nhỏ. Đến nay, cấp xã phải quản lý cả chợ hạng 1, hạng 2 với quy mô hàng trăm tiểu thương cho thấy sự chênh lệch về quy mô quản trị. Bộ máy công chức cấp xã còn thiếu về biên chế và hạn chế kỹ năng chuyên môn sâu về định giá tài sản công, đấu thầu và quản lý trật tự kinh doanh thương mại. Số lượng biên chế công chức trực tiếp theo dõi mảng thương mại rất mỏng, thường chỉ 1 – 2 cán bộ kiêm nhiệm.

Bên cạnh sự thiếu hụt về số lượng nhân sự còn có sự thiếu hụt năng lực chuyên môn kỹ thuật: việc quản lý chợ hiện đại không dừng lại ở công tác kiểm tra hành chính đơn thuần mà đòi hỏi các kỹ năng chuyên sâu: xây dựng hồ sơ mời thầu, thẩm định năng lực tài chính của nhà đầu tư, định giá tài sản công, phân tích chi phí – doanh thu để xác định giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng và đàm phán hợp đồng chuyển giao. Đa số công chức cấp xã chưa được bồi dưỡng bài bản về các nghiệp vụ kinh tế – tài chính phức tạp này, dẫn đến tâm lý e dè, lúng túng, sợ sai phạm trong việc phê duyệt phương án và tổ chức đấu giá chuyển đổi mô hình chợ.

Hai là, khó khăn trong xác định nguyên giá và hạch toán tài sản chợ cũ. Nhiều chợ dân sinh hình thành tự phát từ lâu, hồ sơ xây dựng và địa chính thất lạc. Việc áp dụng Nghị định số 60/2024/NĐ-CP để định giá lại tài sản hoặc tính toán giá khởi điểm đấu giá là một rào cản kỹ thuật rất phức tạp đối với chính quyền cơ sở. Đại đa số các chợ dân sinh tại tỉnh Nghệ An có nguồn gốc hình thành từ lâu đời, qua nhiều thời kỳ lịch sử. Cơ sở vật chất của chợ thường chắp vá, nâng cấp dần qua nhiều đợt: một phần do ngân sách nhà nước đầu tư, một phần do tiểu thương tự nguyện đóng góp xây dựng quầy sạp, và một phần do các chương trình mục tiêu quốc gia tài trợ. Trải qua thời gian và sự thay đổi nhân sự quản lý qua các nhiệm kỳ, hồ sơ hoàn công, chứng từ quyết toán vốn đầu tư ban đầu, bản vẽ hiện trạng công trình và giấy tờ địa chính (mốc giới đất đai) bị thất lạc hoặc không đầy đủ.

Mặt khác, việc triển khai Nghị định số 60/2024/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đòi hỏi phải xác định rõ nguyên giá, giá trị còn lại và phân định rạch ròi giữa phần tài sản nhà nước quản lý với phần tài sản do tư nhân/hộ kinh doanh đầu tư. Với những chợ đã khấu hao hết nhưng vẫn đang khai thác, việc thuê đơn vị tư vấn thẩm định giá độc lập gặp trở ngại lớn do nguồn kinh phí địa phương eo hẹp, định mức chi trả dịch vụ tư vấn thấp và các tổ chức thẩm định giá cũng không muốn nhận việc do dữ liệu đầu vào không minh bạch.
Ba là, xung đột lợi ích. Hiện nay, quy định tại Nghị định 60/2024/NĐ-CP và Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND yêu cầu phải lấy ý kiến đồng thuận của tiểu thương trong 15 ngày làm việc. Tâm lý lo sợ tăng phí mặt bằng hoặc bị mất chỗ bán hàng sau chuyển đổi mô hình chợ dễ gây ra phản ứng tiêu cực, phát sinh nguy cơ khiếu kiện phức tạp. Khi chuyển từ mô hình “Ban quản lý chợ/tổ quản lý chợ” (mang tính bao cấp, giá dịch vụ thấp, thu mang tính tượng trưng) sang mô hình “doanh nghiệp/hợp tác xã quản lý” (vận hành theo cơ chế thị trường, tối ưu hóa lợi nhuận), tiểu thương luôn có tâm lý nghi ngờ, bất an. Họ lo ngại nhà đầu tư mới sẽ tăng giá thuê điểm kinh doanh, áp đặt các khoản phí dịch vụ phụ trợ (điện, nước, vệ sinh, trông giữ xe), hoặc phá vỡ các hợp đồng/cam kết thuê chỗ ngồi bán hàng dài hạn trước đây.

Bốn là, vấn nạn chợ cóc, chợ tạm tái lấn chiếm: mặc dù Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND quy định rõ thẩm quyền giải tỏa, song do thói quen tiện lợi của người dân và áp lực mưu sinh của lao động nghèo, chợ cóc, chợ tạm vẫn tồn tại. Thực tế chính quyền cấp xã và lực lượng công an, trật tự đô thị không thể duy trì lực lượng chốt trực 24/7 tại mọi ngã ba, vỉa hè hay cổng chợ. Sau mỗi đợt ra quân mở cao điểm rầm rộ, khi lực lượng chức năng rút đi, hiện tượng buôn bán tự phát lại bùng phát trở lại như cũ. Các biện pháp tịch thu tang vật, xử phạt vi phạm hành chính kém hiệu quả do mức phạt không đủ sức răn đe đối với những người mưu sinh ven ngưỡng nghèo. Việc này đã tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng: người bán vỉa hè chặn hết dòng khách vào chợ mà không phải chịu bất kỳ loại phí nào, khiến các tiểu thương chấp hành quy định, đóng tiền thuê chỗ trong chợ chính quy rơi vào cảnh ế ẩm dẫn đến phản ứng dây chuyền, tiểu thương bỏ quầy trong chợ để tràn ra lòng lề đường cạnh tranh, làm xói mòn nguồn thu dịch vụ chợ, khiến công tác xã hội hóa đầu tư chợ càng trở nên mất sức hút đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện quy chuẩn hướng dẫn liên ngành từ cấp tỉnh xuống cấp xã. Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan cần ban hành “Cẩm nang nghiệp vụ quản lý tài sản kết cấu hạ tầng chợ và quy trình chuyển đổi mô hình chợ”. Tài liệu phải được số hóa biểu mẫu, hướng dẫn cụ thể phương pháp lập đề án khai thác, thành lập Hội đồng xác định giá khởi điểm đấu giá theo Điều 26 Nghị định số 60/2024/NĐ-CP. Đồng thời, hình thành cơ chế “Tổ công tác chuyên trách liên ngành hỗ trợ cơ sở”. UBND tỉnh thành lập tổ công tác cấp tỉnh trực tiếp hỗ trợ, tham vấn chuyên môn cho UBND các xã, phường có các chợ hạng 1, hạng 2 trong quá trình lập phương án chuyển đổi mô hình và xử lý các vướng mắc pháp lý về đất đai, tài sản công.

Thứ hai, nâng cao năng lực bộ máy thực thi và ứng dụng chuyển đổi số. Nâng cao năng lực bộ máy thực thi và đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số đối với đội ngũ công chức cấp xã là giải pháp có ý nghĩa then chốt trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp xã. Sở Công Thương tỉnh Nghệ An tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ định kỳ cho đội ngũ công chức cấp xã về pháp luật tài sản công, đấu thầu, an toàn thực phẩm, phòng cháy, chữa cháy và quy tắc văn minh thương mại. Từ đó, đội ngũ công chức cấp xã có khả năng vận dụng quy định pháp luật vào xử lý các tình huống phát sinh cụ thể, nâng cao tính chủ động, thống nhất và hiệu quả trong quản lý chợ dân sinh.

Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng tổ chức, quản lý và khai thác chợ; quản lý ngành hàng, hộ kinh doanh và điểm kinh doanh; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường; kiểm tra việc chấp hành các quy định về giá, niêm yết giá và trật tự kinh doanh; đồng thời, nâng cao năng lực tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tiểu thương và người dân.

Đồng thời, cần xây dựng phần mềm quản lý chợ dân sinh liên thông từ cấp xã lên tỉnh, trong đó danh mục điểm kinh doanh, sơ đồ ngành hàng, dữ liệu hợp đồng thuê phải được số hóa vào dữ liệu; tích hợp dữ liệu tài sản kết cấu hạ tầng chợ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công (Điều 35 Nghị định số 60/2024/NĐ-CP). Song song với số hóa dữ liệu chợ, cần đẩy mạnh mô hình “Chợ 4.0 – Thanh toán không dùng tiền mặt” để minh bạch hóa dòng tiền giao dịch.

Thứ ba, đổi mới cơ chế tài chính, cân đối lợi ích an sinh và khuyến khích xã hội hóa. Đổi mới cơ chế tài chính trong quản lý chợ dân sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An cần được thực hiện theo hướng hài hòa giữa hiệu quả khai thác tài sản công, bảo đảm an sinh cho tiểu thương và tạo động lực thu hút nguồn lực xã hội. Theo đó, tỉnh Nghệ An cần triển khai thực hiện phân bổ nguồn thu từ khai thác tài sản chợ nộp vào tài khoản tạm giữ Kho bạc Nhà nước để ưu tiên tái đầu tư, bảo trì hạ tầng chợ. Ngân sách địa phương cần bố trí vốn mồi nâng cấp hệ thống xử lý rác, cấp thoát nước và cứu hỏa trước khi đưa ra đấu giá. Điều này thể hiện tính thực thi linh hoạt chính sách tái đầu tư ngân sách

Đồng thời, cần bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các tiểu thương trong quá trình cải tạo, xây dựng lại chợ, thực hiện nhất quán cơ chế bố trí chợ tạm và ưu tiên thuê lại điểm kinh doanh phù hợp với quy định hiện hành; việc xác định giá thuê, phí và giá dịch vụ chợ phải công khai, hợp lý, hạn chế phát sinh chi phí bất hợp lý. Cơ chế này vừa bảo đảm mục tiêu an sinh, vừa tạo môi trường minh bạch, ổn định để doanh nghiệp và các chủ thể xã hội tham gia đầu tư, quản lý và khai thác chợ dân sinh.

Thứ tư, giải quyết tụ điểm kinh doanh tự phát gắn với tổ chức không gian đô thị. Giải quyết căn cơ các tụ điểm kinh doanh tự phát cần được đặt trong tổng thể tổ chức không gian đô thị và quản lý sinh kế, chuyển từ phương thức xử lý mang tính hành chính, giải tỏa đơn thuần sang quy hoạch và bố trí không gian kinh doanh phù hợp với nhu cầu thực tế. Trên cơ sở khảo sát nhu cầu của người dân và đặc điểm hoạt động thương mại tại từng địa bàn, chính quyền cấp xã cần chủ động xác định, quy hoạch và bố trí các khu vực kinh doanh phù hợp, như: chợ dân sinh, chợ phiên, chợ đêm hoặc các điểm kinh doanh cộng đồng, bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân và kết nối với mạng lưới giao thông, dân cư. Căn cứ khoản 5 Điều 7 Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND, UBND cấp xã khi giải tỏa chợ cóc phải lập phương án khảo sát nhu cầu, bố trí địa điểm mới phù hợp cho người bán hàng rong vào các chợ dân sinh lân cận hoặc các khu vực quy hoạch chợ đêm, chợ phiên, chợ cộng đồng.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Nghệ An cần triển khai xây dựng cơ chế hỗ trợ chuyển đổi đối với các hộ kinh doanh tự phát, trong đó có thể áp dụng chính sách miễn, giảm tiền thuê điểm kinh doanh trong thời gian đầu tại các khu vực kinh doanh chính thức, hỗ trợ thủ tục và tạo điều kiện ổn định sinh kế. Áp dụng cơ chế miễn hoặc giảm giá thuê diện tích bán hàng trong 3 – 6 tháng đầu tiên tại chợ chính quy đối với các hộ buôn bán tự phát tự nguyện di dời, kết hợp với xử lý nghiêm các trường hợp cố tình tái phạm lấn chiếm lòng lề đường. Song song với các biện pháp khuyến khích, cần tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình tái lấn chiếm lòng đường, vỉa hè sau khi đã được tuyên truyền và bố trí phương án thay thế. Cách tiếp cận này góp phần hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm trật tự, mỹ quan đô thị với nhu cầu kinh doanh và sinh kế của người dân.

5. Kết luận

Phân cấp quản lý và phát triển mạng lưới chợ dân sinh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bước chuyển phù hợp với xu thế cải cách hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc ban hành Nghị định số 60/2024/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An đã xác lập hành lang pháp lý vững chắc, tháo gỡ nút thắt về vốn đầu tư công và cơ chế quản lý tài sản hạ tầng chợ ở tỉnh Nghệ An. Thành công của mô hình phân cấp phụ thuộc mật thiết vào việc giải quyết hài hòa giữa quyền hạn và năng lực thực thi của chính quyền cơ sở, giữa hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và an sinh xã hội cho tiểu thương. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện cẩm nang hướng dẫn chuyên môn, đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ số và thực hiện quy trình chuyển đổi dân chủ, minh bạch sẽ là chìa khóa để xây dựng mạng lưới chợ dân sinh an toàn, văn minh, hiện đại, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại địa phương.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Công Thương (2024). Báo cáo tổng kết thực tiễn và định hướng phát triển kết cấu hạ tầng thương mại truyền thống Việt Nam.
Chính phủ (2003). Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý chợ.
Chính phủ (2009). Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý chợ.
Chính phủ (2024). Nghị định số 60/2024/NĐ-CP ngày 05/6/2024 về phát triển và quản lý chợ.
Quốc hội (2023). Luật Đấu thầu năm 2023.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Sở Công Thương (2023, 2024, 2025). Báo cáo phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Thủ tướng Chính phủ (2004). Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 31/5/2004 về việc phê duyệt Chương trình phát triển chợ đến năm 2010.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025). Kế hoạch số 91/KH-UBND ngày 14/02/2025 về việc phát triển mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2026). Quyết định số 29/2026/QĐ-UBND ngày 25/5/2026 ban hành quy định về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An.