Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức trong kỷ nguyên mới

TS. Tạ Quang Tuấn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức. Bài viết phân tích những yêu cầu mới về phẩm chất và năng lực hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức; đề xuất giải pháp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Từ khóa: Đào tạo, bồi dưỡng; hội nhập quốc tế; cán bộ, công chức; kỷ nguyên mới.

1. Đặt vấn đề

Tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn. Từ sau đổi mới năm 1986, đường lối đối ngoại, hội nhập độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa tiếp tục phát huy hiệu quả, giúp Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, tham gia nhiều tổ chức, hiệp định thương mại, đưa kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế hiện nay đầy biến động, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và những khó khăn nội tại của đất nước đang đặt ra nhiều thách thức về hội nhập quốc tế. Đó là, cần kiên định con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách thể chế phù hợp với thông lệ quốc tế; tiếp tục triển khai có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy gắn với nâng cao chất lượng và năng lực quản trị của cán bộ, công chức; tăng cường đầu tư khoa học – công nghệ, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; củng cố an ninh phi truyền thống, đặc biệt là ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh mạng và dịch bệnh; phát huy và duy trì phong cách ngoại giao “cây tre Việt Nam”, đối ngoại khôn khéo, tự chủ chiến lược, bảo vệ lợi ích quốc gia trong cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc.

Trong kỷ nguyên mới, với quyết tâm vươn lên thành nước phát triển vào năm 2045, việc tiếp tục kiên định và sáng tạo trong hội nhập quốc tế trên nền tảng độc lập, tự cường sẽ là yếu tố quyết định để bảo đảm phát triển bền vững và nâng cao vị thế Việt Nam. Muốn vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức, bởi đây là yếu tố con người, là then chốt của then chốt, là nền tảng vững chắc, tiên quyết bảo đảm cho hội nhập quốc tế thành công.

Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, việc phân cấp, phân quyền và kiến tạo môi trường quản trị đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức một cách chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với bối cảnh từng địa phương là yêu cầu cấp thiết. Đây cũng là những thách thức đối với công tác quản lý nhà nước và thực thi đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.

2. Yêu cầu mới về phẩm chất và năng lực hội nhập quốc tế của cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, thách thức an ninh phi truyền thống và cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả thì việc phát triển năng lực và phẩm chất hội nhập quốc tế của cán bộ, công chức là cấp thiết.

Thứ nhất, cần có phẩm chất và năng lực chính trị vững vàng trong hội nhập quốc tế. Theo đó, cán bộ, công chức cần nắm vững đường lối đối ngoại của Đảng, luật pháp của Nhà nước, thông lệ quốc tế; có tư duy chiến lược và năng lực tham mưu công tác chính trị; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ hai, cán bộ, công chức cần có năng lực chuyên môn và hiểu biết quốc tế. Đây là yêu cầu căn bản, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, không chỉ cán bộ, công chức lĩnh vực ngoại giao mà trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, giáo dục, an ninh… đều phải nắm được những kiến thức về hội nhập quốc tế, luật quốc tế, luật pháp của các nước là đối tác… Cùng với đó, ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp quốc tế trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia hiệu quả các diễn đàn hợp tác quốc tế song phương, đa phương.

Thứ ba, cán bộ, công chức cần có tư duy chiến lược và năng lực quản trị hiện đại. Đó là những người có tầm nhìn toàn cầu, dự báo xu hướng, tham mưu chính sách đúng đắn đối với ngành, lĩnh vực hoạt động và với địa phương; biết ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, quản trị dữ liệu, coi người dân và doanh nghiệp là trung tâm để phục vụ.

Thứ tư, cán bộ, công chức cần có đầy đủ phẩm chất đạo đức công vụ, như: cần, kiệm, liêm, chính. Trong hội nhập quốc tế, nguy cơ tham nhũng, lợi ích nhóm càng phức tạp, do đó rèn luyện đạo đức, xây dựng văn hóa liêm chính là yêu cầu cấp bách.

Thứ năm, cán bộ, công chức cần khả năng thích ứng và sáng tạo trong hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế là môi trường luôn biến động, do đó cán bộ, công chức phải nhanh nhạy, học hỏi, linh hoạt xử lý tình huống, sáng tạo trong tư duy và hành động để tận dụng cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển nền kinh tế xanh, bền vững; tranh thủ cơ hội và lợi thế từ các đối tác quốc tế…

Thứ sáu, cán bộ, công chức phải có năng lực lãnh đạo và kỹ năng làm việc đa phương như năng lực lãnh đạo, điều phối, thương lượng, thuyết phục, xây dựng sự đồng thuận… Mỗi cán bộ đại diện cho Việt Nam cần góp phần khẳng định hình ảnh quốc gia, có trách nhiệm, uy tín, qua đó phát huy “sức mạnh mềm” trong ngoại giao. Họ là cán bộ, công chức đa nhiệm, vừa giỏi chuyên môn, vừa phối hợp liên ngành, đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Từ các yêu cầu trên, có thể khẳng định phát triển phẩm chất và năng lực hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”. Một đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao, sáng tạo và thích ứng nhanh sẽ giúp Việt Nam tận dụng thời cơ, khẳng định vị thế trong hội nhập quốc tế.

3. Giải pháp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế đối với cán bộ, công chức hiện nay

3.1. Hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản quản lý nhà nước trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

Việc đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay không chỉ là yêu cầu khách quan xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa mà còn cụ thể hóa tinh thần và định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước, được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Để triển khai kịp thời và đồng bộ Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.

Nghị định số 171 quy định rõ về việc đào tạo, bồi dưỡng được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước. Điều này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với nguồn nhân lực công vụ mà còn khẳng định đây là nhiệm vụ chính trị trọng yếu. Bởi lẽ, việc ngân sách nhà nước bảo đảm là cách thức công bằng, hợp lý để tất cả cán bộ, công chức đều có cơ hội bồi dưỡng nâng cao năng lực và phẩm chất hội nhập quốc tế, là yêu cầu chung, gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi của toàn bộ hệ thống công vụ.

Để công tác đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả thực chất, Nghị định số 171 đặt ra yêu cầu phải phân định, phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quản lý và thực hiện công tác này. Cụ thể, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, với vị thế là trung tâm quốc gia hàng đầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, giữ vai trò chủ trì trong nghiên cứu, ban hành và thẩm định các chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế. Bộ Nội vụ là cơ quan quản lý nhà nước về công chức, chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Nghị định, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong cả nước. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là chủ thể trực tiếp tổ chức, triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại địa phương, căn cứ vào điều kiện thực tế, đặc điểm vùng miền và nhu cầu cụ thể của cán bộ, công chức tại cơ sở.

Bên cạnh đó, việc phân cấp, phân quyền cho các trường đào tạo, bồi dưỡng thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, ban, ngành; các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quan trọng và cần thiết. Các cơ sở này vừa là đơn vị phối hợp, vừa trực tiếp tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu theo lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công. Ví dụ, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp xây dựng và triển khai các khóa đào tạo, bồi dưỡng về đối ngoại nhân dân, ngoại giao đa phương; Bộ Công thương triển khai các khóa đào tạo, bồi dưỡng về hội nhập kinh tế quốc tế, thực thi các hiệp định thương mại tự do; Bộ Công an và Bộ Quốc phòng tập trung đào tạo, bồi dưỡng nội dung hội nhập trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống… Các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đóng vai trò then chốt trong triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, cấp gần dân, sát dân và trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách ở địa phương.

Việc ban hành chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng phải được thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ, tránh hình thức, bảo đảm tính cập nhật và thực tiễn. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải trang bị cho cán bộ, công chức kiến thức về luật pháp quốc tế, các cam kết và chuẩn mực quốc tế, đồng thời rèn luyện kỹ năng thực hành trong đàm phán, hợp tác quốc tế, xử lý các tình huống cụ thể phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Tài liệu bồi dưỡng phải thường xuyên được cập nhật theo bối cảnh mới, có tính mở, linh hoạt và phù hợp với yêu cầu đa dạng của các ngành, các cấp.

Công tác triển khai đào tạo, bồi dưỡng cần có sự phối hợp đồng bộ và giám sát chặt chẽ giữa các bên liên quan. Việc cấp chứng chỉ, chứng nhận bồi dưỡng phải bảo đảm đúng quy định, minh bạch, phản ánh đúng năng lực thực tế mà học viên đạt được sau khóa học, tránh tình trạng “hợp lý hóa chứng chỉ” hoặc coi nhẹ chất lượng. Công tác kiểm định chất lượng bồi dưỡng phải được đặt lên hàng đầu. Nhà nước cần xây dựng một cơ chế kiểm định khách quan, độc lập, qua đó bảo đảm các chương trình đào tạo, bồi dưỡng được triển khai đúng chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đã đến lúc cần thành lập “Trung tâm Quốc gia về kiểm định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” để độc lập và thực thi công tác kiểm định này. Trung tâm này nên thành lập sớm nhất và nằm trong cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Chỉ như vậy, Nghị định số 171 mới thực sự đi vào cuộc sống, trở thành công cụ hữu hiệu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức.

Để Nghị định 171/2025/NĐ-CP thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành và cụ thể hóa Nghị định là yêu cầu bắt buộc. Trước hết, Bộ Nội vụ, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về công chức, cần chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các quy định của Nghị định số 171, trong đó nhấn mạnh cơ chế tổ chức, quản lý, kiểm tra và đánh giá các chương trình bồi dưỡng hội nhập quốc tế. Tiếp đó, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng liên quan phải ban hành quy định nội bộ về xây dựng, thẩm định, phê duyệt chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng; đồng thời thiết lập quy trình kiểm định chất lượng đối với từng khóa học, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và chuẩn mực trong hội nhập quốc tế. Các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần chủ động cụ thể hóa nghị định thành các văn bản hướng dẫn đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần ban hành kế hoạch, quy chế và các văn bản hướng dẫn phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương, nhằm triển khai hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức cấp xã, là những người trực tiếp thực hiện chính sách ở cơ sở. Việc ban hành các văn bản hướng dẫn ở địa phương sẽ giúp bảo đảm tính thống nhất với trung ương, đồng thời phát huy được tính linh hoạt, sáng tạo, gắn với nhu cầu thực tiễn của từng vùng, miền.

Như vậy, hệ thống văn bản hướng dẫn và cụ thể hóa Nghị định số 171 chính là cầu nối quan trọng giữa chính sách với thực tiễn, giữa ý chí chính trị với hành động quản trị quốc gia và thực tiễn cuộc sống. Chỉ khi các văn bản này được ban hành kịp thời, đầy đủ, rõ ràng và đồng bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức mới có cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai, từ đó tạo sự chuyển biến thực chất, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công vụ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

3.2. Xác lập nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức

Trước những thách thức trong hội nhập quốc tế, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức phải được xây dựng với mục tiêu rõ ràng. Đó là trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức phẩm chất, năng lực cốt lõi để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, gắn với định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa của đất nước; năng động, sáng tạo để tận dụng cơ hội từ toàn cầu hóa. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần cung cấp hệ thống kiến thức, kỹ năng liên ngành, hình thành phẩm chất đạo đức gắn với vị trí việc làm, phân tầng theo cấp bậc quản lý và vị trí việc làm, đồng thời bảo đảm tính thực hành, thực tiễn.

Khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng không thể thiếu chuyên đề về phẩm chất chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hội nhập quốc tế. Mục tiêu của phần này là củng cố bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với mục tiêu độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giúp cán bộ, công chức nhận diện rõ ràng nguyên tắc ưu tiên lợi ích quốc gia khi tiếp xúc, đàm phán và ký kết các cam kết quốc tế. Về mặt nội dung, chuyên đề này nên bao gồm các vấn đề về lịch sử, tư tưởng và quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế; nguyên tắc độc lập tự chủ và đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế; phân tích các nghị quyết, văn bản chiến lược như Nghị quyết số 59-NQ/TW…; cùng các tình huống đạo đức và chính trị mà cán bộ, công chức có thể gặp phải trong thực tiễn công tác hội nhập quốc tế.

Kiến thức về luật pháp quốc tế và cam kết song phương, đa phương là nền tảng bắt buộc. Cán bộ, công chức cần nắm các quy định cơ bản về luật biển, luật thương mại quốc tế, điều ước quốc tế, các cam kết trong WTO, FTA, EVFTA, RCEP, CPTPP… để hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của Việt Nam; từ đó tham mưu, áp dụng và bảo vệ lợi ích quốc gia. Nội dung này phải kết hợp lý thuyết với phân tích văn bản hiệp định quốc tế, bài tập soạn và hình thành các văn bản đàm phán, các tình huống mô phỏng và cụ thể về tranh chấp quốc tế hay vụ việc thương mại liên quan…

Chương trình cần có chuyên đề chuyên sâu về hội nhập kinh tế và thương mại. Đó là cơ chế hoạt động của chuỗi cung ứng toàn cầu, chính sách thu hút FDI, quản trị rủi ro thương mại, nguyên tắc cạnh tranh, quản lý doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh quốc tế. Mục tiêu là giúp cán bộ hoạch định chính sách và đưa ra giải pháp nâng cao năng lực nội sinh, tránh “bẫy hội nhập” phụ thuộc thụ động vào FDI. Nội dung này giúp người học biết phân tích số liệu, mô phỏng tác động chính sách và xây dựng đề án ứng dụng trong thực tiễn.

Trong thời đại số, chuyên đề về chuyển đổi số, quản trị dữ liệu và an ninh mạng trong hội nhập quốc tế là then chốt và tất yếu cần có trong nội dung chương trình. Cán bộ, công chức phải hiểu được xu hướng công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, quản trị hạ tầng số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn hệ thống thông tin của cơ quan trong mối liên hệ với hội nhập quốc tế. Nội dung này cần thực hành trên nền tảng chính phủ điện tử, chính phủ số, mô phỏng tấn công mạng cơ bản, quản lý rủi ro và khôi phục hệ thống dữ liệu; kết hợp với những bài học về chính sách quản lý nền kinh tế số và bảo mật trong quan hệ quốc tế.

Ngoài ra, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần hướng đến các nội dung, như: an ninh phi truyền thống; kỹ năng ngoại giao, đàm phán và giao tiếp liên văn hóa; quản trị nhà nước hiện đại và quản lý rủi ro chính sách; đạo đức công vụ, phòng, chống tham nhũng và quản trị xung đột lợi ích; quản lý xã hội và nhân lực trong hội nhập quốc tế…

Về phương pháp và hình thức đào tạo, bồi dưỡng, chương trình cần kết hợp lý thuyết với nhiều hình thức thực hành. Đó là bài tập tình huống, mô phỏng đàm phán, diễn tập liên ngành, thực tập tại cơ quan, trao đổi quốc tế và khóa học ngắn hạn tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Hình thức học tập nên đa dạng như lớp truyền thống, học trực tuyến, học từ trợ lý ảo (AI), học số, học vi mô (micro – learning), hội thảo trực tuyến (webinar), khóa đào tạo, bồi dưỡng kết hợp (blended learning) để phù hợp với lịch công tác của cán bộ, công chức. Cần mạnh dạn áp dụng hệ thống cấp tín chỉ, chứng chỉ chuyên ngành và chứng chỉ vi mô (micro – credential) để tích lũy cho từng kỹ năng, kết nối chặt chẽ đào tạo, bồi dưỡng với tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm và quy hoạch các vị trí lãnh đạo, quản lý, vị trí việc làm của cán bộ, công chức.

Chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải phân cấp theo trình độ của đối tượng học viên. Trình độ cơ bản dành cho cán bộ cơ sở (kiến thức nền tảng về hội nhập, kỹ năng ứng dụng…); trình độ trung cấp cho cán bộ quản lý (năng lực hoạch định chính sách, đàm phán, quản lý dự án quốc tế…); trình độ cao cấp cho lãnh đạo chủ chốt (tư duy chiến lược, phân tích rủi ro chiến lược, lãnh đạo đổi mới…). Mỗi trình độ cần chuẩn đầu ra rõ ràng, đánh giá bằng bài kiểm tra kiến thức, bài tập tình huống và sản phẩm ứng dụng thực tế (ví dụ đề án cải cách, kế hoạch thu hút đầu tư, dự án FDI tại ngành, địa phương…).

Về kiểm định và bảo đảm chất lượng, Bộ Nội vụ và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cần hợp tác xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá khung năng lực đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức; cơ chế kiểm định độc lập cho các tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay. Việc cấp chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với chuẩn đầu ra và quản lý tập trung, tránh tình trạng cấp chứng chỉ hình thức. Chất lượng chương trình phải được đánh giá liên tục dựa trên chỉ số đầu vào, đầu ra, như: số cán bộ, công chức đạt chuẩn, tỷ lệ áp dụng kiến thức vào công việc, mức cải thiện hiệu quả quản lý, phản hồi của cộng đồng và đối tác quốc tế về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng…

Về nguồn lực và cơ chế tài chính, Nhà nước cần bảo đảm ngân sách cho các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cốt lõi, chủ động huy động nguồn hỗ trợ hợp lý từ các nguồn ODA, đối tác phát triển và hợp tác công – tư cho các chương trình chuyên sâu. Tuy nhiên, cần có cơ chế minh bạch và điều khoản bảo đảm để không gây lệ thuộc từ  chính sách hỗ trợ này. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích các bộ, ngành và địa phương cùng đóng góp, đặt hàng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, cần triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo lộ trình, từ thí điểm, đánh giá, nhân rộng. Thí điểm tại một số bộ, ngành và tỉnh thành có năng lực, rút kinh nghiệm, hoàn thiện khung chương trình và phương pháp, sau đó mở rộng theo nguyên tắc “nhu cầu – chất lượng – phổ cập”. Tổ chức hệ thống giảng viên nòng cốt, mạng lưới chuyên gia, nền tảng học trực tuyến quốc gia sẽ là hạ tầng quan trọng để thực hiện bền vững chương trình này.

Như vậy, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế vừa phải bảo đảm phát triển phẩm chất chính trị, vừa trang bị kiến thức pháp luật, kinh tế, công nghệ, an ninh phi truyền thống và kỹ năng thực hành về hội nhập quốc tế. Chỉ khi chương trình được thiết kế gắn với thực tế, phân tầng hợp lý, triển khai bằng phương pháp đào tạo, bồi dưỡng hiện đại, gắn với kiểm định chất lượng và cơ chế khuyến khích rõ ràng thì đội ngũ cán bộ, công chức mới trở thành “cái gốc” vững chắc, đủ sức chèo lái con thuyền hội nhập quốc tế trong thời đại nhiều biến động hiện nay.

3.3. Xác lập và phát huy nguồn lực để bảo đảm hiệu quả và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức

Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 171/2025/NĐ-CP của Chính phủ xác định rõ yêu cầu nâng cao phẩm chất và năng lực hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức trong giai đoạn mới. Để triển khai đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả nội dung này cần phát huy các nguồn lực sau:

Thứ nhất, đầu tư và sử dụng tích hợp nguồn lực cơ sở vật chất trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Hoạt động này không thể thiếu hạ tầng đồng bộ, như: phòng học, thư viện, phòng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, mô phỏng quản trị quốc tế… Trong bối cảnh chuyển đổi số, hạ tầng này cần mở rộng sang học điện tử, học số, phần mềm quản lý, trí tuệ nhân tạo, kho học liệu số và kết nối quốc tế. Việc đầu tư phải mang tính chiến lược, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, đồng thời huy động doanh nghiệp, xã hội tham gia. Từ yêu cầu này, cần phối hợp, tích hợp nguồn lực cơ sở vật chất của các bên liên quan trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng để tối ưu hóa nguồn lực này.

Thứ hai, đầu tư, huy động và sử dụng nguồn lực tài chính. Đào tạo hội nhập quốc tế chi phí cao do gắn với chuyên gia, chương trình song ngữ, hợp tác quốc tế… Ngân sách trung ương cần tập trung cho các chương trình chiến lược, xây dựng tài liệu chuẩn; ngân sách địa phương bố trí theo đặc thù của địa phương đó. Xã hội hóa tài chính là xu thế tất yếu, do đó cần huy động doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức, cá nhân cùng chia sẻ nguồn lực này gắn với cơ chế quản lý minh bạch, công khai.

Thứ ba, đầu tư và tích hợp nguồn lực thông tin giữa các bên liên quan. Cần xây dựng “kho tri thức số” về văn bản pháp lý, hiệp định thương mại, nghiên cứu chiến lược, kinh nghiệm quốc tế về hội nhập quốc tế; phát triển mạng lưới chia sẻ giữa trung ương – địa phương – viện nghiên cứu – tổ chức quốc tế. Điều này không chỉ hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập mà còn giúp cán bộ, công chức hình thành tư duy phản biện, năng lực dự báo và khả năng đưa ra quyết sách trong điều kiện biến động khó lường. Bên cạnh đó, khai thác truyền thông, mạng xã hội để phổ biến kiến thức, phản bác luận điệu sai trái, củng cố bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ tư, đầu tư và phát triển nguồn nhân lực là then chốt cho công tác đào tạo, bồi dưỡng. Phải xây dựng đội ngũ giảng viên, chuyên gia có trình độ cao, thông thạo ngoại ngữ, gắn lý luận với thực tiễn, thường xuyên cập nhật kiến thức quốc tế. Với học viên, cần phân loại theo cấp, ngành, lĩnh vực để thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng sát nhu cầu. Đồng thời, huy động chuyên gia nước ngoài, liên kết quốc tế, gắn đào tạo, bồi dưỡng với doanh nghiệp, tổ chức xã hội nhằm tạo hệ sinh thái đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế đa chiều.

Như vậy, việc phát huy đồng bộ bốn nguồn lực: cơ sở vật chất, tài chính, thông tin và nhân lực là điều kiện cần và đủ để triển khai thành công chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về hội nhập quốc tế, qua đó nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ, công chức, bảo đảm đất nước hội nhập thành công, phát triển bền vững.

3.4. Tuyên truyền, nâng cao nhân thức của và cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế

Công tác tuyên truyền về hội nhập quốc tế nói chung và đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức nói riêng cần được triển khai rõ ràng, chính xác, thống nhất với chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Nội dung tuyên truyền phải phân tầng theo từng đối tượng, như lãnh đạo cấp cao phải nắm vững định hướng chiến lược; cán bộ quản lý phải nắm vững kiến thức chuyên sâu để hoạch định chính sách; cán bộ cơ sở phải nắm vững những kiến thức thực thi, áp dụng. Cách làm này giúp tránh dàn trải và nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác này.

Đa dạng hóa hình thức và kênh tiếp cận. Ngoài báo chí, truyền hình, hội nghị, cần tận dụng phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội… để lan tỏa nhanh và rộng. Nội dung và hình hình thức tuyên truyền nên sinh động, dễ hiểu, có tính tương tác như video ngắn, hình ảnh trực quan, podcast, tọa đàm trực tuyến… Để nâng cao chất lượng, cần xây dựng mạng lưới giảng viên kiêm truyền thông viên – những người am hiểu lý luận chính trị, có kỹ năng truyền đạt và thành thạo công cụ số. Họ là cầu nối biến nội dung “khô khan” thành thông điệp gần gũi, dễ tiếp nhận nhưng vẫn chuẩn mực; gắn tuyên truyền với chương trình đào tạo, bồi dưỡng chính thức. Mỗi chiến dịch tuyên truyền cần đi đôi với nội dung các lớp đào tạo, bồi dưỡng, giúp cán bộ, công chức nghe – hiểu – thực hành – áp dụng; đồng thời, kết quả học tập và tham gia truyền thông phải gắn với tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm, nâng ngạch, tạo động lực để cán bộ, công chức tham gia nghiêm túc và tích cực.

Để đo lường hiệu quả truyền thông, cần áp dụng tiêu chí cụ thể: tỷ lệ cán bộ, công chức được bồi dưỡng; mức độ hiểu biết trước và sau khóa học; khả năng áp dụng kiến thức khi tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng và kết quả này được truyền thông trên phương tiên truyền thông đại chúng, đặc biệt là các tạp chí khoa học chuyên ngành. Kết quả truyền thông phải công khai, minh bạch, làm căn cứ điều chỉnh nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng. Quá trình triển khai cần giám sát chặt chẽ, thường xuyên rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh. Nếu được tiến hành khoa học, liên tục, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và cơ quan truyền thông, công tác tuyên truyền về hội nhập quốc tế sẽ trở thành động lực mạnh mẽ, giúp đội ngũ cán bộ, công chức hiểu đúng – hành động đúng, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối lãnh đạo sáng tạo hội nhập quốc tế của Đảng ta.

4. Kết luận

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và phức tạp, việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức là một yêu cầu tất yếu, cấp bách và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt với quan điểm đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập, bảo đảm hội nhập toàn diện và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa chính là cơ sở định hướng chiến lược cho nội dung đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho cán bộ, công chức. Nhờ đó, chương trình này không rời xa thực tiễn, luôn bám sát đường lối chính trị, bảo đảm tính khoa học, tính cách mạng và tính hiệu quả.

Với đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chắc chắn sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức sẽ thành công, góp phần đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
6. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
7. Vận dụng lý luận về kinh tế tư bản nhà nước của V.I. Lênin trong phát triển kinh tế nhà nước ở nước ta. https://www.quanlynhanuoc.vn, ngày 14/8/2025.
8. Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn, ngày 22/9/2025.