Nhận diện và tháo gỡ các điểm nghẽn trong hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước

TS. Lê Thị Tươi
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Hoàn thiện thể chế được xác định là một trong ba đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc nhận diện rõ và tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn thể chế là nội dung trọng tâm được đề cập trong Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng trước yêu cầu thực tiễn đặt ra trong công tác quản trị quốc gia hiện nay. Bài viết trên cơ sở chỉ ra các điểm nghẽn chủ yếu, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ khóa: Thể chế, điểm nghẽn thể chế, hoàn thiện thể chế, phát triển nhanh và bền vững.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, với thế và lực ngày càng vững mạnh, mở ra nhiều cơ hội phát triển to lớn song cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Để hiện thực hóa các mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội XIV của Đảng đề ra, yêu cầu cấp thiết là phải phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong đó, nhiệm vụ then chốt là nhận diện đầy đủ và tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở quá trình hoàn thiện thể chế – yếu tố được xem là “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn” trong phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, việc nhận diện rõ những hạn chế trong hệ thống thể chế và tìm ra giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn trở thành yêu cầu cấp bách để đáp ứng mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Việc hoàn thiện thể chế giữ vai trò nền tảng, tạo môi trường thuận lợi cho huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Do đó, xác định đúng các “nút thắt” và có biện pháp khắc phục hiệu quả là điều kiện quan trọng để đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn tới.

2. Thể chế và hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước

Khái niệm “thể chế” được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều góc độ, nhưng cốt lõi đều nhấn mạnh tới hệ thống các quy tắc, cơ chế và tổ chức điều hành xã hội. Chẳng hạn: “Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ, buộc mọi người phải tuân theo”1; “thể chế là tổng thể các quy tắc chính thức, các chuẩn mực phi chính thức và cơ chế thực thi những quy tắc và chuẩn mực đó, nhằm điều phối hành vi xã hội, duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển”2; “thể chế là hệ thống các quy tắc, luật pháp, cơ chế, chính sách và tổ chức thực thi nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước”3. Do đó, thể chế là bộ khung điều chỉnh hành vi và tổ chức hoạt động xã hội, nhằm đạt được các mục tiêu chung của quốc gia, bao gồm ổn định, hiệu quả, công bằng và phát triển bền vững.

Thể chế phát triển nhanh và bền vững là một tổng thể hữu cơ các thể chế phát triển thành phần, bao gồm thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế xã hội, thể chế môi trường sinh thái và các cơ chế quản lý, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và giữa nhà nước với các chủ thể xã hội; trong đó, thể chế chính trị giữ vai trò quyết định4, gồm ba thành tố chính: (1) Hệ thống pháp luật và quy định tạo hành lang pháp lý; (2) Tổ chức bộ máy và hoạt động của các chủ thể như Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và người dân; (3) Cơ chế vận hành, hình thành môi trường để các chủ thể hoạt động”.

Hoàn thiện thể chế xuất phát từ nhu cầu nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống thể chế hiện có, đồng thời điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Hoàn thiện thể chế được hiểu: “quá trình xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung và đổi mới các quy định, cơ chế, tổ chức và phương thức quản trị nhằm tạo ra một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch, hiệu lực và khả năng thích ứng cao”5. Hoàn thiện thể chế nhằm mục tiêu tạo ra một khung pháp lý và cơ chế vận hành linh hoạt, bảo đảm mọi hoạt động kinh tế – xã hội đều được thực hiện minh bạch, công bằng, hiệu quả. Vai trò của hoàn thiện thể chế đối với phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam thể hiện trong ba nội dung chính: (1) Bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và quản trị; (2) Tạo dựng niềm tin và ổn định xã hội; (3) Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững.

Vì vậy,  Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đặt nhiệm vụ: “xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước” là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong “ba đột phá chiến lược” nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Hoàn thiện thể chế đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước, bảo đảm xây dựng nền tảng pháp lý và cơ chế vận hành hiệu quả cho chính trị, kinh tế, xã hội, xác lập quyền, trách nhiệm và vai trò của các chủ thể, đặc biệt là Nhà nước. Đây chính là nền tảng để đất nước chuyển hóa lợi thế thành thực lực, từ đó hiện thực hóa mục tiêu trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

3. Nhận diện các điểm nghẽn trong công tác hoàn thiện thể chế ở Việt Nam hiện nay

(1) Chậm hoàn thiện thể chế phát triển đã trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Việc chậm hoàn thiện thể chế trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn” không chỉ làm hạn chế trực tiếp tốc độ và chất lượng phát triển mà còn gây ra các nút thắt trong các lĩnh vực khác, như: quản lý nhà nước, phát triển doanh nghiệp, an sinh xã hội, môi trường và hội nhập quốc tế. Khi thể chế chưa hoàn thiện, mọi chính sách, chiến lược hay dự án phát triển đều gặp rào cản, dẫn đến hiệu quả thấp, khó đạt mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, nhận diện và tháo gỡ “điểm nghẽn cốt lõi” là nhằm tăng nội lực, nâng cao khả năng điều tiết xã hội, ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển đồng bộ, bền vững đất nước.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Ở nhiều lĩnh vực trọng yếu, như: đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, quy định còn đan xen, thậm chí có nội dung trùng lặp hoặc chưa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong triển khai thực tế; hoặc còn tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư”, hoặc cùng một vấn đề nhưng mỗi ngành có hướng dẫn khác nhau. Tình trạng này không chỉ làm giảm hiệu lực của chính sách mà còn tạo ra tâm lý e dè, sợ sai, né tránh trách nhiệm trong đội ngũ công chức; đồng thời, làm giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với tính minh bạch và ổn định của pháp luật.

(2) Điểm nghẽn về phân cấp, phân quyền chưa thực sự gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.

Mặc dù chủ trương phân cấp, phân quyền đã được Đảng, Nhà nước xác định rõ trong nhiều nghị quyết, song trên thực tế, cơ chế thực hiện còn thiếu nhất quán. Một số lĩnh vực vẫn tập trung quá nhiều quyền hạn ở bộ, ngành trung ương, trong khi chính quyền địa phương, nơi trực tiếp thực hiện lại bị giới hạn thẩm quyền hoặc thiếu công cụ để thực thi. Ở chiều ngược lại, có những nội dung đã được phân cấp nhưng chưa rõ ràng về trách nhiệm, khiến “nhiều người cùng chịu trách nhiệm chung, nhưng không ai chịu trách nhiệm cụ thể”. Điều này dẫn đến tâm lý sợ rủi ro, không dám quyết, làm chậm tiến độ nhiều dự án, chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Nguyên nhân sâu xa là do chưa có cơ chế giám sát và đánh giá rõ ràng về hiệu quả phân cấp, cũng như thiếu chế tài gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây là “điểm nghẽn thể chế” đã được chỉ ra nhiều năm nhưng chưa được xử lý triệt để.

(3) Điểm nghẽn về tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, thiếu tính liên thông và phối hợp hiệu quả.

Công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy được triển khai quyết liệt, song ở nhiều nơi vẫn còn tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan; có việc do nhiều đơn vị cùng quản lý hoặc không rõ cơ quan chủ trì. Cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong một số lĩnh vực, như: quy hoạch, đầu tư hạ tầng, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường… còn lỏng lẻo, thiếu đầu mối điều phối thống nhất. Ngoài ra, trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, mô hình tổ chức hành chính vẫn nặng về thủ công, chưa bắt kịp yêu cầu quản trị hiện đại. Một số quy trình giải quyết công việc vẫn mang tính tuần tự, nhiều tầng nấc trung gian, dẫn đến lãng phí thời gian, chi phí và cơ hội phát triển.

Những điểm nghẽn trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phản ứng nhanh với thực tiễn; đồng thời, tăng cường liên thông, chia sẻ dữ liệu và thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

(4) Điểm nghẽn về năng lực và động lực làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế.

Một trong những vấn đề cốt lõi hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực khu vực công chưa đồng đều, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu mới về chuyển đổi số, quản trị hiện đại và hội nhập quốc tế. Nhiều cán bộ, công chức vẫn còn biểu hiện thiếu năng động, ngại đổi mới, sợ sai, sợ trách nhiệm, làm việc chủ yếu theo thói quen hành chính, chưa lấy kết quả và sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả. Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá, bổ nhiệm và đãi ngộ còn nặng về hình thức, bình quân, chưa thực sự khuyến khích người có năng lực, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm. Việc “sợ sai” đang trở thành rào cản tâm lý lớn, làm giảm tính chủ động và hiệu quả thực thi chính sách công.

Điểm nghẽn này xuất phát từ việc thiếu cơ chế bảo vệ cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng số và năng lực quản lý theo kết quả còn hạn chế. Nếu không tháo gỡ sớm, đây sẽ tiếp tục là trở lực lớn trong quá trình vận hành và đổi mới thể chế.

(5) Điểm nghẽn về cơ chế giám sát, phản hồi và đánh giá chính sách chưa phát huy hiệu quả.

Một điểm nghẽn khác là thiếu cơ chế giám sát, phản hồi và đánh giá độc lập về chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi thể chế. Phần lớn các hoạt động tổng kết, đánh giá chính sách hiện nay vẫn do chính cơ quan ban hành thực hiện nên chưa thật sự khách quan, toàn diện. Việc lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách còn hình thức, thiếu phản hồi hai chiều. Nhiều chính sách đã lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn, chậm được tổng kết, điều chỉnh, dẫn đến tình trạng “chính sách đúng nhưng hiệu quả thấp”.

Nguyên nhân chủ yếu của điểm nghẽn này là do chưa có cơ chế pháp lý bắt buộc về đánh giá chính sách định kỳ, thiếu các công cụ đo lường, giám sát hiệu quả theo kết quả đầu ra. Đồng thời, vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp và giới chuyên gia chưa được phát huy đúng mức.

(6) Điểm nghẽn về hành lang pháp lý cho chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo còn thiếu đồng bộ.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, nhiều lĩnh vực mới, như: dữ liệu mở, trí tuệ nhân tạo, kinh tế chia sẻ chưa có quy định pháp lý rõ ràng. Việc xây dựng khung thể chế cho chính phủ số, kinh tế số, xã hội số còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Đây là “điểm nghẽn thể chế mới”, không chỉ về mặt kỹ thuật mà sâu xa hơn là sự thiếu hụt trong tư duy quản trị và năng lực hoạch định chính sách thích ứng với môi trường số. Nếu không được tháo gỡ kịp thời, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội tận dụng chuyển đổi số như một động lực tăng trưởng mới.

Các “điểm nghẽn thể chế” trong phát triển kinh tế nhanh và bền vững đất nước tuy biểu hiện khác nhau nhưng đều tác động đến hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước, tính khả thi của chính sách và niềm tin của người dân. Việc nhận diện đúng và đề xuất giải pháp khắc phục kịp thời là yêu cầu cấp bách, đồng thời là cơ sở quan trọng để thể chế thực sự trở thành đột phá chiến lược, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới.

4. Giải pháp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững

Một là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và ổn định của hệ thống pháp luật.

Nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và ổn định của hệ thống pháp luật cần xây dựng một chiến lược tổng thể về hoàn thiện giai đoạn 2026 – 2035; trong đó, lấy yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập làm định hướng xuyên suốt. Việc ban hành luật, pháp lệnh, nghị định cần rà soát theo hướng một luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực có liên quan, tránh tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa các đạo luật.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt ở khâu đánh giá tác động chính sách và thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từng bước chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác pháp chế, bảo đảm tính thống nhất, dự đoán được và dễ thực thi của pháp luật. Mỗi văn bản pháp luật ban hành phải có báo cáo đánh giá tác động chính sách cụ thể, định lượng được chi phí, lợi ích xã hội. Đồng thời, kiến nghị xây dựng cơ chế rà soát, cập nhật pháp luật định kỳ, bảo đảm kịp thời điều chỉnh các quy định không còn phù hợp với thực tiễn. Các luật, nghị định quan trọng cần có thời hạn kiểm chứng hiệu quả sau khi triển khai 3 – 5 năm.

Hai là, đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.

Đây là yêu cầu trọng yếu nhằm khắc phục tình trạng “trên nắm, dưới không dám làm”, bảo đảm tính chủ động, sáng tạo của địa phương song song với sự thống nhất của quốc gia. Cần luật hóa đầy đủ cơ chế phân cấp, phân quyền, xác định rõ “ai có quyền, ai chịu trách nhiệm”, tránh giao quyền chung chung. Song song với đó, phải hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá độc lập, bảo đảm quyền lực được kiểm soát bằng pháp luật. Đề xuất xây dựng Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả phân cấp, phân quyền, trong đó gắn kết quả thực hiện với công tác thi đua, khen thưởng và đánh giá người đứng đầu. Các địa phương có sáng kiến, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung cần được khen thưởng, nhân rộng mô hình; ngược lại, cần xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phân quyền về tài chính, nhân sự và đầu tư công, tạo dư địa để địa phương chủ động hơn trong quy hoạch, phát triển vùng, thu hút nguồn lực xã hội, đồng thời có trách nhiệm giải trình rõ ràng về hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Việc hoàn thiện thể chế phải đi đôi với đổi mới phương thức tổ chức và vận hành bộ máy hành chính. Cần rà soát, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, bảo đảm một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính, tránh chồng chéo, trùng lặp. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số, chính phủ dữ liệu mở, qua đó rút ngắn quy trình xử lý công việc, tăng tính công khai, minh bạch và giảm chi phí xã hội. Khuyến khích thí điểm mô hình quản trị mới ở cấp địa phương, như: chính quyền đô thị, chính quyền số, cơ chế hợp nhất một số cơ quan có chức năng tương đồng; đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp liên vùng, liên ngành để giải quyết các vấn đề phát triển mang tính tổng thể và liên thông.

Bốn là, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thể chế mới.

Đây là nhân tố then chốt quyết định hiệu lực thực thi thể chế. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm, song song với việc xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng quyền hạn, né tránh, trì trệ. Đặc biệt, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kinh tế thị trường, quản trị công, kỹ năng số và ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, nhất là cấp cơ sở. Đưa tiêu chí kết quả đầu ra, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp vào đánh giá, xếp loại cán bộ hàng năm. Cần thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích người có năng lực thực tiễn, chuyên môn sâu tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước, nhất là trong lĩnh vực pháp luật, công nghệ số, quy hoạch, môi trường, đổi mới sáng tạo.

Năm là, hoàn thiện cơ chế giám sát, phản hồi và đánh giá chính sách.

Để bảo đảm thể chế vận hành hiệu quả, cần thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá chính sách định kỳ, độc lập. Mỗi chính sách khi ban hành phải có chỉ số đo lường hiệu quả, công cụ theo dõi, đánh giá và cơ chế phản hồi xã hội rõ ràng. Khuyến khích vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, giới chuyên gia và truyền thông trong giám sát, phản biện, góp ý chính sách. Thể chế hóa cơ chế để các ý kiến phản biện, đề xuất cải thiện chính sách được xem xét, tiếp thu một cách minh bạch và có trách nhiệm. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong theo dõi và đánh giá chính sách, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu mở về quá trình ban hành và thực thi chính sách, giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và giám sát.

Sáu là, phát triển khung thể chế cho chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và kinh tế xanh.

Để tận dụng cơ hội từ chuyển đổi số và các xu thế phát triển mới, cần sớm xây dựng và ban hành Khung thể chế quốc gia về chuyển đổi số, trong đó quy định rõ quyền, trách nhiệm, tiêu chuẩn, cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng. Đồng thời, ban hành Luật Dữ liệu quốc gia, Luật Chính phủ số, Luật Đổi mới sáng tạo, tạo hành lang pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới và quản trị hiện đại. Đẩy mạnh thể chế hóa các chính sách phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Nhìn chung, việc nhận diện “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thể chế làm cản trở tăng trưởng phát triển cần được tháo gỡ trở thành “đột phá của đột phá”. Thể chế chỉ thực sự là đột phá chiến lược khi được vận hành một cách minh bạch, có trách nhiệm và hướng đến phục vụ nhân dân. Các giải pháp nhằm tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn thể chế sẽ không chỉ tạo môi trường phát triển thuận lợi cho doanh nghiệp và xã hội mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng là tiền đề để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc trong những thập niên tới.

5. Kết luận

Hoàn thiện thể chế luôn là yêu cầu xuyên suốt và là “đột phá chiến lược” có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Qua tổng kết thực tiễn nhiệm kỳ Đại hội XIII, có thể thấy, hệ thống thể chế nước ta đã được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào việc khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, củng cố niềm tin của Nhân dân. Trong giai đoạn phát triển mới, để thể chế thực sự trở thành động lực phát triển, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm trong xây dựng, vận hành và giám sát thể chế; bảo đảm mọi chính sách, quy định khi ban hành đều hướng đến mục tiêu phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, thúc đẩy sáng tạo và khuyến khích phát triển. Nhận diện và tháo gỡ các điểm nghẽn nhằm hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước không chỉ mang ý nghĩa góp phần hoàn thiện Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm, khát vọng cống hiến cho sự nghiệp đổi mới, phát triển và hưng thịnh của đất nước trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Hoàng Phê (chủ biên) (2020). Từ điển tiếng Việt. Trung tâm Từ điển học. NXB Đà Nẵng, tr. 900.
2. Nguyễn Sĩ Dũng (2025). Góp ý dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng- Bài 2: Biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. https://baochinhphu.vn/gop-y-du-thao-bao-cao-chinh-tri-dai-hoi-xiv-cua-dang-bai-2-dot-pha-phat-trien-ha-tang-khong-chi-tang-toc-dau-tu-ma-con-can-don-bay-the-che-102251031232724314.htm
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 138 – 139.
4. Tạ Ngọc Tấn, Trần Quốc Toản (2023). Xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/xay-dung-hoan-thien-the-che-phat-trien-nhanh-va-ben-vung-dat-nuoc-trong-giai-doan-moi
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 350.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.