The party’s political and military strategy during the 1975 Spring offensive and uprising
Thượng tá, TS. Đoàn Thanh Thủy
Trung tá, ThS. Lê Quang Lưu
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 thắng lợi do nhiều nguyên nhân: vai trò lãnh đạo của Đảng, tinh thần hy sinh chiến đấu, lao động quên mình của quân dân cả nước, sự ủng hộ, giúp đỡ của anh em, bầu bạn quốc tế,… nhưng nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo của Đảng thông qua đường lối chính trị, quân sự và những quyết sách trực tiếp, cụ thể của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.
Từ khóa: Đường lối chính trị, quân sự; Đảng Cộng sản Việt Nam; Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Abstract: The Spring Offensive and Uprising of 1975 was victorious due to many factors: the leadership role of the Party, the selfless fighting spirit and labor of the entire nation’s army and people, and the support and assistance of international friends and allies. However, the most decisive factor was the Party’s leadership, guided by its political and military guidelines and by the direct, specific decisions of the Central Committee, the Politburo, the Central Military Commission, and the Ministry of National Defense.
Keywords: Political and military strategy; Communist Party of Vietnam; The Great Victory of Spring 1975.
1. Đặt vấn đề
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng đã giành toàn thắng, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Hơn năm thập kỷ qua, thế giới vẫn không ngừng nghiên cứu và cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược nói chung và Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 nói riêng. Song, dù nhìn nhận, tiếp cận từ góc độ nào, với thái độ nào, người ta cũng không thể không thừa nhận rằng: đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với sự quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối đó, là nguyên nhân quyết định hàng đầu đối với thắng lợi không chỉ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà còn của toàn bộ thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Đại hội IV của Đảng khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta”1.
2. Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn sáng tạo của Đảng: nhân tố quyết định thắng lới của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, rộng lớn hơn, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta phải đối đầu với một đế quốc hiếu chiến, sừng sỏ, có tiềm lực kinh tế hùng mạnh, bộ máy quân sự đồ sộ với những âm mưu, thủ đoạn chiến tranh hết sức tàn bạo và xảo quyệt. Trong cuộc đụng độ lịch sử này, hàng loạt câu hỏi lớn đặt ra cho Đảng và Nhân dân ta, đòi hỏi phải tìm lời giải đáp: Chúng ta có dám đánh Mỹ hay không? Đánh bằng cách nào? Liệu đánh có thắng hay không?… Với nhãn quan chính trị sắc sảo và ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá, phân tích một cách khách quan, toàn diện tương quan lực lượng giữa ta và địch để đi đến nhận định: Mỹ giàu nhưng không mạnh như người ta tưởng, và nhân dân ta hoàn toàn có thể đánh thắng Mỹ. Đây không phải là nhận định chủ quan, duy ý chí… ngược lại, đây là một nhận định trí tuệ, có cơ sở khoa học vững chắc.
Để đánh bại tên đế quốc hiếu chiến, sừng sỏ nhất thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”2. Đồng thời: “Chúng ta phải đề cao lòng tự hào dân tộc, luôn luôn phát huy chủ nghĩa anh hùng tập thể trong quân đội, trong dân quân du kích, trong các đoàn thể quần chúng, trong các tổ chức sản xuất, tạo nên một sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến thần thánh hiện nay đến toàn thắng”3.
Phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 25 (khóa III), đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “Để thắng Mỹ, không những phải có đường lối chính trị đúng mà còn phải có đường lối quân sự đúng”4. Trên cơ sở phân tích đúng tình hình thế giới, trong nước, đặc biệt là đánh giá đúng cục diện chiến tranh, tương quan lực lượng địch ta trên chiến trường miền Nam từ sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, Bộ Chính trị cho rằng: “Lúc này chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo ra cơ hội này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn…”5 và “Quyết tâm của chúng ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao… hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước, tiến tới thống nhất đất nước”6. Hội nghị Bộ Chính trị (đợt 2), ngày 07/01/1975, đã kết luận: “phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975, hoặc 1976”7.
Cái đích Bộ Chính trị muốn hướng tới trong việc xác định các nhiệm vụ được nêu trong kết luận của Hội nghị ngày 07/01/1975 là tạo ra sức mạnh tổng hợp, kết hợp quân sự với chính trị, khởi nghĩa với chiến tranh, phối hợp ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, thắng địch tại sào huyệt quan trọng nhất ở Sài Gòn, để kết thúc cuộc chiến tranh.
Như thế, thông qua kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị, có thể thấy quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo của Đảng đối với giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh cả về chính trị và quân sự là hết sức rõ ràng, đúng đắn dựa trên những phân tích hết sức khoa học về các nhân tố tương quan để đi đến chủ trương mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy nhằm kết thúc cuộc chiến tranh.
3. Đường lối chính trị, quân sự đã hội tụ và chín muồi về nghệ thuật “tạo thế”, “tranh thời” và chuyển lực của Đảng ta đã tạo nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975
Thứ nhất, đó là sự hội tụ chín muồi về thế trận và vai trò chỉ đạo của Đảng trong việc liên tục tạo lập thế trận trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Khi địch buộc phải ký kết Hiệp định Paris và chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cũng là lúc chúng rơi vào thế bất lợi. Về chính trị, chính quyền ngụy liên tiếp đảo chính, Mỹ mất mặt trên trường quốc tế. Về quân sự, các binh đoàn nguỵ chỉ đủ sức cơ động đến các chi khu quân sự lớn, không kiểm soát nổi các vùng nông thôn và vùng giáp ranh. Tuy nhiên, để hy vọng giành lại thế chiến lược quân sự, chúng đã tập trung bố trí lực lượng chủ chốt ở những địa bàn cực kỳ quan trọng như Tây Nguyên, Đà Nẵng và cửa ngõ Sài Gòn. Về phía quân đội ta, cùng với thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, việc chuẩn bị chu đáo mọi mặt đã làm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh ở vào thế “đứng trên đầu thù”. Song, trong chiến tranh, giành được thế trận có lợi đã khó, còn duy trì và phát huy được thế trận ấy còn khó hơn nhiều. Và Chiến dịch Hồ Chí Minh đã thực hiện được điều đó.
Việc lựa chọn điểm đột phá tại Buôn Ma Thuột đã thể hiện sự sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Nam trong việc liên tục tạo lập thế trận, vì khi ta chiếm được cứ điểm này đã giáng đòn quân sự chí tử, bẻ gãy “xương sống phòng thủ” của địch ở Tây Nguyên. Tiếp đó, ta thắng ở Đà Nẵng, làm cho ý đồ “tử thủ” của địch bị phá sản nghiêm trọng, cố vấn Mỹ lo di tản, tướng lĩnh Ngụy lo chạy về Sài Gòn. Thuận lợi, ta chỉ đạo đánh đồng loạt để làm vỡ trận địch, từ đó thừa thắng đánh dọc Nam Trung Bộ trong vòng chưa đầy một tháng. Việc liên tục tạo lập thế trận có lợi giúp chúng ta tập trung được hầu hết lực lượng vào trận quyết chiến tại Xuân Lộc – cửa ngõ vào Sài Gòn. Đến sáng ngày 30/4/1975, năm cánh quân của ta từ năm hướng đồng loạt tiến vào sào huyệt cuối cùng của địch, chiếm Dinh Độc Lập cùng các mục tiêu trọng yếu, bức hàng Chính phủ Ngụy quyền, làm tan rã hoàn toàn bộ máy tay sai khi còn hàng chục vạn quân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai, đó là sự hội tụ chín muồi về thời cơ và vai trò chỉ đạo của Đảng trong việc liên tục phát triển thời cơ trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Khác với thời kỳ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, lúc này địch đã bị phá sản về chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” – chiến lược phản cách mạng cuối cùng của chúng, nên xét một cách tổng thể thì thế và lực của chúng đã suy yếu nghiêm trọng. Đồng thời, dựa trên việc liên tục tạo lập được thế trận có lợi cùng với sự phát triển của phong trào kháng chiến toàn dân và sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã đến điểm chín muồi.
Chính vì vậy, khi điều kiện khách quan cho phép, điểm nổi bật ở đây là sự sáng suốt của Đảng ta trong nhận định tình hình và xác định thời cơ chín muồi đó. Hơn nữa, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương và Bộ Chính trị, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã chủ trương nổ súng tổng tiến công vào thời điểm mà địch hoàn toàn bất ngờ. Điều đó giúp các quân đoàn chủ lực liên tục phá địch với phương châm “thần tốc, táo bạo, quyết thắng”, không để địch có thời gian hồi phục. Đồng thời, điều đó cũng cho phép phối hợp chặt chẽ tổng tiến công bằng lực lượng quân sự với nổi dậy đồng loạt của đồng bào giành và giữ chính quyền cách mạng. Sự nhạy bén của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh Mặt trận còn thể hiện ở việc điều chỉnh kịp thời kế hoạch thời gian, vì vậy, từ chủ trương giải phóng miền Nam vào mùa khô năm 1976, ta đã kịp thời tận dụng thời cơ chín muồi để chuyển sang quyết tâm kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh vào năm 1975. Thắng lợi vang dội của chiến dịch đã chứng minh tính đúng đắn của quyết tâm chiến lược đó.
Thứ ba, đó là sự hội tụ chín muồi về chuẩn bị lực lượng quân sự và vai trò chỉ đạo của Đảng về sử dụng hợp lý và liên tục chuyển hóa lực lượng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Sở dĩ ta hoàn toàn phát huy được thế trận và thời cơ có lợi chính là do quá trình lớn mạnh của phong trào cách mạng của quần chúng và các lực lượng vũ trang cách mạng đã tới điểm chín muồi. Cả ba thứ quân đều trưởng thành vượt bậc: bộ đội chủ lực đã đủ sức tác chiến cấp quân đoàn; bộ đội địa phương cũng có thể tổ chức chiến đấu đến cấp sư đoàn; dân quân du kích đã phát triển rộng khắp, đủ sức làm nòng cốt cho quần chúng nhân dân tạo ra sức ép “bức rút, bức hàng” đối với địch. Trình độ kỹ chiến thuật của bộ đội và trang bị vũ khí cũng được chuẩn bị đầy đủ để tiến hành đánh lớn. Phương án tác chiến đã phát triển từ đánh du kích, nhỏ lẻ, phòng ngự – phản công sang tiến công thần tốc, đồng loạt bằng tác chiến hiệp đồng nhiều binh chủng. Tuy nhiên, với lực lượng quân sự đã được chuẩn bị đầy đủ về sức mạnh chiến đấu tổng hợp, Đảng vẫn chủ trương “tập trung lực lượng vào hướng, mũi đột phá chủ yếu”.
Nhờ phương thức sử dụng sức mạnh quân sự hợp lý đó, chúng ta đã thực hiện được sự kết hợp giữa tiêu diệt lực lượng trọng yếu và phá vỡ ý đồ tử thủ của địch. Hơn nữa, chúng ta đã liên tục vừa đánh địch, vừa bổ sung và phát triển lực lượng, vừa tác chiến vừa rút kinh nghiệm kịp thời, nâng cao trình độ nghệ thuật quân sự và trình độ mọi mặt. Chính nhờ đó, càng đánh càng mạnh, cả ba thứ quân càng chiến đấu càng trưởng thành.
4. Hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 – kết quả của sự quán triệt đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng trong thực tiễn.
Kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị ngày 07/01/1975 về chủ trương kết thúc cuộc chiến tranh trong năm 1975, đã xác định: “Quyết tâm này của Bộ Chính trị phải được truyền đến toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng nhân dân. Phải tiến hành công tác chính trị, tư tưởng sâu rộng, cổ vũ mạnh mẽ khí thế quyết chiến, quyết thắng”8. Một trong những biểu hiện về quán triệt đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là ở việc các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các địa phương trong cả nước, trực tiếp là các địa phương tại miền Nam đã quán triệt sâu sắc quyết tâm của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương, động viên cao nhất tinh thần, khả năng và ý chí của toàn dân tộc, chớp thời cơ giành thắng lợi cuối cùng. Tư tưởng chỉ đạo đó đã được hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, hàng triệu quần chúng nhân dân trên khắp các hướng tiến công biến thành hành động cách mạng, cụ thể cả trong tiến công và trong nổi dậy, bất chấp gian khó, hy sinh, quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, thể hiện sinh động chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Nhờ tổ chức quán triệt tốt đường lối chính trị và đường lối quân sự, nên trong suốt quá trình diễn biến của tình hình, sức mạnh tinh thần đã thực sự chuyển thành sức mạnh vật chất trong các hoạt động tiến công và nổi dậy. Vai trò của hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị được phát huy cao độ. Hoạt động chủ động, tích cực, linh hoạt của công tác đảng, công tác chính trị đã nắm bắt những nội dung chủ yếu nhất, bằng những hình thức hoạt động linh hoạt, sáng tạo để một mặt kịp thời phổ biến, quán triệt nhiệm vụ đến các đơn vị, giải quyết những vấn đề tư tưởng cho bộ đội, đồng thời cổ vũ và hướng dẫn hành động trực tiếp cho cán bộ chiến sĩ.
Cùng với sự chuẩn bị về mặt tinh thần, việc quán triệt đường lối chính trị, đường lối quân sự cũng được thể hiện trong công tác chuẩn bị về mặt vật chất, kỹ thuật. Trong cuộc Tổng tiến công, quân và dân ta đã huy động được một nguồn lực vật chất rất lớn, đáp ứng yêu cầu tiến công của các đơn vị lực lượng vũ trang và quần chúng nổi dậy tại các địa phương.
Nhờ công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực, chúng ta đã không những đảm bảo đầy đủ và kịp thời về lực lượng, trang bị, hậu cần, kỹ thuật cho trận quyết chiến cuối cùng mà còn xử lý và giải quyết tốt các tình huống, nhiệm vụ mới phát sinh, giữ vững và nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội, cổ vũ tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng.
Có thể nói, một trong những thành công nổi bật trong quán triệt đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 là đã phát động được cao trào cách mạng của quần chúng rộng rãi và mạnh mẽ, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật lãnh đạo. Công tác tư tưởng đã huy động được đầy đủ và cao nhất nguồn sức mạnh chính trị – tinh thần và sức mạnh vật chất, tạo ra sức mạnh tổng hợp đè bẹp mọi sức phản kháng của quân thù.
5. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã đưa nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam đạt đến đỉnh cao về tính độc đáo và phong phú
Đường lối quân sự của Đảng chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, song việc quán triệt đường lối đó vào hoạt động cụ thể của quân và dân ta tại các đơn vị các địa phương đã đưa nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đạt đến đỉnh cao về tính độc đáo và phong phú.
Một là, Tổng tiến công gắn bó chặt chẽ với nổi dậy – một dạng thức rất đặc biệt của khởi nghĩa và tiến công trong chiến tranh cách mạng. Trong đó, các đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, làm sụp đổ chính quyền nguỵ tại các địa phương. Đồng thời, sự nổi dậy của quần chúng giành quyền làm chủ tại chỗ, đập tan bộ máy nguỵ quyền, làm tan rã cơ sở chính trị – xã hội của chế độ nguỵ và hàng ngũ nguỵ quân, lại tạo ra điều kiện thuận lợi và thời cơ mới để các binh đoàn chủ lực đẩy nhanh tốc độ cuộc tiến công.
Hai là, sức mạnh của các binh đoàn chủ lực gắn bó chặt chẽ với sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương và sức mạnh của quần chúng trong nổi dậy, tạo thành một sức mạnh tổng hợp khiến kẻ thù không sao chống đỡ nổi. Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, cả bốn binh đoàn chủ lực của quân đội ta đều được sử dụng vào các hướng tiến công chiến lược. Khi chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, ngoài bốn quân đoàn còn sử dụng Đoàn 232 tiến công vào nội đô từ hướng Hậu Nghĩa, tạo thành năm mũi tiến công ào ạt, áp đảo, đè bẹp sự phản kháng của địch. Sức mạnh của các binh đoàn chủ lực gắn bó chặt chẽ với sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương và cả hai sức mạnh đó gắn bó không tách rời với sức mạnh của quần chúng trong nổi dậy, tạo thành một sức mạnh mang tính tổng hợp, làm cho mọi sự phản kháng của địch, đặc biệt về quân sự, chính trị, ngoại giao đều trở thành vô nghĩa.
Ba là, những hành động quân sự được quyết định, tiến hành hết sức táo bạo, khẩn trương, quyết đoán nhưng rất sắc bén và chính xác.
Việc thành lập các quân đoàn chủ lực của quân đội ta ở giai đoạn cuối cuộc kháng chiến để rồi khi cuộc Tổng tiến công được quyết định, cả bốn quân đoàn đều được tung vào trận quyết chiến chiến lược. Khi bốn quân đoàn ào ạt tiến công thần tốc giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” và “Thần tốc, thần tốc hơn nữa”, “dũng mãnh, dũng mãnh hơn nữa” đã thể hiện rõ một nét văn hóa quân sự độc đáo của Việt Nam. Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 thể hiện tính khoa học và nghệ thuật trong tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam đạt đến trình độ cao nhất từ trước đến nay.
6. Kết luận
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử là một mốc son chói lọi, hào hùng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng vĩ đại này, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với giá trị lịch sử lớn lao đó, cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta những bài học vô cùng quý báu, bổ sung vào kho tàng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Hơn năm mươi năm đã qua, nhưng những bài học về quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 vẫn còn giữ nguyên giá trị thực tiễn sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tinh thần của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn gốc, động lực tiếp thêm sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng, to đẹp, sánh vai cường quốc năm châu. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng hành động với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” với tri thức mới, với sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ, dưới ánh sáng soi đường của Đảng; chúng ta hành động với ý chí kiên cường, tiến bước trên mọi mặt trận kinh tế, văn hóa, xã hội như những “chiến sĩ thời bình” thì hiệu quả sẽ gấp mười, gấp trăm lần”9.
Chú thích:
1, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 37. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 484, 341.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2001). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 412.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 26. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 618.
5, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 35. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 177, 178, 193.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 36. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 6.
9. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta. https://baolaodong.vn.



