Trách nhiệm xã hội của các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam: Tiếp cận từ khung lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

ThS. Vũ Thị Hà
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh xã hội ngày càng đề cao quyền con người, công bằng xã hội và minh bạch thông tin, vai trò của các tổ chức lưu trữ đã có nhiều chuyển biến quan trọng. Bên cạnh việc thực hiện các nghĩa vụ theo quy định, các tổ chức lưu trữ cần xem xét và thực hiện trách nhiệm xã hội. Trên nền tảng khung lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bài viết liên hệ và đặt ra trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực lưu trữ nói chung và các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam nói riêng1. Nhận thức và thực hiện được trách nhiệm xã hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định vị thế của các lưu trữ lịch sử trong xã hội.

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội; doanh nghiệp; cam kết; lưu trữ lịch sử; Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Trách nhiệm xã hội (Social Responsibility – SR) là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa tổ chức/cá nhân với cộng đồng, trong đó tổ chức hay cá nhân không chỉ thực hiện chức năng chính mà còn cam kết đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh hiện đại, trách nhiệm xã hội đã trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và tính bền vững của các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp và tổ chức công. Các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam, với vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và phát huy giá trị tài liệu – nguồn di sản của dân tộc cũng cần nhận thức rõ và thực hiện trách nhiệm xã hội.

2. Các vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm xã hội

Trách nhiệm xã hội là sự bao hàm của hai khái niệm trách nhiệm và xã hội của các chủ thể tồn tại và tham gia vào đời sống xã hội. Trách nhiệm gắn liền với con người, đó là khả năng nhận thức về bổn phận, nghĩa vụ và hậu quả do những hành động của bản thân con người tạo ra. Xã hội là khái niệm để phân biệt với tự nhiên, bao gồm con người sinh sống và quan hệ với nhau trên tất cả các lĩnh vực, là tổng hòa các mối quan hệ của con người trong cùng một môi trường sinh sống như quốc gia, dân tộc… Theo đó, trách nhiệm xã hội là một khuôn khổ pháp lý và đạo đức, yêu cầu mỗi thực thể dù là cá nhân hay tổ chức có nghĩa vụ phải hành động vì lợi ích chung của xã hội. Khoa học xã hội coi trách nhiệm xã hội là một sự cam kết về tinh thần, đạo đức, văn hóa đối với gia đình và cộng đồng, môi trường.

Xét về bản chất, trách nhiệm xã hội là một sự tự nguyện, đứng trên trách nhiệm pháp lý với ý nghĩa điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trước và trong khi hoạt động (tính chủ động) hơn là đánh giá cá nhân, tổ chức sau khi hoàn tất nhiệm vụ. Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết tập trung vào đặc điểm của trách nhiệm xã hội, trước hết là bổn phận, nghĩa vụ và đạo đức của cá nhân/tổ chức với xã hội trên các phương diện của đời sống xã hội, trong đó phải được thể hiện trên tinh thần tự giác, tự nguyện. Những đặc điểm cơ bản của trách nhiệm xã hội đã được Carl Leslie Nfor Yembe (nhà hoạt động môi trường – Tổng Thư ký của tổ chức môi trường The Greens) khái quát, gồm2: (1) Trách nhiệm xã hội phải mang tính tự nguyện, đòi hỏi vượt ra ngoài các nghĩa vụ pháp lý; (2) Trách nhiệm xã hội thiên về tính chủ động giải quyết vấn đề hơn là phản ứng; (3) Trách nhiệm xã hội điều chỉnh cá nhân/tổ chức thực hiện hành động loại bỏ những hành vi tham nhũng, vô trách nhiệm, phi đạo đức có thể mang lại nguy hại cho cộng đồng; (4) Trách nhiệm xã hội bảo đảm tuân thủ luật hiện hành và phù hợp với các chuẩn mực hành vi quốc tế; (5) Trách nhiệm xã hội được tích hợp trong toàn bộ tổ chức và được thực hành trong các mối quan hệ của tổ chức; (6) Trách nhiệm xã hội là phương tiện để đạt được sự bền vững bởi việc áp dụng các nguyên tắc trách nhiệm xã hội chính như trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, có thể giúp bảo đảm khả năng tồn tại và thành công lâu dài của bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc hệ thống nào; (7) Trách nhiệm xã hội tính đến sự kỳ vọng của các bên liên quan (nhà nước, doanh nghiệp, hệ thống đoàn thể, cộng đồng và đối tác…).

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy, thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ mang lại nhiều giá trị và lợi ích to lớn cho mọi cá nhân/tổ chức. Đây được xem không chỉ là lợi thế mà còn là nhu cầu khách quan để tồn tại và trở nên bền vững của các tổ chức trong thời đại ngày nay.

2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) được đưa ra đầu tiên bởi Howad R. Bowen trong Social Responsibility of the businessmen (trách nhiệm xã hội của giới kinh doanh)3. Trong đó, CSR thể hiện đạo đức cơ bản của một công ty có cách ứng xử với xã hội, như: tuân theo hành vi đạo đức đối với các bên liên quan và công nhận tinh thần của môi trường pháp lý và quy định. Đồng thời, chỉ rõ cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các học giả có thể coi các đối tượng này như một phần của hoạch định chiến lược và ra quyết định quản lý.

Tiếp sau Bowen, nhiều doanh nghiệp, học giả bắt đầu đề cập, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đặc biệt là giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX. Milton Friedman, tác giả của giải Nobel kinh tế năm 1970 cho rằng, CSR là gia tăng lợi nhuận4. Quan điểm này tiếp tục được Friedman khẳng định khi cho rằng, ngoài trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện bằng cách nâng cao khả năng sinh lời cho các cổ đông – những người có quyền sở hữu đối với doanh nghiệp5.

Đến năm 2010, R. Edward Freeman cho rằng, không thể chỉ xem xét CSR trong mối tương quan giữa doanh nghiệp và cổ đông mà phải được mở rộng sang nhiều mối quan hệ khác – các bên có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi hoạt động của doanh nghiệp6. Doanh nghiệp khi thực thi trách nhiệm xã hội phải xác định đầy đủ những người, nhóm người được coi là các bên liên quan để từ đó có biện pháp và hành động làm thỏa mãn những lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ. Qua đó, chứng minh CSR có mối quan hệ tích cực/thuận chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong dài hạn.

Khi nghiên cứu về mô hình cấu trúc khái niệm các khía cạnh của hoạt động doanh nghiệp trong hai công trình7: Mô hình cấu trúc khái niệm ba khía cạnh của hoạt động doanh nghiệpTrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: đánh giá qua cấu trúc định nghĩa, Archie B. Caroll đưa ra mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội bao gồm 4 lớp8:

(1) Trách nhiệm kinh tế (economic Responsibilities) là sản xuất cho xã hội các sản phẩm và dịch vụ có giá trị và nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hoàn trả các tổ chức tín dụng và các cổ đông. Đây là mục tiêu và điều kiện tiên quyết của mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động của mình.

(2) Trách nhiệm pháp lý (legal Responsibilities) là trách nhiệm tuân thủ các đạo luật của Nhà nước và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp.

(3) Trách nhiệm đạo đức (ethical Responsibilities) là tuân thủ những niềm tin và chuẩn mực hành vi được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Đó là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “luật hóa” thông qua các văn bản.

(4) Trách nhiệm tự nguyện (discretionary Responsibiities) hay trách nhiệm nhân văn (philanthropic Responsibilities) là các nghĩa vụ đơn thuần tự nguyện được doanh nghiệp thực hiện như đóng góp cho các dự án cộng đồng, các tổ chức từ thiện…

Các trách nhiệm này được sắp xếp thứ tự ưu tiên theo lập luận một doanh nghiệp trước hết phải tạo ra lợi nhuận để hoàn thành trách nhiệm kinh tế, phải tuân thủ pháp luật, hoàn thành trách nhiệm pháp lý để có thể tồn tại và phát triển. Quan điểm của Caroll đánh dấu bước phát triển lớn về khái niệm CSR, đưa nó vượt ra khỏi phạm vi kinh tế, luật pháp, mở rộng tới trách nhiệm đạo đức, tự nguyện để đáp ứng với những lo ngại gia tăng các vấn đề đạo đức trong các doanh nghiệp hiện nay. Đây là một khuôn khổ được công nhận rộng rãi, cung cấp một cách tiếp cận có cấu trúc để thực hành trong thực tế. Tuy nhiên, mô hình này cũng vấp phải chỉ trích về tính thứ bậc, khả năng xung đột trách nhiệm và chưa đề cập đến trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường sống của con người.

Trong thời gian gần đây, có một số lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp9, như:

(1) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tích hợp (Integrated CSR): nhấn mạnh sự cần thiết của việc tích hợp CSR vào mọi khía cạnh chiến lược và hoạt động kinh doanh, thay vì xem nó như hoạt động riêng biệt. Thay vì chỉ thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội mang tính chất từ thiện hoặc đối phó, các công ty có trách nhiệm xã hội tích hợp sẽ nỗ lực để các mục tiêu xã hội và môi trường song hành với các mục tiêu kinh doanh, tạo ra giá trị đồng thời cho cả doanh nghiệp và xã hội.

(2) Tạo giá trị chung (Creating Share Value – CSV): tập trung cụ thể vào việc xác định và mở rộng các mối liên kết giữa tiến bộ kinh tế và xã hội. Theo đó, các công ty có thể tạo ra giá trị kinh tế bằng cách tạo ra giá trị cho xã hội, giải quyết các nhu cầu và thách thức của xã hội thông qua các mô hình kinh doanh có lợi nhuận.

(3) Công dân Doanh nghiệp (Corporate Citizenship): xem xét các tập đoàn như những thành viên có trách nhiệm xã hội, với các quyền và nghĩa vụ tương tự như công dân cá nhân. Công dân doanh nghiệp tốt vượt ra ngoài các nghĩa vụ pháp lý và đạo đức tối thiểu để tích cực đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng và xã hội nói chung.

Như vậy, các nghiên cứu về CSR đã phát triển đáng kể theo thời gian, từ các hoạt động từ thiện ban đầu đến các cách tiếp cận chiến lược và tích hợp hơn, phản ánh sự kỳ vọng ngày càng tăng và sự hiểu biết sâu sắc hơn về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội. Các lý thuyết nền tảng này cùng với các mô hình và khuôn khổ khác, tiếp tục định hình các hoạt động CSR và cung cấp các khuôn khổ để thực hiện trong thực tế. Từ đây, các tổ chức có thể phát triển các hoạt động kinh doanh có trách nhiệm và bền vững hơn, góp phần vào thành công của doanh nghiệp và gia tăng phúc lợi cho xã hội.

2.3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn cơ bản sau:

Giai đoạn trước năm 2010: được xem là giai đoạn nền tảng ban đầu, các nghiên cứu tập trung vào việc hiểu và định nghĩa CSR trong bối cảnh Việt Nam thông qua các chuẩn mực và mô hình quốc tế như mô hình kim tự tháp của Caroll, lý thuyết các bên liên quan… Sự hiểu biết ban đầu về CSR thường được đánh đồng với hoạt động từ thiện và công tác cộng đồng. Đối tượng khảo sát ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào các công ty đa quốc gia và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Giai đoạn từ năm 2010 2020: là giai đoạn mở rộng và điều tra thực nghiệm. Sự tăng trưởng của nghiên cứu định lượng, điều tra mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính thông qua các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Các nghiên cứu cũng khám phá các khía cạnh khác nhau của trách nhiệm xã hội, như: kinh tế, xã hội, môi trường và tác động khác đối với hiệu quả tài chính. Nhiều nghiên cứu đã khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng CSR Việt Nam, bao gồm: cơ cấu sở hữu, quốc tế hóa và áp lực từ các bên liên quan (khách hàng, chính phủ, nhà đầu tư). Bên cạnh đó, các điều tra về tiêu chuẩn lao động, việc tuân thủ các quy định quốc tế, về niềm tin tổ chức, tác động với các bên liên quan, với cộng đồng địa phương hay các đề xuất mô hình và khuôn khổ trách nhiệm xã hội phù hợp với bối cảnh môi trường, văn hóa và pháp lý của Việt Nam cũng được thực hiện và trở nên phổ biến.

Giai đoạn từ năm 2020 đến nay: nghiên cứu chuyên biệt và tích hợp với các mục tiêu phát triển bền vững, như: tính bền vững môi trường, trách nhiệm chuỗi cung ứng và tác động xã hội. Các nghiên cứu tập trung vào đánh giá hiệu quả các giải pháp của doanh nghiệp với môi trường, các chương trình hỗ trợ cộng đồng bị ảnh hưởng, nhấn mạnh vai trò của các doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu của phát triển bền vững, sự phù hợp giữa chiến lược kinh doanh và các ưu tiên phát triển bền vững quốc gia…

Mặc dù vậy, đây vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ nên trong thực tế, không ít doanh nghiệp, doanh nhân chỉ lo sản xuất – kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận cao, giải quyết tốt vấn đề lợi ích cho doanh nghiệp, cho người lao động mà vi phạm Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường… Việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp Việt Nam đa phần mang nhiều tính bắt buộc hoặc là tự phát hơn là tự giác, gắn liền với hoạt động kinh doanh và hình ảnh của doanh nghiệp. Nhiều bộ quy tắc ứng xử và các tiêu chuẩn về CSR, như: SA8000, WRAP, ISO 14000, ISO 26000, GRI đã được áp dụng… song các tiêu chuẩn này không phải là thỏa thuận giữa các chính phủ hay quy định của công ước quốc tế, vì vậy, ràng buộc chỉ là giữa các nhà xuất, nhập khẩu hoặc do chính doanh nghiệp đặt ra. Đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chưa có khả năng đạt được những chứng chỉ, bộ quy tắc ứng xử trách nhiệm xã hội.

Việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn trong việc thực hiện CSR theo nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam10 là do các nguyên nhân sau: (1) Nhận thức về khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn hạn chế; (2) Năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; (3) Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa); (4) Sự nhầm lẫn do khác biệt giữa quy định của trách nhiệm xã hội và Bộ luật Lao động; (5) Những quy định trong nước ảnh hưởng tới việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử. Do đó, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần được quan tâm nhiều hơn bởi người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu. Những doanh nghiệp không tuân thủ các quy định về trách nhiệm xã hội có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.

3. Trách nhiệm xã hội của các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam

3.1. Trách nhiệm xã hội trong hoạt động của các tổ chức lưu trữ

Trong những thập niên gần đây, cùng với quá trình đổi mới quản trị công và hội nhập quốc tế, yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình và phục vụ xã hội ngày càng trở thành những nguyên tắc cốt lõi trong quản lý nhà nước. Trong lĩnh vực lưu trữ, hệ thống pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý của các cơ quan lưu trữ nói chung và các lưu trữ lịch sử nói riêng. Tuy nhiên, cách tiếp cận chủ yếu vẫn dừng lại ở việc xác lập nghĩa vụ hành chính – pháp lý, trong khi khía cạnh trách nhiệm xã hội chưa được nhận diện và luận giải một cách có hệ thống dưới góc độ lý luận quản lý nhà nước.Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiếp cận theo hướng vận dụng lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm gợi mở cách tiếp cận trách nhiệm xã hội đối với các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam. Cách tiếp cận này không nhằm “doanh nghiệp hóa” hoạt động lưu trữ mà hướng tới mở rộng tư duy quản lý, bổ sung cơ sở lý luận cho việc nhìn nhận vai trò xã hội của các lưu trữ lịch sử trong bối cảnh quản lý nhà nước hiện đại.

Trách nhiệm xã hội lưu trữ (Archival Social Responsibility – ASR) là một khái niệm mới, được mở rộng từ nền tảng của CSR nhưng điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của lĩnh vực lưu trữ. ASR đề cập đến nghĩa vụ của các tổ chức lưu trữ trong việc phục vụ cộng đồng, bảo tồn di sản, cung cấp thông tin và thúc đẩy sự công bằng, minh bạch, bảo đảm quyền truy cập thông tin, phản ánh đa dạng các tiếng nói và quan điểm trong xã hội, chứ không đơn thuần là bảo quản tài liệu.

Mặc dù ASR chưa được khái quát hoặc hệ thống hóa thành một lý thuyết hay mô hình trách nhiệm xã hội hoàn chỉnh như CSR nhưng cả hai loại này chia sẻ một nền tảng đạo lý và xã hội chung, đều phản ánh sự cam kết của tổ chức đối với lợi ích chung của xã hội và hướng tới phát triển bền vững, khẳng định vai trò tích cực của tổ chức trong đời sống cộng đồng, đề cao tính minh bạch, đạo đức và trách nhiệm với các bên liên quan. Khi CSR tập trung vào các đối tượng, như: cổ đông, người tiêu dùng, người lao động và cộng đồng thì ASR phục vụ các cơ quan công quyền, nhà nghiên cứu, cộng đồng địa phương và toàn xã hội. CSR thường gắn liền với chiến lược thương hiệu, gia tăng lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, trong khi các tổ chức lưu trữ, đặc biệt là lưu trữ công, thực hiện ASR chủ yếu dựa trên nghĩa vụ xã hội và đạo đức đức nghề nghiệp để giữ gìn di sản văn hóa – lịch sử, phục vụ công chúng và hỗ trợ công cuộc quản lý xã hội. Doanh nghiệp có thể lựa chọn mức độ tham gia CSR nhưng với tổ chức lưu trữ, việc thực hiện ASR là một phần tất yếu trong sứ mệnh cộng đồng.

Như vậy, các giá trị chung và những khác biệt giữa CSR và ASR có thể bổ sung cho nhau để nhấn mạnh một cam kết xã hội rộng lớn đối với hành vi có trách nhiệm. Nghiên cứu và hợp tác sâu hơn giữa các lĩnh vực này có thể thúc đẩy sự hiểu biết toàn diện hơn về trách nhiệm xã hội và góp phần xây dựng một thế giới minh bạch, có trách nhiệm và có ý thức xã hội hơn. Việc tiếp cận ASR từ góc độ lý luận và thực tiễn là cần thiết để xây dựng nền tảng khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách và triển khai các hoạt động lưu trữ phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội hiện đại. Do đó, khung ASR được đề xuất bao gồm các tầng trách nhiệm sau:

Hình 1: Minh họa trách nhiệm xã hội của các tổ chức lưu trữ

Nguồn: Tác giả thực hiện năm 2025.

Nhìn từ Hình 1 cho thấy, các trách nhiệm cơ bản của các tổ chức lưu trữ được xác định trọng tâm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: môi trường văn hóa, xã hội, thể chế chính trị của quốc gia, sự khác biệt trong quy định pháp lý giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Hiện nay, nhiều tổ chức lưu trữ quốc tế đã chính thức công nhận và thúc đẩy nguyên tắc trách nhiệm xã hội trong đạo đức nghề nghiệp.

Hiệp hội Lưu trữ Hoa Kỳ (SAA), trong tuyên bố “Giá trị cốt lõi và Bộ quy tắc đạo đức” khẳng định: trách nhiệm xã hội: nền tảng cho tất cả các hoạt động chuyên môn của các nhà lưu trữ là trách nhiệm của họ đối với xã hội và lợi ích chung… Tài liệu lưu trữ là một phần của di sản văn hóa của tất cả các thành viên trong xã hội11. Đồng thời, nhấn mạnh công việc lưu trữ không chỉ là kỹ thuật mà còn là hành vi đạo đức và chính trị có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Tương tự, Hội đồng Lưu trữ Quốc tế (ICA)12 đã xác định trách nhiệm bảo vệ quyền con người và đấu tranh chống lại sự lãng quên lịch sử là một phần thiết yếu trong sứ mệnh của các tổ chức lưu trữ.

Các tổ chức lưu trữ lớn trên thế giới (SAA, ICA) luôn nhấn mạnh vào một số khía cạnh thuộc trách nhiệm đạo đức của các nhà lưu trữ trong việc thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, như: (1) Duy trì tính toàn vẹn của các hồ sơ, tài liệu thuộc quyền quản lý, bảo đảm tính tin cậy của thông tin; bảo vệ quyền riêng tư của người hiến tặng và các cá nhân hoặc nhóm là đối tượng của hồ sơ là một cân nhắc đạo đức quan trọng đối với các nhà lưu trữ; (2) Bảo vệ tất cả các hồ sơ/tài liệu và quản lý để hạn chế sự hư hỏng vật lý, xuống cấp và trộm cắp; (3) Thúc đẩy quyền truy cập công bằng và bình đẳng vào các dịch vụ và hồ sơ/tài liệu, không phân biệt đối xử hoặc ưu đãi; (4) Trung thực, khách quan trong thu thập, đánh giá và xử lý tài liệu lịch sử mà không cho phép niềm tin (tôn giáo, tín ngưỡng, thể chế chính trị, môi trường xã hội) hoặc quan điểm cá nhân ảnh hưởng đến quyết định. Họ cũng phải tránh thu lợi hoặc hưởng lợi từ quyền truy cập đặc quyền của họ vào các hồ sơ/tài liệu lịch sử.

Để phù hợp với bối cảnh hiện nay, các tổ chức lưu trữ có thể nhấn mạnh vào những nội dung chính, như: số hóa tài liệu để mở rộng khả năng tiếp cận; bảo vệ môi trường thông qua sử dụng vật liệu bảo quản thân thiện; bảo đảm quyền lợi của người sử dụng thông tin trong tài liệu; công bố và giới thiệu giá trị của tài liệu lưu trữ theo từng chủ đề/chủ điểm…

Dù các nghiên cứu thực tiễn từ các tổ chức lưu trữ quốc tế như UNESCO, ICA đã chỉ ra rằng việc triển khai ASR có thể giúp tăng cường sự minh bạch, giảm thiểu rủi ro thất thoát dữ liệu, đồng thời thúc đẩy các giá trị đạo đức trong lĩnh vực lưu trữ. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội ngày càng đề cao quyền con người, công bằng xã hội và minh bạch thông tin, vai trò của các tổ chức lưu trữ đã có nhiều chuyển biến quan trọng. Không còn giới hạn trong chức năng thu thập, bảo quản và cung cấp tài liệu, các tổ chức lưu trữ ngày nay ngày càng thể hiện rõ vai trò xã hội và đóng góp vào mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội thông qua việc gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa, giới thiệu, lan toả giá trị thông tin, mở rộng phạm vi và gia tăng mức độ khai thác, cung cấp tài liệu, thúc đẩy sự đa dạng các giá trị đạo đức, nhân văn. Trách nhiệm xã hội đã và đang trở thành một trong những nguyên tắc cốt lõi định hướng cho hoạt động lưu trữ trong thế kỷ XXI. Tuy vậy, vẫn còn nhiều thách thức như về tài chính, thiếu sự hợp tác giữa các bên và quy định pháp lý khác nhau giữa các quốc gia… trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức lưu trữ.

3.2. Trách nhiệm xã hội của các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam

Ở nước ta, lưu trữ lịch sử là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống quản lý nhà nước về lưu trữ, có chức năng tiếp nhận, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ vĩnh viễn – một loại tài sản công đặc biệt, mang giá trị pháp lý, lịch sử, văn hóa và khoa học lâu dài. Khoản 9 Điều 2 Luật Lưu trữ năm 2024 quy định “Lưu trữ lịch sử là cơ quan thực hiện lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ vĩnh viễn được tiếp nhận từ cơ quan, tổ chức và tài liệu lưu trữ khác theo quy định của pháp luật”. Theo khoản 2 Điều 12: “Lưu trữ lịch sử của Nhà nước ở trung ương và cấp tỉnh trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ vĩnh viễn và tài liệu lưu trữ khác theo quy định của pháp luật. Lưu trữ lịch sử thực hiện hoạt động thu nộp, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, số hóa, tạo lập cơ sở dữ liệu, tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ theo quy định”.

Như vậy, về mặt pháp lý, hoạt động của các lưu trữ lịch sử được điều chỉnh tương đối đầy đủ bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm trong quản lý tài liệu lưu trữ. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chủ yếu tập trung vào việc xác lập nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm hành chính, chưa tiếp cận lưu trữ lịch sử dưới góc độ trách nhiệm xã hội như một hệ giá trị bổ sung, mang tính định hướng hành vi và chuẩn mực đạo đức trong quản lý công.

Hiện nay, khi yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình, phục vụ người dân và phát triển bền vững ngày càng được nhấn mạnh, việc tiếp cận trách nhiệm xã hội đối với các lưu trữ lịch sử trở thành một yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn. Trách nhiệm xã hội, trong trường hợp này không nhằm thay thế hay làm mờ nhạt các nghĩa vụ pháp lý đã được luật hóa mà đóng vai trò mở rộng không gian nhận thức, giúp nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò xã hội của lưu trữ lịch sử với tư cách là một thiết chế công phục vụ lợi ích chung.

Từ khung lý thuyết về trách nhiệm xã hội của các tổ chức lưu trữ nói chung, có thể xem xét, đề xuất trách nhiệm xã hội đối với các lưu trữ lịch sử ở Việt Nam trên các khía cạnh sau:

(1) Trách nhiệm xã hội về mặt chính trị: đây là trách nhiệm cốt lõi, gắn liền với vị trí là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước. Trách nhiệm này xuất phát từ nguyên tắc căn bản của công tác lưu trữ đó là nguyên tắc chính trị (tính đảng), gồm: góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh thông tin quốc gia (quản lý an toàn, bảo mật tuyệt đối các tài liệu lưu trữ và cơ sở dữ liệu quốc gia, những bằng chứng gốc phản ánh hoạt động của Nhà nước, xã hội và lịch sử dân tộc, trong đó có các hồ sơ địa giới hành chính các cấp, tài liệu về biên giới, lãnh thổ hình thành qua các thời kỳ lịch sử…); góp phần duy trì tính liên tục và tính pháp lý của nền hành chính (lưu giữ hồ sơ của các cơ quan nhà nước qua các thời kỳ lịch sử nhằm bảo đảm tính xác thực cho hoạt động của bộ máy nhà nước và phục vụ công tác tra cứu, chứng thực pháp lý); thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao (trực tiếp quản lý tài liệu của các cơ quan trung ương, doanh nghiệp nhà nước trọng điểm; xây dựng các đề án, chiến lược chuyển đổi số trong công tác lưu trữ để phù hợp với chủ trương về chính phủ điện tử).

(2) Trách nhiệm xã hội về mặt pháp lý: được xem xét như sau:

Trách nhiệm quản lý an toàn, bảo mật thông tin đối với tài liệu lưu trữ. Mỗi lưu trữ lịch sử được Nhà nước giao quản lý các khối tài liệu cụ thể (ví dụ: Trung tâm I: Chịu trách nhiệm pháp lý với tài liệu Châu bản, Mộc bản (nếu có trong phông), tài liệu Phong kiến, Pháp thuộc ở Bắc Kỳ; Trung tâm II: Chịu trách nhiệm với tài liệu Phong kiến, Pháp thuộc ở Nam Kỳ, tài liệu Việt Nam Cộng hòa; Trung tâm III: Chịu trách nhiệm với tài liệu TW trên địa bàn từ Quảng Bình trở ra Bắc (sau 1945/1975); Trung tâm IV: Chịu trách nhiệm đặc biệt với Mộc bản Triều Nguyễn và tài liệu khu vực miền Trung – Tây Nguyên; Trung tâm Tài liệu điện tử: Chịu trách nhiệm pháp lý về tiếp nhận, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ số và cơ sở dữ liệu quốc gia). Để hoàn thành nhiệm vụ, các lưu trữ lịch sử phải bảo vệ tình trạng vật lý của tài liệu và dữ liệu lưu trữ. Việc công bố, cung cấp thông tin trên cổng thông tin điện tử hay các phương tiện truyền thông cần phải tuân thủ quy định của pháp luật về cung cấp thông tin.

Trách nhiệm quản lý tài chính và tài sản công. Các lưu trữ lịch sử có trách nhiệm quản lý, sử dụng người làm việc, cơ sở vật chất, ngân sách theo đúng quy định của pháp luật và phân cấp quản lý. Ngoài ra, các trung tâmđược phép sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết nhưng phải theo quy định của pháp luật. Mọi hoạt động thu chi từ dịch vụ công (chỉnh lý, số hóa, tu bổ…) đều phải tuân thủ các quy định tài chính kế toán hiện hành.

Trách nhiệm tuân thủ quy trình nghiệp vụ. Hoạt động nghiệp vụ của các lưu trữ không phải tự phát mà mang tính pháp quy, do vậy, các trung tâm cần tuân thủ quy trình nghiệp vụ của công tác lưu trữ.

Chuẩn hóa dữ liệu. Các lưu trữ lịch sử có trách nhiệm chuẩn hóa tài liệu số trước khi cập nhật vào hệ thống, bảo đảm tính pháp lý và kỹ thuật của dữ liệu.

(3) Trách nhiệm xã hội về mặt kinh tế. Các lưu trữ lịch sử không chỉ là nơi “giữ giấy tờ” mà còn phải vận hành như một đơn vị có hiệu quả kinh tế và đóng góp vào nền kinh tế tri thức, như: quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản công; cung cấp dịch vụ công và tạo ra giá trị gia tang, tổ chức phát huy giá trị tài liệu thông qua các hình thức, như: xuất bản, triển lãm, làm phiên bản… cũng tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế.

(4) Trách nhiệm về mặt đạo đức. Đây là một trong những trụ cột quan trọng của trách nhiệm xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực lưu trữ – nơi gắn liền với việc bảo tồn sự thật lịch sử và ký ức xã hội. Đối với các lưu trữ lịch sử, trách nhiệm đạo đức được thể hiện trước hết ở sự trung thực, khách quan trong quá trình thu thập, đánh giá, xử lý và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ. Tiếp cận theo trách nhiệm xã hội đòi hỏi các lưu trữ lịch sử phải tôn trọng sự đa dạng của ký ức xã hội, bảo đảm rằng các quyết định chuyên môn không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ hay quan điểm cá nhân; phục vụ nhu cầu tiếp cận thông tin của công chúng, cung cấp thông tin, đa dạng hóacác hoạt động như biên soạn, dịch thuật, truyền thông, số hóa… giúp người dân, nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp cận tri thức lịch sử; đồng thời bảo vệ quyền riêng tư, quyền nhân thân của cá nhân, tổ chức có liên quan đến tài liệu lưu trữ. Ngoài ra, trách nhiệm đạo đức còn gắn với giá trị nhân văn sâu sắc của hoạt động lưu trữ, thể hiện ở việc kết nối các thế hệ, ghi nhận và bảo tồn đóng góp của cá nhân, cộng đồng, dòng họ đối với lịch sử dân tộc; qua đó, góp phần nuôi dưỡng ý thức lịch sử, bản sắc văn hóa và trách nhiệm công dân trong xã hội.

(5) Trách nhiệm về mặt môi trường. Trong bối cảnh phát triển bền vững trở thành mục tiêu chung của quản lý nhà nước, trách nhiệm xã hội của các lưu trữ lịch sử còn thể hiện ở việc quan tâm đến yếu tố môi trường và tính bền vững lâu dài của hoạt động lưu trữ. Điều này bao gồm việc sử dụng hợp lý các vật tư, hóa chất bảo quản; bảo đảm an toàn, sức khỏe cho người lao động; từng bước ứng dụng công nghệ số nhằm giảm thiểu rác thải giấy và nâng cao hiệu quả quản lý tài liệu.

4. Kết luận

Qua phân tích trên cho thấy, sự khác biệt cơ bản về mục tiêu – lợi nhuận so với bảo tồn – định hình trách nhiệm xã hội và bối cảnh hoạt động của các doanh nghiệp và các tổ chức lưu trữ. Tuy vậy, các nguyên tắc cơ bản của CSR và ASR lại tương đồng đáng kể. Điều này thể hiện một hệ thống giá trị xã hội rộng lớn nhấn mạnh tính cởi mới, trách nhiệm đối với các bên liên quan, tăng cường kết nối và phục vụ cộng đồng đang dần chiếm lĩnh và trở thành xu thế. Doanh nghiệp, các tổ chức lưu trữ hay bất cứ cơ quan/tổ chức nào cũng cần phải thực hiện trách nhiệm đối với xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững.

Chú thích:
1. Bài viết thuộc Đề tài: “Xây dựng tiêu chí đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các lưu trữ lịch sử Việt Nam”,số CS.2023.08, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Yembe, C.L.N (2015). Corporate Social Responsibility: Understanding the Characteristics and Benefits” (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Hiểu về đặc điểm và lợi ích). Y’ems Group Incorporates.
3. Bowen, H, R, (1953) Social Responsibility of the businessmen. https://books.google.com.vn/books/about/Social_Responsibilities_of_the_Businessm.html?id=ALIPAwAAQBAJ&redir_esc=y
4. Milton Friedman (1970). The Social Responsibility of Business is to increase its Profits. The New York Times Magazine, September 13, pp. 122 – 126.
5. Milton Friedman (1962). Capitalism and Freedom (Chủ nghĩa tư bản và tự do – Chương VIII: Độc quyền và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và người lao động), tr. 130.
6. Strategic Management: A Stakeholder Approach (Quản trị chiến lược: Một cách tiếp cận từ các bên liên quan). https://books.google.com.vn/books/about/Strategic_Management.html?id=NpmA_qEiOpkC&redir_esc=y.
7. Archie B. Caroll (1979). A three-Dimensional Conceptual Model of Corporate. Performmance, Academy of Mangement Review, 4 (4), 497-505.
8. Archie B. Caroll (1999). Corporate social Responsibility: Evoluation of a definitional Construct. Business & Society, 38 (3), 268 – 295.
9. Michael E. Porter và Mark R. Kramer (2006). Strategy and Society: The Link Between Competitive Advantage and Corporate Social Responsibility. Harvard Business Review.
10. World Bank Documents & Reports. https://data.worldbank.org/country/viet-nam, truy cập ngày 10/11/2025.  
11. Tuyên bố về các giá trị cốt lõi và quy tắc đạo đức của SAA. https://www2.archivists.org/statements/saa-core-values-statement-and-code-of-ethics.
12. Basic Principles on the Role of Archivists and Records Managers in Support of Human Rights. https://www.ica.org/app/uploads/2023/12/ICA-HRWG-Basic-Principles_endorsed-by-PCOM_2016_Sept_English.pdf
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Thị Kim Chi (2016). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ Triết học, Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Chinh, Phạm Thị Hồng Quyên (2020). Xã hội hóa hoạt động lưu trữ – Góc nhìn từ các cơ quan nhà nước. Tạp chí Dấu án thời gian, số 2/2020, tr. 48 – 52.
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (2008). Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội. Tạp chí Triết học, số 2/2008, tr. 35 – 39.
4. Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền (1990). Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ. H. NXBĐại học và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội.
5. Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (1992). Từ điển lưu trữ Việt Nam. Hà Nội.
6. Trịnh Việt Dũng (2018). Truyền thông xã hội trong lĩnh vực lưu trữ ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra. Tạp chí Văn thư – Lưu trữ Việt Nam, số 6/2018, tr. 15 – 22.
7. Cam Anh Tuấn (2020). Vấn đề đạo đức trong thực thi công vụ của người làm lưu trữ. Tạp chí Dấu án thời gian, số 6/2020, tr. 22-27.
8. Hội đồng Lưu trữ Quốc tế (ICA). https://www.ica.org/app/uploads/2023/12/ICA-HRWG-Basic- Principles_endorsed-by-PCOM_2016_Sept_English.pdf
* Ghi chú: Nội dung nghiên cứu này, thuộc đề tài mã số CS.2023.08, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.