Building the all – people national defence posture in conjunction with the people’s hearts and minds posture – A historical materialist approach
ThS. Đào Hoa Tươi
Trường Quân sự, Quân đoàn 34
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tiếp cận việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân từ lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử, coi đây là tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội. Trên cơ sở phân tích vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và quốc phòng được làm rõ cả về lý luận và thực tiễn Việt Nam. Bài viết khẳng định thế trận lòng dân là nền tảng chính trị – xã hội quyết định sức mạnh và tính bền vững của quốc phòng toàn dân. Qua đó, nhấn mạnh yêu cầu gắn quốc phòng với phát triển kinh tế – xã hội, công bằng xã hội và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Quốc phòng toàn dân; thế trận lòng dân; chủ nghĩa duy vật lịch sử; sức mạnh nhân dân; đồng thuận xã hội.
Abstract: This article approaches the construction of the all-people national defence posture in conjunction with the “people’s hearts and minds posture” from the standpoint of historical materialism, viewing it as an objective necessity of social development. On the basis of analysing the decisive role of the masses, the dialectical relationship between the economy, politics, and national defence is clarified in both theoretical terms and the practical context of Viet Nam. The article affirms that the people’s hearts and minds posture constitutes the political – social foundation that determines the strength and sustainability of the all – people national defence. Accordingly, it emphasises the requirement to closely link national defence with socio-economic development, social equity, and the guarantee of the people’s mastery in the new context.
Keywords: All-people national defence; people’s hearts and minds posture; historical materialism; people’s power; social consensus.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh an ninh quốc tế và trong nước có xu hướng phức tạp ngày càng sâu sắc, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân trở thành một chủ trương chiến lược nhất quán của Đảng và Nhà nước. Quan điểm này xác định quốc phòng không chỉ là phạm trù quân sự mà còn là chỉnh thể chính trị – xã hội tổng hợp, tổ chức và huy động sức mạnh toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống. Sự kiện này phản ánh yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách khi cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, cũng như thách thức an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng, an ninh kinh tế và biến đổi khí hậu đòi hỏi năng lực ứng phó linh hoạt và toàn diện.
Thế trận quốc phòng toàn dân phải gắn bó hữu cơ với ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội và vai trò chủ thể của Nhân dân, hình thành mối quan hệ biện chứng giữa quốc phòng và lòng dân. Quan điểm này dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chính trị học Mác – Lênin, coi quốc phòng là kết quả của quá trình tổ chức và huy động sức mạnh xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”, nhấn mạnh sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chỉ bền vững khi Nhân dân là trung tâm của sự nghiệp quốc phòng.
Trong chỉnh thể đó, từ Đảng, Nhà nước đến các tổ chức chính trị – xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân đều có vai trò bảo đảm thống nhất mục tiêu, ý chí và hành động trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Các văn kiện của Đảng khẳng định tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, kết hợp với thế trận an ninh nhân dân để giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới1. Thực tiễn chính sách quốc phòng của Việt Nam tiếp tục minh chứng cho cách tiếp cận này. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 thể hiện cam kết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ song hành với phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và bảo đảm an ninh con người. Theo Sách trắng chỉ rõ: nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sự đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh vô địch của Nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc2. Tiếp đó, Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện3; phát huy sức mạnh của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới
Những nội dung này không chỉ thể hiện sự cân đối nguồn lực trong nền kinh tế đang phát triển mà còn chứng minh định hướng chiến lược lâu dài của Nhà nước trong việc xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân vững mạnh, gắn liền với chức năng phục vụ Nhân dân và bảo đảm an ninh quốc gia. Với cách tiếp cận tổng thể đó, quốc phòng toàn dân ở Việt Nam được phát triển như một chỉnh thể chính trị – xã hội, tạo dựng nền tảng vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống.
2. Cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử
2.1. Vai trò của quần chúng nhân dân
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính của lịch sử, là lực lượng quyết định sự vận động và phát triển của xã hội. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), C. Mác đã khẳng định: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân…”4; đồng thời, Người chỉ rõ “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”5. Tư tưởng đó đã đặt nền tảng lý luận cho việc xác định vai trò quyết định của Nhân dân trong mọi thiết chế chính trị – xã hội, trong đó có cả lĩnh vực quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong tác phẩm Gia đình thần thánh (1844), C. Mác và Ph. Ăngghen nhấn mạnh, mức độ vĩ đại của hoạt động lịch sử tỉ lệ thuận với quy mô và vai trò của quần chúng tham gia, khi viết: “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo”6. Điều này thể hiện quan điểm sâu sắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính quyết định của Nhân dân đối với tiến trình xã hội. Không có sự tham gia của Nhân dân, mọi sự biến đổi xã hội dù có ý nghĩa đến đâu cũng chỉ dừng lại ở phạm vi lý thuyết.
Vận dụng và phát triển tư tưởng đó trong điều kiện mới, V.I. Lênin trong tác phẩm Chào mừng những người cộng sản Ý, Pháp và Đức (1919) đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được…”7. V.I. Lênin nhấn mạnh mối quan hệ tất yếu giữa đội tiên phong cách mạng và quần chúng nhân dân, coi đó là yếu tố sống còn của mọi phong trào cách mạng. Trong Lời nói đầu tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850, C. Mác viết: “Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế độ xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình phải đổ máu và hy sinh tính mạng”8. Như vậy, Nhân dân không chỉ là lực lượng vật chất mà còn là chủ thể có ý thức, tự giác trong sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội.
Trong tác phẩm Làm gì (1901), V.I. Lênin khẳng định: “Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc”9. Điều đó cho thấy, sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy tối đa khi được tổ chức, định hướng và lãnh đạo đúng đắn. V.I. Lênin nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo của Đảng: “Về nguyên tắc, đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn nghi ngờ gì được nữa”10; đồng thời cảnh báo rằng, “một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”11.
Trong thực tiễn Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển sâu sắc tinh thần của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của Nhân dân. Người luôn khẳng định: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”12, coi Nhân dân là nguồn gốc của mọi thắng lợi cách mạng. Khi trả lời câu hỏi vì sao chọn con đường cách mạng, Người đã nói rõ: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập, tự do”13. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định phải phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc14.
2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở kinh tế – xã hội và kiến trúc thượng tầng quốc phòng
Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng, trong đó, quốc phòng chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế – xã hội. Quốc phòng không tồn tại tách rời mà vừa phụ thuộc, vừa tác động trở lại đối với sự phát triển xã hội. Vì vậy, nền quốc phòng vững mạnh phải dựa trên nền kinh tế độc lập, ổn định; đồng thời, phát triển kinh tế – xã hội bền vững cũng cần được bảo vệ bằng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
V.I. Lênin đã chỉ rõ mối quan hệ này khi khẳng định: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”15. Quan điểm này thể hiện tính biện chứng giữa hai mặt của đời sống xã hội: kinh tế là cơ sở vật chất, còn chính trị là hình thức tập trung của kinh tế, có vai trò định hướng và tổ chức để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng hướng. Đối với lĩnh vực quốc phòng, điều này có nghĩa là mọi quyết sách quốc phòng, an ninh và đối ngoại đều phải xuất phát từ cơ sở vật chất, kinh tế của đất nước; đồng thời, chính trị phải dẫn dắt, điều phối để biến tiềm lực kinh tế thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng, không chỉ là sức mạnh quân sự mà là tổng hoà của sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần của toàn dân tộc. Khi cơ sở kinh tế vững vàng, đời sống Nhân dân được nâng cao, công bằng xã hội được bảo đảm thì niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ được củng cố, tạo nên “thế trận lòng dân”, lớp thành lũy kiên cố nhất trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Từ góc nhìn biện chứng, “thế trận lòng dân” phản ánh mức độ phù hợp giữa lợi ích xã hội, công bằng xã hội và tính chính danh của quyền lực chính trị. Khi mối quan hệ đó được bảo đảm, Nhân dân sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo ra sự thống nhất giữa ý chí và hành động trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng càng thể hiện rõ. Phát triển kinh tế là tiền đề để hiện đại hóa quốc phòng, còn quốc phòng vững mạnh lại là điều kiện bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định và tự chủ trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế.
Do đó, xây dựng quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân cần được hiểu là một biểu hiện cụ thể của mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở kinh tế – xã hội và kiến trúc thượng tầng chính trị, quốc phòng. Khi nền kinh tế phát triển vững chắc, chính trị ổn định và Nhân dân đồng thuận, thì kiến trúc quốc phòng mới có thể phát huy trọn vẹn vai trò bảo vệ, điều hòa và định hướng sự phát triển của xã hội. Đây chính là tư duy biện chứng sâu sắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, là cơ sở lý luận nền tảng cho đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong thời kỳ mới.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận của tiếp cận duy vật lịch sử
Tiếp cận quốc phòng toàn dân từ quan điểm duy vật lịch sử có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, giúp khắc phục cách nhìn phiến diện, thuần túy kỹ thuật. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, mọi hiện tượng xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại vật chất và ý thức xã hội, giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng. Vì vậy, quốc phòng không chỉ là vấn đề quân sự mà trước hết là vấn đề chính trị – xã hội, gắn với đời sống vật chất, tinh thần và các quan hệ xã hội. Cách tiếp cận này đòi hỏi đặt quốc phòng trong chỉnh thể vận động của xã hội như một bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội, nơi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng tác động qua lại. Từ đó, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được nhận thức là sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, dựa trên đồng thuận chính trị, niềm tin xã hội và ý thức công dân.
V.I. Lênin khẳng định: “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”, do đó, chiến lược quốc phòng phải dựa trên phân tích khách quan điều kiện kinh tế – xã hội, tránh chủ quan duy ý chí. Phương pháp luận duy vật lịch sử vì vậy hướng tới cách nhìn toàn diện, lịch sử, cụ thể về sự phát triển quốc phòng. Đồng thời, cách tiếp cận này đề cao vai trò con người và quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền”, thể hiện tinh thần coi Nhân dân là chủ thể và nguồn lực quyết định của quốc phòng toàn dân.
Như vậy, ý nghĩa phương pháp luận của duy vật lịch sử không chỉ ở lý luận mà còn định hướng thực tiễn: kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng; gắn tăng trưởng vật chất với bồi đắp tinh thần; kết hợp sức mạnh Nhà nước với sức mạnh Nhân dân, hình thành thế trận quốc phòng toàn dân gắn với “thế trận lòng dân” trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
3. Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân
3.1. Khái niệm thế trận quốc phòng toàn dân
Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế trận quốc phòng toàn dân là sự bố trí tổng thể các lực lượng, tiềm lực và nguồn lực của đất nước nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống. Thế trận này không chỉ gồm lực lượng vũ trang mà còn là sự tổ chức, huy động sức mạnh toàn dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, khoa học, công nghệ và đối ngoại, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước16. Bản chất của thế trận là dựa vào dân, do dân và vì dân, lấy Nhân dân làm trung tâm. Tính “toàn dân” thể hiện ở sự tham gia của mọi người; tính “toàn diện” ở sự kết hợp các lĩnh vực và tính “lâu dài” ở việc xây dựng, củng cố cả trong thời bình và thời chiến.
Thế trận quốc phòng toàn dân gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế – xã hội, trong mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, củng cố quốc phòng phải đi đôi với phát triển kinh tế – xã hội nhằm bảo đảm cả tiềm lực vật chất và nền tảng chính trị – tinh thần vững chắc.
3.2. Khái niệm và bản chất của thế trận lòng dân
Thế trận lòng dân là trạng thái bền vững của niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và ý chí bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân. Đây là nền tảng chính trị, là “trận địa trong lòng dân”, bảo đảm cho sức mạnh của quốc phòng toàn dân được phát huy bền vững. Khác với thế trận quốc phòng có thể quy hoạch, bố trí bằng kế hoạch vật chất và lực lượng, thế trận lòng dân được hình thành thông qua thực tiễn giải quyết hài hoà lợi ích, công bằng xã hội và việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Khi Nhân dân tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và chế độ, khi đời sống được bảo đảm, khi lợi ích được tôn trọng thì lòng dân mới quy tụ, tạo nên sự gắn bó sâu sắc giữa Nhân dân với chính quyền, giữa cá nhân với cộng đồng và dân tộc.
3.3. Mối quan hệ biện chứng giữa hai thế trận
Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau. Thế trận lòng dân là nền tảng chính trị – xã hội của thế trận quốc phòng toàn dân, trong khi quốc phòng toàn dân là hình thức tổ chức, hiện thực hóa và bảo vệ thành quả của lòng dân.
Nếu thế trận quốc phòng toàn dân là sức mạnh vật chất và tổ chức, thì thế trận lòng dân là sức mạnh tinh thần và niềm tin. Lòng dân bền vững tạo nên hậu phương vững chắc, giúp quốc phòng toàn dân có sức sống lâu dài; ngược lại, khi quốc phòng được củng cố, an ninh được bảo đảm, lòng dân càng thêm yên ổn và gắn bó.
Luật Quốc phòng năm 2018 cũng nhấn mạnh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, văn hoá – xã hội, đối ngoại và an ninh, lấy xây dựng con người và thế trận lòng dân làm nhân tố cơ bản”17. Điều đó thể hiện rõ tư duy biện chứng của Đảng và Nhà nước ta: sức mạnh vật chất của quốc phòng phải được nuôi dưỡng bởi sức mạnh tinh thần của Nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đô thị hóa hiện nay, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải bắt đầu từ việc củng cố thế trận lòng dân, coi đây là nền tảng mềm, là “lá chắn chính trị – xã hội” bảo vệ Tổ quốc, chế độ và Nhân dân.
4. Thực tiễn lịch sử Việt Nam
4.1.Góc nhìn duy vật lịch sử
Lịch sử Việt Nam là minh chứng cho quy luật biện chứng giữa sức mạnh vật chất và tinh thần trong quốc phòng toàn dân. Từ Toàn quốc kháng chiến năm 1946, Nhân dân đã kết hợp lực lượng vũ trang với ý chí và tinh thần đoàn kết. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huy động toàn dân tham gia kháng chiến với tinh thần “tự lực cánh sinh”. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 thể hiện rõ sức mạnh đó khi quân và dân ta đánh bại tập đoàn cứ điểm mạnh của thực dân Pháp bằng chiến tranh nhân dân toàn diện, kết hợp quân sự với chính trị – xã hội. Trong kháng chiến chống Mỹ, tinh thần đoàn kết toàn dân, gắn bó quân, dân được phát huy cao độ qua các khẩu hiệu “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “quyết chiến, quyết thắng”, đạt đỉnh cao trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Tư duy duy vật lịch sử khẳng định, được lòng dân là có sức mạnh vô địch, mất lòng dân là mất thế trận. Khi Nhân dân tự giác tham gia và lợi ích được bảo đảm, sức mạnh quốc phòng vượt khỏi phạm vi quân sự, trở thành “sức mạnh mềm” quyết định thắng lợi dân tộc.
4.2. Vai trò của Đảng và Nhà nước trong xây dựng hai thế trận
Trong thực tiễn lịch sử Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo chiến lược và định hướng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với lòng dân. Đảng không chỉ lãnh đạo quân đội và bộ máy nhà nước, mà còn là trung tâm huy động mọi nguồn lực chính trị – xã hội và gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong từng quyết sách chiến lược. Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng đã biến sức mạnh chính trị, tinh thần của Nhân dân thành sức mạnh đánh bại các thế lực xâm lược mạnh hơn về vũ khí và trang bị. Nhà nước, với tư cách là công cụ tổ chức quyền lực chính trị, đóng vai trò thể chế hoá quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, an sinh và sự tham gia tích cực của mọi tầng lớp trong quản trị xã hội. Điều này không chỉ củng cố lòng tin vào chế độ mà còn tạo cơ sở vật chất, tinh thần vững chắc, thiết thực cho thế trận lòng dân.
Sự hợp lực giữa Đảng lãnh đạo chiến lược, Nhà nước bảo đảm quyền lợi và Nhân dân tự nguyện tham gia tạo thành “chỉnh thể quốc phòng – an ninh” trong thực tiễn Việt Nam. Quá trình ấy không chỉ là nhiệm vụ quân sự mà là việc kết hợp nhuần nhuyễn chính trị, kinh tế, văn hóa và tinh thần trong xây dựng thế trận toàn dân tiến lên xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính triết học duy vật lịch sử trong nhận thức và hành động.
4.3. Các điều kiện xã hội quyết định sự bền vững của thế trận lòng dân
Thế trận lòng dân bền vững phải dựa trên nền tảng phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội. Khi đời sống Nhân dân được nâng cao, việc làm ổn định và an sinh được bảo đảm, sự gắn kết giữa Nhân dân với quốc gia và hệ thống chính trị được củng cố, tạo điều kiện vật chất cho sức mạnh quốc phòng toàn dân. Giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai tầng, vùng, miền và nhóm xã hội là yếu tố quan trọng. Khi chênh lệch được thu hẹp thông qua chính sách công bằng, cơ hội phát triển được mở rộng, thì đồng thuận xã hội tăng lên, mâu thuẫn giảm và đoàn kết được củng cố.
Phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại giữa Nhân dân với chính quyền cũng là điều kiện thiết yếu. Khi tiếng nói của Nhân dân được lắng nghe và phản ánh trong chính sách, niềm tin và sự ủng hộ đối với các chủ trương, đặc biệt là quốc phòng, được tăng cường. Từ những bài học lịch sử cụ thể và các điều kiện xã hội hiện đại, có thể thấy, sức mạnh của quốc phòng toàn dân, trong đó thế trận lòng dân đóng vai trò trung tâm, không chỉ dựa vào lực lượng quân sự mà còn gắn với tiến trình phát triển và công bằng xã hội, trong đó Nhân dân vừa là lực lượng, vừa là mục tiêu phải được bảo vệ lâu dài và toàn diện.
5. Yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới đối với việc gắn kết hai thế trận
5.1. Tác động của bối cảnh mới
Bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang làm biến đổi sâu sắc cấu trúc xã hội và không gian bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế thị trường đã thay đổi hình thái cư trú, suy giảm một số liên kết cộng đồng truyền thống và xuất hiện nhiều nhóm xã hội với lợi ích đa dạng. Sự phân hóa xã hội không chỉ thể hiện ở chênh lệch kinh tế mà còn ở khả năng tiếp cận cơ hội phát triển và tham gia đời sống chính trị – xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu phải củng cố đồng thuận xã hội và tăng cường nền tảng lòng dân trong điều kiện mới.
Các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng cả về tính chất và quy mô, tác động trực tiếp đến ổn định xã hội và niềm tin chính trị. Chiến tranh thông tin, thao túng truyền thông và tác động vào nhận thức xã hội trở thành phương thức nhằm làm suy giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự giao thoa về giá trị và chuẩn mực xã hội diễn ra mạnh mẽ, vừa mở rộng tiếp cận tri thức, vừa tạo nguy cơ xung đột giá trị và lệch chuẩn nhận thức chính trị. Những tác động đó làm cho việc gắn kết thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận lòng dân trở thành yêu cầu cấp thiết, mang tính chiến lược lâu dài nhằm bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và chủ động phòng ngừa nguy cơ từ sớm, từ xa.
5.2. Đổi mới nội dung xây dựng thế trận lòng dân
Trong bối cảnh mới, xây dựng thế trận lòng dân cần được đổi mới cả về tư duy và phương thức. Thế trận này không chỉ là sự ủng hộ cảm tính mà phải dựa trên bảo vệ con người, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Việc gắn quốc phòng với bảo vệ con người thể hiện bước phát triển trong tư duy quốc phòng hiện đại, coi Nhân dân vừa là trung tâm vừa là mục tiêu. Khi đời sống vật chất, tinh thần và quyền công dân được bảo đảm, lòng yêu nước và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc sẽ được củng cố bền vững. Đồng thời, cần chú trọng củng cố niềm tin chính trị thông qua nâng cao hiệu quả quản trị xã hội và thực hiện công bằng xã hội. Quản trị hiệu quả không chỉ ở năng lực điều hành mà còn ở khả năng lắng nghe, đối thoại và đáp ứng nhu cầu chính đáng của Nhân dân. Công bằng xã hội giúp giảm mâu thuẫn, ngăn ngừa bất mãn và làm suy yếu các luận điệu xuyên tạc. Do vậy, thế trận lòng dân là sự kết tinh của niềm tin, đồng thuận và ý thức trách nhiệm công dân, được hình thành từ hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng các chính sách phát triển.
5.3. Hoàn thiện phương thức xây dựng quốc phòng toàn dân
Hoàn thiện phương thức xây dựng quốc phòng toàn dân đòi hỏi phát huy vai trò tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vị trí quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân và làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với xã hội. Qua đó, quốc phòng toàn dân được xây dựng không chỉ bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng sự tham gia tự giác, chủ động của Nhân dân. Phương thức này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm và vùng chiến lược. Phát triển kinh tế tách rời quốc phòng sẽ tiềm ẩn rủi ro, trong khi quốc phòng thiếu nền tảng kinh tế – xã hội vững mạnh sẽ không bền vững.
Vì vậy, yêu cầu chiến lược là chuyển hóa thế trận lòng dân thành nguồn lực quốc phòng bền vững, trong đó niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và ý thức trách nhiệm công dân trở thành sức mạnh nội sinh quyết định, bảo đảm quốc phòng toàn dân vững chắc trong mọi tình huống.
6. Kết luận
Tiếp cận từ chủ nghĩa duy vật lịch sử cho thấy, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển xã hội. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ được quyết định bởi tiềm lực quân sự mà trước hết phụ thuộc vào mức độ gắn bó giữa Nhà nước với Nhân dân và sự ổn định của các quan hệ xã hội. Thế trận lòng dân chỉ có thể được củng cố khi quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm thực chất, lợi ích xã hội được giải quyết hài hòa và công bằng xã hội được thực thi hiệu quả. Trong điều kiện các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, niềm tin chính trị và đồng thuận xã hội trở thành nền tảng để chuyển hóa tinh thần yêu nước thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững đất nước.
Chú thích:
1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/xay-dung-nen-quoc-phong-toan-dan-vung-manh-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.
2. Bộ Quốc phòng (2019). Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 49 – 50.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 114.
4, 5. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập (1995). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 347 – 350.
6. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập (1995). Tập 2. H. N. NXB Chính trị quốc gia, tr. 123.
7. V.I. Lênin toàn tập (1979). Tập 39. Mátxcơva, NXB Tiến bộ, tr. 251.
8. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập (1995). Tập 22. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 775.
9. V.I. Lênin toàn tập (1979). Tập 6. Mátxcơva, NXB Tiến bộ, tr.158 – 159.
10, 11. V.I. Lênin toàn tập (1979). Tập 41. Mátxcơva, NXB Tiến bộ, tr. 479.
11. V.I. Lênin toàn tập (1979). Tập 44. Mátxcơva, NXB Tiến bộ, tr. 426.
12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 212.
13. Hồ Chí Minh (1992). Biên niên tiểu sử. Tập 1. H. NXB Thông tin Lý luận, tr. 185.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 110 – 111, 156-158.
15. V.I. Lênin toàn tập (1977). Tập 42. Mátxcơva, NXB Tiến bộ, tr. 311 – 312.
16, 17. Quốc hội (2018). Luật Quốc phòng năm 2018.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Bàn về khái niệm “thế trận lòng dân” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/02/ban-ve-khai-niem-the-tran-long-dan-trong-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang/
3. What’s new in Vietnam 2019 Defense White Paper?. https://vietnamnet.vn/en/whats-new-in-vietnam-2019-defense-white-paper-592880.html



