Đinh Quang Hải
Học viện Chính trị khu vực III
(Quanlynhanuoc.vn) – Từ ngày 01/7/2025, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã được triển khai trên cả nước nói chung và tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Quá trình này cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực của đội ngũ công chức cấp xã – những người trực tiếp thực thi chính sách, giải quyết thủ tục hành chính và phục vụ người dân. Sau hơn 6 tháng triển khai, đội ngũ công chức phường Buôn Ma Thuột đã có những chuyển biến tích cực để đảm đương các nhiệm vụ mới, song cũng đối mặt với những hạn chế, thách thức. Thực tế đó đòi hỏi cần đánh giá khách quan, toàn diện về năng lực đội ngũ công chức của phường Buôn Ma Thuột để đề xuất giải pháp phù hợp, góp phần bảo đảm vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Năng lực; công chức phường; chính quyền địa phương hai cấp; phường Buôn Ma Thuột; tỉnh Đắk Lắk.
1. Thực trạng năng lực công chức phường Buôn Ma Thuột trước yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp
1.1. Về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng thích ứng với chuyển đổi số
Sau hơn 6 tháng vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức phường Buôn Ma Thuột đã có những chuyển biến tích cực. Trình độ chuyên môn của công chức từng bước được chuẩn hóa theo vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ, tạo nền tảng thuận lợi để tiếp cận các nội dung cải cách hành chính, quản lý đô thị và chuyển đổi số. Đặc biệt, lực lượng công chức trẻ ngày càng gia tăng, với tư duy đổi mới, khả năng ứng dụng công nghệ tốt và tinh thần chủ động cao. Đây là bộ phận đóng vai trò nòng cốt trong triển khai dịch vụ công trực tuyến, sử dụng phần mềm quản lý văn bản, ký số, tiếp nhận và xử lý phản ánh hiện trường, qua đó, góp phần cải thiện phương thức làm việc theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và gần dân hơn.
Cùng với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, Ủy ban nhân dân (UBND) phường đã ban hành các quyết định tiếp nhận và phân công công chức đến nhận công tác tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Đội ngũ công chức cơ bản nhanh chóng tiếp cận nội dung công việc, nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong bối cảnh phường đặt ra các mục tiêu cao về cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, như: 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện phải được cung cấp trực tuyến toàn trình; 342 dịch vụ công trực tuyến được tái cấu trúc; 82 nhóm thủ tục được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; thời gian xử lý hồ sơ rút ngắn tối thiểu 20 – 30% so với phương thức trực tiếp, nhiều công chức đã thích ứng khá nhanh1. Thực tiễn cho thấy, tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến trong các lĩnh vực hộ tịch, an sinh xã hội và đăng ký kinh doanh có xu hướng gia tăng rõ rệt, phản ánh khả năng thích ứng ban đầu của đội ngũ công chức với yêu cầu mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng với chuyển đổi số của đội ngũ công chức phường vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Dù đạt chuẩn về bằng cấp nhưng mức độ chuyên sâu về chuyên môn của không ít công chức chưa đáp ứng yêu cầu quản lý đô thị hiện đại. Nhiều công chức còn thiếu kiến thức chuyên sâu trong các lĩnh vực phức tạp, như: quản lý xây dựng – kiến trúc đô thị, đất đai, môi trường, quản trị rủi ro đô thị và phân tích dữ liệu dân cư, dữ liệu số. Hạn chế này dẫn đến tình trạng lúng túng khi xử lý các tình huống phức tạp, đặc biệt là những nhiệm vụ mới phát sinh sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành.
1.2. Về kỹ năng số
UBND phường Buôn Ma Thuột đã yêu cầu công chức tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn trực tuyến về chuyển đổi số, dịch vụ công trực tuyến, sử dụng hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, định danh điện tử VNeID và nền tảng “Bình dân học vụ số”. Qua đó, đội ngũ công chức từng bước hình thành thói quen làm việc trên môi trường số, chủ động sử dụng chữ ký số, phần mềm quản lý văn bản, các hệ thống chuyên ngành và nền tảng số phục vụ công tác chuyên môn. Kết quả cho thấy, 100% cán bộ, công chức được cấp chứng thư số và tỷ lệ ký số văn bản điện tử đạt trên 95%, phản ánh mức độ tiếp cận và làm chủ các kỹ năng số cơ bản trong hoạt động công vụ2.
Song song với việc vận hành các nền tảng số, công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số được triển khai với quy mô tương đối lớn. Theo đó, 100% công chức đã được bồi dưỡng, trang bị kỹ năng số; toàn bộ hồ sơ, văn bản hành chính được tiếp nhận, xử lý và quản lý chủ yếu trên môi trường điện tử thông qua các hệ thống thông tin dùng chung3. UBND phường đã tổ chức nhiều đợt tập huấn, cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đổi số do tỉnh tổ chức; đồng thời, yêu cầu toàn thể cán bộ, công chức tham gia các khóa học trên nền tảng đào tạo trực tuyến mở đại trà quốc gia, góp phần từng bước nâng cao năng lực thực thi công vụ trong môi trường số.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đó, kỹ năng số của đội ngũ công chức phường Buôn Ma Thuột vẫn bộc lộ những hạn chế. Trước hết, kỹ năng vận hành các nền tảng số còn thiếu đồng đều giữa các nhóm công chức. Một bộ phận công chức, đặc biệt là nhóm lớn tuổi gặp khó khăn trong việc tra cứu cơ sở dữ liệu dân cư, sử dụng chữ ký số USB Token và dịch vụ công trực tuyến. Thực tế cho thấy, một tỷ lệ đáng kể công chức phường còn lúng túng trong thao tác kỹ thuật, dẫn đến tình trạng sai định dạng hồ sơ, xử lý chậm hoặc phải bổ sung nhiều lần. Năng lực khai thác và phân tích dữ liệu số của một bộ phận công chức phường còn hạn chế. Phần lớn công chức mới dừng lại ở mức độ nhập liệu và cập nhật thông tin, chưa hình thành đầy đủ tư duy dữ liệu để sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý đô thị, theo dõi biến động dân cư, bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ công tác dự báo. Hạn chế này làm giảm hiệu quả ứng dụng công nghệ trong tham mưu, đề xuất chính sách ở địa phương.
Ngoài ra, kỷ luật và tác phong làm việc trong môi trường số chưa thực sự nghiêm. Một số biểu hiện, như: chậm kiểm tra hệ thống, vẫn yêu cầu bổ sung hồ sơ giấy dù đã gửi trên phần mềm hoặc báo cáo số liệu thiếu thống nhất do thao tác không đồng bộ vẫn còn xảy ra. Bên cạnh đó, hạ tầng số tại một số đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu, với tình trạng mạng nội bộ chập chờn, máy tính cũ, thiếu thiết bị scan tốc độ cao khiến việc số hóa hồ sơ tồn đọng kéo dài. Những hạn chế nêu trên cho thấy, kỹ năng số của đội ngũ công chức phường mới ở giai đoạn đầu, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong điều kiện chuyển đổi số toàn diện.
1.3. Về năng lực phối hợp liên ngành và thực thi nhiệm vụ
Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã làm gia tăng đáng kể yêu cầu phối hợp liên ngành và liên thông trong giải quyết công việc. Trong bối cảnh đó, đội ngũ công chức phường Buôn Ma Thuột từng bước đảm nhiệm vai trò đầu mối tiếp nhận, chuyển giao và theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ giữa phường với các phòng chuyên môn cấp thành phố. Công chức phường đã tham gia xử lý ngày càng nhiều hồ sơ liên thông trên các lĩnh vực có tính chất phức tạp và khối lượng lớn, như: đất đai, xây dựng đô thị, hộ tịch – tư pháp, an sinh xã hội, môi trường và đăng ký kinh doanh.
Ngoài việc ứng dụng các phần mềm tác nghiệp, như: hệ thống một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến và phần mềm quản lý văn bản. Một số công chức đã từng bước hình thành thói quen theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ trên môi trường số, góp phần rút ngắn thời gian luân chuyển thông tin giữa các đơn vị. Ở một số trường hợp, sự phối hợp giữa công chức phường trong giải quyết công việc đã giúp tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết hồ sơ, hạn chế tình trạng tồn đọng kéo dài. Những kết quả này cho thấy, năng lực phối hợp và thực thi nhiệm vụ của đội ngũ công chức phường đã có bước thích ứng ban đầu với yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan cho thấy, khả năng nắm bắt và vận hành quy trình phối hợp liên thông còn chưa đồng đều. Sau khi mô hình chính quyền hai cấp được triển khai, nhiều quy trình nội bộ được điều chỉnh, song việc phổ biến, hướng dẫn chưa kịp thời và thiếu thống nhất dẫn đến tình trạng mỗi phường hiểu và vận dụng theo những cách khác nhau. Không ít trường hợp hồ sơ phải bổ sung nhiều lần do công chức phường chưa nắm rõ yêu cầu đầu vào của phòng chuyên môn, phản ánh hạn chế trong kỹ năng đọc hiểu quy trình và dự báo yêu cầu xử lý. Nhiều công chức chủ yếu nắm kiến thức chuyên môn hẹp, thiếu khả năng kết nối thông tin giữa các lĩnh vực có liên quan, dẫn đến cách xử lý tình huống còn máy móc, thiếu tính tổng hợp. Tâm lý chờ đợi phản hồi từ cấp trên, thiếu chủ động theo dõi tiến độ hồ sơ trên hệ thống điện tử hoặc trao đổi trực tiếp để tháo gỡ điểm nghẽn vẫn khá phổ biến. Điều này làm giảm hiệu quả điều phối và kéo dài thời gian giải quyết công việc.
Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ quản lý tiến độ công việc hiện đại chưa thực sự hiệu quả. Mặc dù các phần mềm tác nghiệp đã được triển khai đồng bộ, song nhiều công chức chưa khai thác các chức năng nâng cao, như: nhắc hạn, theo dõi tiến độ hay lập báo cáo tự động mà vẫn quản lý công việc bằng sổ tay hoặc bảng tính cá nhân. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật tại một số đơn vị chưa ổn định, giao diện phần mềm xử lý chậm vào giờ cao điểm, ảnh hưởng đến khả năng cập nhật và điều phối hồ sơ.
Văn hóa phối hợp hành chính cũng chưa được hình thành rõ nét. Tâm lý e dè khi trao đổi với cơ quan chuyên môn cấp trên, sợ sai, sợ bị đánh giá, cùng với thói quen làm việc theo mô hình cũ “mỗi cấp làm phần việc của mình” đã cản trở việc hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ theo chuỗi giá trị công vụ.
1.4. Về năng lực thực thi pháp luật, ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ
Phần lớn công chức đã chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, kỷ luật hành chính và quy tắc ứng xử trong thi hành công vụ. So với giai đoạn trước, tác phong làm việc của nhiều công chức có sự cải thiện, thể hiện ở tinh thần chủ động hơn trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ và thái độ phục vụ người dân theo hướng chuẩn mực, chuyên nghiệp hơn.
Trong điều kiện phạm vi, thẩm quyền của phường được điều chỉnh theo các quy định mới về phân cấp, phân quyền, đội ngũ công chức đã từng bước tiếp cận và thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là trong các lĩnh vực thường xuyên phát sinh vụ việc như: trật tự đô thị, hộ tịch, an sinh xã hội và giải quyết thủ tục hành chính. Việc ứng dụng các hệ thống số trong quản lý hồ sơ và giám sát tiến độ xử lý cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của công chức trong thực thi nhiệm vụ.
Bên cạnh các kết quả đạt được, năng lực cập nhật và vận dụng pháp luật của một bộ phận công chức chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Theo các báo cáo đánh giá, khoảng 20% công chức còn gặp khó khăn trong việc cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật mới, đặc biệt trong các lĩnh vực thường xuyên thay đổi, như: đất đai, xây dựng, môi trường và an sinh xã hội4. Hệ quả là việc hướng dẫn thủ tục cho người dân đôi khi chưa chính xác hoặc áp dụng chưa thống nhất tại phường và các phường trên địa bàn tỉnh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải quyết hồ sơ và mức độ hài lòng của người dân.
Ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của một số trường hợp cũng chưa đáp ứng kỳ vọng. Mặc dù không xuất hiện các vi phạm nghiêm trọng, nhưng vẫn tồn tại những biểu hiện tiêu cực ở mức độ “nhỏ”, như: làm việc chậm trễ, thiếu chủ động, yêu cầu bổ sung giấy tờ không cần thiết, giao tiếp chưa chuẩn mực hoặc xử lý công việc mang tính cảm tính. Thậm chí, có hiện tượng công chức tự ý rời vị trí trong giờ làm việc, sử dụng điện thoại trong thời gian tiếp dân hoặc chưa tuân thủ đầy đủ quy trình pháp lý khi giải quyết hồ sơ. Nếu không được chấn chỉnh kịp thời, những biểu hiện này có thể làm suy giảm niềm tin của người dân vào nền hành chính cơ sở và cản trở việc vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
2. Một số giải pháp
Một là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn với vị trí việc làm và yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Xét về bản chất, hạn chế về năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức phường Buôn Ma Thuột không nằm ở việc thiếu bằng cấp mà ở chiều sâu chuyên môn và khả năng vận dụng kiến thức vào xử lý các vấn đề quản lý đô thị phát sinh trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Vì vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực chất hơn, sát với vị trí việc làm. Theo đó, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần được thiết kế dựa trên yêu cầu cụ thể của từng vị trí công tác, thay vì triển khai các chương trình mang tính chung chung, dàn trải. Đối với các lĩnh vực có tính phức tạp, như: quản lý trật tự xây dựng, đất đai, môi trường, hộ tịch – tư pháp và an sinh xã hội, nội dung bồi dưỡng phải tập trung vào kiến thức chuyên sâu, kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn và khả năng vận dụng pháp luật trong điều kiện đô thị. Việc đưa các tình huống cụ thể đã và đang phát sinh tại địa bàn phường vào chương trình đào tạo sẽ giúp công chức nâng cao năng lực phản ứng, giảm lúng túng khi giải quyết công việc.
Bên cạnh đó, đào tạo, bồi dưỡng cần gắn chặt với yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trong đó chú trọng tới năng lực thực thi nhiệm vụ liên thông và phối hợp với các phòng chuyên môn. Công chức phường ngoài việc cần nắm rõ phần việc của mình mà còn phải hiểu đầy đủ quy trình tổng thể, yêu cầu đầu vào và trách nhiệm của từng khâu xử lý hồ sơ. Có như vậy mới giúp tăng tính chủ động, hạn chế tình trạng bổ sung hồ sơ nhiều lần và rút ngắn thời gian giải quyết công việc. Quan trọng hơn, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được gắn với đánh giá năng lực thực thi công vụ. Kết quả đào tạo không nên dừng lại ở việc cấp chứng chỉ mà cần được phản ánh thông qua hiệu quả xử lý công việc, tiến độ giải quyết hồ sơ và mức độ hài lòng của người dân. Khi đào tạo trở thành một khâu của quy trình sử dụng, đánh giá và bố trí công chức, chất lượng đội ngũ công chức phường mới thực sự được nâng cao, đáp ứng yêu cầu vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, nâng cao năng lực số và hình thành tư duy dữ liệu cho đội ngũ công chức phường.
Trước hết, cần xác định rõ năng lực số của công chức phường không chỉ bao gồm khả năng vận hành phần mềm mà còn là khả năng khai thác, phân tích và sử dụng dữ liệu trong tham mưu, điều hành và giải quyết công việc. Việc nâng cao năng lực số phải tập trung vào trang bị tư duy dữ liệu, giúp công chức hiểu được giá trị của dữ liệu dân cư, dữ liệu hành chính và dữ liệu phản ánh hiện trường trong quản lý địa bàn. Khi công chức có khả năng đọc, phân tích và đặt câu hỏi từ dữ liệu, hiệu quả quản trị sẽ được nâng lên, thay vì chỉ dừng ở việc nhập liệu và cập nhật thông tin như hiện nay.
Cùng với đó, cần củng cố kỷ luật và tác phong làm việc trong môi trường số. Việc xử lý hồ sơ trên các hệ thống điện tử phải trở thành phương thức làm việc chủ đạo, thống nhất và bắt buộc, thay thế triệt để thói quen kết hợp giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử. Công chức cần được rèn luyện thói quen kiểm tra hệ thống thường xuyên, tuân thủ nghiêm quy trình số và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng xử lý hồ sơ trên môi trường mạng. Kỷ luật số cần được coi là một bộ phận của kỷ luật hành chính trong môi trường chính quyền số.
Bên cạnh yếu tố con người, việc nâng cao năng lực số cũng đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và điều kiện làm việc. Hệ thống mạng, thiết bị công nghệ và các phần mềm tác nghiệp phải được bảo đảm ổn định, thông suốt để công chức có thể khai thác hiệu quả các nền tảng số. Khi hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu, năng lực số của công chức mới có điều kiện phát huy trong thực tiễn, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Ba là, nâng cao năng lực phối hợp liên ngành và tổ chức thực thi nhiệm vụ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Để thực thi hiệu quả giải pháp này cần chuẩn hóa và làm rõ các quy trình phối hợp liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và xử lý công việc phát sinh trên địa bàn. Công chức phường phải được trang bị đầy đủ thông tin về quy trình tổng thể, yêu cầu đầu vào và trách nhiệm xử lý của từng khâu, từng cơ quan liên quan. Khi quy trình được chuẩn hóa và thống nhất, công chức phường mới có cơ sở để chủ động điều phối, hạn chế tình trạng lúng túng, hiểu không đồng nhất hoặc phải bổ sung hồ sơ nhiều lần như hiện nay.
Bên cạnh đó, cần định hình lại vai trò của công chức phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng trở thành “đầu mối điều phối” thay vì chỉ là khâu tiếp nhận và chuyển hồ sơ. Điều này đòi hỏi công chức phường vừa nắm vững chuyên môn của lĩnh vực phụ trách, vừa có khả năng theo dõi tiến độ, chủ động kết nối với các phòng chuyên môn cấp thành phố để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh. Việc nâng cao năng lực điều phối sẽ giúp giảm áp lực dồn ứ hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
Cùng với đó, cần thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý tiến độ công việc trên môi trường số. Các phần mềm tác nghiệp đã được triển khai cần được khai thác đầy đủ các chức năng theo dõi, nhắc hạn và báo cáo tiến độ, thay thế dần thói quen quản lý công việc thủ công, rời rạc. Khi tiến độ xử lý hồ sơ được giám sát minh bạch theo thời gian thực, trách nhiệm của từng khâu, từng cá nhân sẽ được xác định rõ hơn, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành.
Đặc biệt, cần từng bước hình thành văn hóa phối hợp hành chính dựa trên tinh thần chia sẻ trách nhiệm và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cấp, các cơ quan. Việc khuyến khích trao đổi nghiệp vụ, phản hồi hai chiều và chủ động kiến nghị điều chỉnh quy trình sẽ giúp công chức phường nâng cao năng lực tổ chức thực thi nhiệm vụ.
Bốn là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ của công chức phường.
Cần siết chặt kỷ luật thực thi công vụ trong môi trường hành chính hiện đại, coi việc tuân thủ quy trình, thời hạn và chuẩn mực ứng xử là yêu cầu bắt buộc. Công chức phường phải chịu trách nhiệm cá nhân rõ ràng đối với từng hồ sơ, từng nhiệm vụ được giao, hạn chế tình trạng né tránh trách nhiệm, xử lý công việc chậm trễ hoặc đùn đẩy sang bộ phận khác. Việc ứng dụng các hệ thống số trong theo dõi tiến độ và kết quả xử lý hồ sơ cần được sử dụng như một công cụ kiểm soát trách nhiệm, qua đó, tăng cường tính minh bạch và khả năng giám sát trong thực thi công vụ.
Bên cạnh đó, cần nâng cao trách nhiệm giải trình của công chức phường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mọi quyết định hành chính, hướng dẫn thủ tục và xử lý tình huống phát sinh phải được giải thích rõ ràng, có căn cứ pháp lý cụ thể, tránh tình trạng giải quyết cảm tính hoặc thiếu nhất quán. Trách nhiệm giải trình không chỉ giúp công chức nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền cơ sở.
Cùng với kỷ luật hành chính, việc bồi dưỡng và củng cố đạo đức công vụ cần được chú trọng thường xuyên. Công chức phường phải được rèn luyện thái độ phục vụ chuẩn mực, tinh thần tận tụy, liêm chính và tôn trọng người dân, khắc phục các biểu hiện tiêu cực dù ở mức độ nhỏ, như: gây phiền hà, yêu cầu giấy tờ không cần thiết hay giao tiếp thiếu chuẩn mực. Khi đạo đức công vụ được đặt đúng vị trí, kỷ luật hành chính mới thực sự đi vào chiều sâu và tạo ra sự chuyển biến bền vững trong chất lượng hoạt động của chính quyền phường.
Ngoài ra, cần gắn việc đánh giá công chức với kết quả thực thi nhiệm vụ và mức độ hài lòng của người dân, từng bước chuyển từ đánh giá hình thức sang đánh giá dựa trên sản phẩm đầu ra. Khi kỷ luật, kỷ cương hành chính, trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ được thực thi nghiêm túc, đội ngũ công chức phường sẽ có động lực tự hoàn thiện, qua đó, bảo đảm vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn hiện nay.
3. Kết luận
Thực tiễn triển khai mô hình mới ở phường Buôn Ma Thuột cho thấy, dù đội ngũ công chức đã có những chuyển biến tích cực về chuẩn hóa trình độ, thích ứng ban đầu với chuyển đổi số và cải thiện phương thức làm việc nhưng năng lực thực thi công vụ vẫn còn bộc lộ những hạn chế, thách thức cần khắc phục. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá khách quan, toàn diện trên các khía cạnh để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức phường một cách toàn diện, thực chất hơn, góp phần vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1. Đắk Lắk: Phường Buôn Ma Thuột khẳng định vị thế trung tâm phát triển bền vững của tỉnh. https://daibieunhandan.vn/dak-lak-phuong-buon-ma-thuot-khang-dinh-vi-the-trung-tam-phat-trien-ben-vung-cua-tinh-10393179.html
2. Ủy ban nhân dân Phường Buôn Ma Thuột (2025). Báo cáo Giám sát chuyên đề việc thực hiện chuyển đổi số của UBND phường phục vụ đoàn giám sát HĐND phường ngày 21/11/2025.
3. Ủy ban nhân dân Phường Buôn Ma Thuột (2025). Báo cáo giám sát chuyên đề việc thực hiện chuyển đổi số năm 2025 của UBND phường Buôn Ma Thuột.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2025). Báo cáo đánh giá kết quả bước đầu vận hành tổ chức chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ ngày 01/7/2025 – 22/9/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Hội đồng nhân dân phường Buôn Ma Thuột (2025). Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày 09/10/2025 quyết định giao biên chế cán bộ, công chức, số lượng hợp đồng lao động trong các cơ quan hành chính, tổng số lượng người làm việc và hợp đồng thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND phường Buôn Ma Thuột năm 2025.
2. Ủy ban nhân dân phường Buôn Ma Thuột (2025). Kế hoạch số 39/KH-BCĐ ngày 22/8/2025 về phổ cập, trang bị kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số, sử dụng các nền tảng số, dịch vụ số triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”.
3. Ủy ban nhân dân phường Buôn Ma Thuột (2025). Kế hoạch số 41-KH/UBND ngày 27/8/2025 về nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình cung cấp dịch vụ số mới được cá nhân hóa, dựa trên dữ liệu cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn phường Buôn Ma Thuột.



