Giải pháp trong chỉnh trang đô thị ven kênh rạch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030

ThS. Nguyễn Lê Ngọc Hương
Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh
TS. Cao Tấn Huy
Trường Đại học Tài chính – Marketing

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu đánh giá tính khả thi và hiệu quả của Đề án chỉnh trang đô thị, di dời nhà ở trên và ven sông kênh, rạch trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 trong bối cảnh yêu cầu phát triển đô thị bền vững và nâng cao khả năng phục hồi trước tác động của biến đổi khí hậu. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng, kết hợp nghiên cứu trường hợp và so sánh kinh nghiệm quốc tế tại Bangkok, Jakarta và Singapore. Kết quả cho thấy, Đề án thể hiện mức độ đổi mới đáng kể thông qua quy hoạch tích hợp đất – nước – môi trường, phát triển hạ tầng xanh, ứng dụng công nghệ số và huy động nguồn lực theo mô hình đối tác công – tư. Tuy nhiên, các thách thức lớn vẫn tập trung ở bồi thường – tái định cư, cơ chế chia sẻ rủi ro trong PPP và phối hợp liên ngành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai Đề án.

Từ khóa: Đô thị; chỉnh trang đô thị; cải tạo kênh rạch; khả năng chống chịu đô thị; quản lý nhà nước.

1. Đặt vấn đề

Trong những thập niên gần đây, phát triển đô thị bền vững và khả năng phục hồi đô thị đã trở thành định hướng trọng tâm trong quy hoạch đô thị, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh. Tại các đô thị lớn ở các nước đang phát triển, những thách thức này thể hiện rõ qua quá tải hạ tầng, ô nhiễm kênh rạch, suy giảm không gian xanh và sự tồn tại của các khu dân cư ven sông, kênh, rạch tiềm ẩn nhiều rủi ro môi trường và xã hội (UN-Habitat, 2020; IPCC, 2023). TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế của cả nước đang chịu tác động mạnh của quá trình này. Với mạng lưới sông, kênh, rạch dài hơn 105 km, thành phố đối mặt với tình trạng lấn chiếm, ô nhiễm và thu hẹp dòng chảy tại nhiều khu vực. Hiện có khoảng 39.600 căn nhà trên và ven kênh rạch tồn tại trong điều kiện hạ tầng yếu kém, gây áp lực lớn lên hệ thống thoát nước, môi trường và chất lượng sống đô thị. Do đó, chỉnh trang đô thị ven kênh rạch đã trở thành ưu tiên chiến lược của thành phố.

Các nghiên cứu quốc tế nhấn mạnh vai trò của quy hoạch tích hợp đất – nước – môi trường, phát triển hạ tầng xanh, ứng dụng công nghệ số (GIS, BIM) và cơ chế hợp tác công – tư (PPP) nhằm nâng cao khả năng chống chịu và hiệu quả quản trị đô thị (Ernstson và cộng sự, 2010; IEG, 2019).

Tiếp cận theo hướng học thuật – chính sách, bài viết phân tích tính mới và mức độ phù hợp của các giải pháp trong Đề án chỉnh trang đô thị ven kênh rạch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 thông qua so sánh kinh nghiệm quốc tế và đánh giá bối cảnh thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của Đề án gắn với công nghệ, hạ tầng xanh và chính sách xã hội, những cải cách cần thiết để nâng cao tính khả thi trong triển khai thực hiện Đề án.

2. Cơ sở lý thuyết

Phân tích chính sách chỉnh trang đô thị ven kênh rạch của TP. Hồ Chí Minh cần được đặt trong khung lý thuyết về phát triển đô thị bền vững, khả năng phục hồi đô thị và đổi mới trong quy hoạch – hạ tầng. Các khung tiếp cận này không chỉ cung cấp nền tảng học thuật mà còn là cơ sở để so sánh mô hình chính sách giữa TP. Hồ Chí Minh và các đô thị lớn trên thế giới, qua đó đánh giá mức độ phù hợp của các giải pháp trong Đề án chỉnh trang đô thị với các nguyên tắc phát triển bền vững.

Việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết theo 3 trục tương ứng với 3 câu hỏi nghiên cứu giúp làm rõ: (1) Các mô hình chỉnh trang ven kênh rạch trên thế giới; (2) Tính mới của các giải pháp trong Đề án; (3) Vai trò của khung chính sách Việt Nam trong bảo đảm tính khả thi.

Thứ nhất, việc so sánh chính sách chỉnh trang hạ tầng ven kênh rạch cần dựa trên lý thuyết phát triển đô thị bền vững và các phương pháp nâng cấp khu dân cư không đạt chuẩn. Theo UN-Habitat (2020), đô thị bền vững gắn với bốn cấu phần chính: nhà ở an toàn, môi trường sống lành mạnh, hạ tầng hiệu quả và hệ thống quản trị toàn diện. Các mô hình như Baan Mankong tại Bangkok, nâng cấp tại chỗ ở Jakarta và quy hoạch tích hợp tại Singapore cho thấy sự khác biệt rõ nét trong tiếp cận chính sách, phản ánh các nguyên tắc cốt lõi của lý thuyết nâng cấp đô thị như mức độ di dời, vai trò cộng đồng, cơ chế quản trị và mô hình tài chính.

Thứ hai, phân tích tính mới của các giải pháp trong Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh cần vận dụng lý thuyết về đổi mới đô thị và hạ tầng xanh. Nghiên cứu chỉ ra 3 hướng đổi mới chủ yếu gồm: đổi mới công nghệ, đổi mới hạ tầng sinh thái nhằm nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đổi mới thể chế thông qua các mô hình hợp tác công – tư và quản trị tích hợp (Ernstson và cộng sự, 2010; IEG, 2019). Trong đó, quy hoạch tích hợp đất – nước – môi trường được xem là hướng tiếp cận trọng tâm của đô thị hiện đại (IPCC, 2023), phù hợp với các giải pháp mà Đề án đang đề xuất.

Thứ ba, đánh giá khả năng triển khai các giải pháp trong bối cảnh Việt Nam đòi hỏi xem xét vai trò của thể chế, pháp luật và công cụ quy hoạch. Các nghiên cứu về quản trị đô thị nhấn mạnh ba yếu tố then chốt: khung pháp lý về đất đai, nhà ở và tái định cư; cơ chế tài chính – đầu tư, đặc biệt là PPP; mức độ phối hợp liên ngành (IEG, 2019). Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023 và Luật PPP năm 2020 tạo hành lang pháp lý quan trọng cho chỉnh trang đô thị, song cũng đặt ra thách thức lớn đối với các dự án di dời quy mô lớn ven kênh rạch. Các lý thuyết về quản trị đô thị cho phép đánh giá mức độ phù hợp và tính khả thi của việc áp dụng các cơ chế này trong thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết giúp làm rõ sự khác biệt của các mô hình chỉnh trang, ý nghĩa của tính mới trong Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh và những điều kiện thể chế quyết định khả năng triển khai, qua đó tạo nền tảng cho các phân tích chính sách ở các phần tiếp theo của bài báo.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, kết hợp nghiên cứu trường hợp và phân tích so sánh chính sách nhằm đánh giá tính khả thi, tính mới và mức độ phù hợp của các giải pháp chỉnh trang đô thị ven kênh rạch tại TP. Hồ Chí Minh.

Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu là tài liệu thứ cấp, bao gồm hệ thống văn bản pháp luật, các báo cáo quốc tế về đô thị bền vững và khả năng phục hồi cùng các nghiên cứu học thuật liên quan. Trên cơ sở đó, so sánh kinh nghiệm chỉnh trang đô thị tại Bangkok, Jakarta và Singapore, đồng thời phân tích nội dung Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 và mô hình thí điểm tại Quận 8 nhằm làm rõ tính mới và khả năng vận dụng trong thực tiễn.

4. Kết quả và thảo luận

Kết quả phân tích so sánh quốc tế và phân tích nội dung Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các mô hình chỉnh trang ven kênh rạch tại Bangkok, Jakarta, Singapore và cách tiếp cận của TP. Hồ Chí Minh. Những khác biệt này phản ánh sự đa dạng về lựa chọn chính sách, mức độ tham gia của cộng đồng, mô hình tài chính và mức độ tích hợp quy hoạch – môi trường, qua đó làm rõ tính mới và mức độ phù hợp của Đề án trong bối cảnh thể chế Việt Nam.

Tại Bangkok, mô hình Baan Mankong tiêu biểu cho cách tiếp cận nâng cấp dựa vào cộng đồng, trong đó người dân giữ nguyên vị trí cư trú, tham gia trực tiếp vào quá trình cải tạo và quản lý dự án. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm sinh kế, duy trì liên kết xã hội và hạn chế xung đột tái định cư, qua đó góp phần nâng cao khả năng phục hồi đô thị.

Jakarta thể hiện một quỹ đạo chính sách khác khi chuyển từ di dời sang ưu tiên nâng cấp tại chỗ nhằm giảm tác động xã hội. Mô hình này giúp hạn chế gián đoạn sinh kế nhưng phụ thuộc lớn vào tính minh bạch và an ninh pháp lý về đất đai, cho thấy vai trò then chốt của niềm tin cộng đồng trong triển khai chính sách chỉnh trang đô thị.

Trong khi đó, Singapore đại diện cho cách tiếp cận quy hoạch tích hợp và đổi mới công nghệ cao. Trường hợp Kampong Bugis cho thấy sự kết hợp hiệu quả giữa quy hoạch đất – nước – môi trường, hạ tầng xanh, công nghệ đô thị thông minh và mô hình hợp tác công – tư, tạo nên khu vực ven kênh có khả năng chống ngập và chất lượng sống cao.

So sánh cho thấy, Bangkok và Jakarta nhấn mạnh yếu tố xã hội và sự tham gia của cộng đồng, còn Singapore ưu tiên tích hợp quy hoạch và công nghệ. TP. Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung gian, đồng thời phải giải quyết cả thách thức xã hội (bồi thường – tái định cư), kỹ thuật (chống ngập, thoát nước) và quản trị đô thị.

Phân tích nội dung Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 cho thấy, mức độ đổi mới đáng kể so với các chương trình trước đây. Đề án hướng tới di dời toàn bộ nhà ở ven kênh, kết hợp tái định cư, cải tạo hạ tầng, phát triển không gian xanh – công viên ven sông và khai thác quỹ đất sau di dời, qua đó tiếp cận theo hướng tái cấu trúc cảnh quan đô thị quy mô lớn. Việc ứng dụng công nghệ số, phát triển hạ tầng xanh và huy động nguồn lực theo mô hình PPP cho thấy, sự hội nhập với xu hướng đổi mới đô thị quốc tế, dù thực tiễn triển khai vẫn đối mặt với hạn chế về quỹ đất và chi phí bồi thường.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Kinh nghiệm Bangkok và Jakarta gợi mở vai trò quan trọng của sự tham gia cộng đồng và hạn chế di dời không cần thiết; (2) Mô hình Singapore nhấn mạnh ý nghĩa của quy hoạch tích hợp và đổi mới công nghệ đối với các khu vực ven kênh mật độ cao; (3) Tính mới của Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh nằm ở sự kết hợp đồng thời giữa công nghệ số, hạ tầng xanh, cơ chế PPP và quy hoạch tích hợp, phù hợp với định hướng đô thị bền vững và phục hồi.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự khác biệt rõ rệt giữa các mô hình chỉnh trang đô thị ven kênh rạch trên thế giới và cách tiếp cận của Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh, qua đó làm nổi bật vai trò của bối cảnh pháp lý, năng lực quản trị và lựa chọn chính sách trong quá trình triển khai. Bangkok ưu tiên nâng cấp tại chỗ dựa trên sự tham gia của cộng đồng, giúp duy trì sinh kế và hạn chế xung đột xã hội; Jakarta chuyển hướng sang nâng cấp tại chỗ nhằm giảm tác động đến người nghèo nhưng phụ thuộc lớn vào tính minh bạch và an ninh pháp lý về đất đai. Ngược lại, TP. Hồ Chí Minh lựa chọn chiến lược di dời toàn bộ cư dân ven kênh để tái cấu trúc không gian đô thị, tạo điều kiện cải thiện hạ tầng và cảnh quan ở quy mô lớn, song đồng thời đòi hỏi chính sách bồi thường – tái định cư công bằng, quy trình tham vấn đầy đủ và truyền thông hiệu quả để bảo đảm đồng thuận xã hội.

Về tính mới, Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt so với các chương trình trước đây thông qua việc tích hợp công nghệ số (GIS, BIM), phát triển hạ tầng xanh, quy hoạch đất – nước – môi trường và đẩy mạnh cơ chế hợp tác công – tư. Cách tiếp cận này tương đồng với các mô hình quốc tế tiên tiến như Singapore, cho thấy xu hướng chuyển từ tư duy “giải tỏa – xây mới” sang tiếp cận tích hợp, nhân văn và bền vững hơn, đặt quyền lợi người dân và khả năng chống chịu đô thị làm trọng tâm. Tuy nhiên, tính khả thi của Đề án phụ thuộc lớn vào hiệu quả thể chế và năng lực thực thi. Mặc dù khung pháp lý về đất đai, nhà ở và PPP đã được hoàn thiện, việc triển khai vẫn đối mặt với thách thức về thủ tục, chia sẻ rủi ro, quỹ đất tái định cư và phối hợp liên ngành. Do đó, cải cách thể chế, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục và mở rộng giám sát cộng đồng là điều kiện then chốt để bảo đảm hiệu quả của chương trình chỉnh trang đô thị ven kênh rạch tại TP. Hồ Chí Minh.

Như vậy, Đề án chỉnh trang đô thị TP. Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế quốc tế về phát triển đô thị bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, song chỉ có thể phát huy hiệu quả khi gắn với sự đồng thuận xã hội, cơ chế huy động nguồn lực dài hạn và mô hình quản trị đô thị tích hợp.

5. Một số giải pháp

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, việc hoàn thiện hệ thống giải pháp phù hợp là điều kiện then chốt để nâng cao hiệu quả triển khai Đề án chỉnh trang đô thị ven kênh rạch TP. Hồ Chí Minh.

Một là, về quy hoạch tích hợp và ứng dụng công nghệ, cần triển khai đồng bộ các công cụ số như GIS và BIM trong khảo sát hiện trạng, lập quy hoạch, quản lý dự án và giám sát tiến độ chỉnh trang đô thị ven kênh rạch. Quy hoạch cần được tiếp cận theo hướng tích hợp đất – nước – môi trường, ưu tiên phát triển không gian xanh, công viên ven sông và các giải pháp hạ tầng dựa vào tự nhiên nhằm nâng cao khả năng chống ngập và cải thiện chất lượng môi trường đô thị.

Hai là, về huy động nguồn lực và cơ chế PPP, TP. Hồ Chí Minh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng đơn giản hóa thủ tục, chuẩn hóa hợp đồng và làm rõ cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Việc kết hợp đấu giá quỹ đất sau di dời, phát hành các công cụ tài chính xanh và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư sẽ góp phần giảm áp lực lên ngân sách và tạo nguồn lực dài hạn cho chỉnh trang đô thị.

Ba là, về bồi thường, tái định cư và hỗ trợ xã hội, cần bảo đảm đủ quỹ nhà tái định cư và nhà ở xã hội với chất lượng hạ tầng phù hợp, đồng thời hỗ trợ người dân ổn định sinh kế và tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu. Quy trình bồi thường và tái định cư cần được thực hiện công khai, minh bạch, có sự tham vấn cộng đồng và cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả, qua đó củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội trong quá trình di dời.

Bốn là, về nâng cao khả năng chống chịu đô thị, thành phố cần ưu tiên đầu tư các hệ thống dự báo, cảnh báo ngập và duy tu hạ tầng ven kênh, đồng thời phát triển các không gian hấp thụ nước như công viên ngập nước và vùng đệm sinh thái. Việc xây dựng và áp dụng bộ chỉ số đánh giá khả năng phục hồi đô thị sẽ giúp theo dõi hiệu quả triển khai và kịp thời điều chỉnh chính sách.

Năm là, về cải cách thể chế và quản trị liên ngành, cần tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương, đồng bộ hóa quy hoạch và thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, giao thông, tài chính và môi trường. Minh bạch hóa thông tin thông qua hệ thống dữ liệu mở về quy hoạch, tiến độ dự án và nguồn lực tài chính sẽ thúc đẩy giám sát xã hội và nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý chỉnh trang đô thị.

6. Kết luận

Nghiên cứu đã làm rõ cách tiếp cận và định hướng chính sách của Đề án chỉnh trang đô thị ven kênh rạch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 thông qua đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế và khung lý thuyết về đô thị bền vững, phục hồi đô thị và đổi mới hạ tầng. Kết quả cho thấy Đề án không chỉ nhằm giải quyết vấn đề nhà ở ven kênh rạch mà còn phản ánh một nỗ lực tái cấu trúc không gian đô thị theo hướng tích hợp, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng sống đô thị. Các phân tích cho thấy, lựa chọn chỉnh trang đô thị ven kênh rạch tại TP. Hồ Chí Minh hàm chứa tiềm năng tạo ra chuyển biến cấu trúc về cảnh quan, hạ tầng và quản trị đô thị, song hiệu quả và tính bền vững của mô hình phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực thực thi, mức độ đồng bộ thể chế và khả năng duy trì sự đồng thuận xã hội trong suốt quá trình triển khai.

Đề án chỉnh trang đô thị và di dời nhà ở ven sông, kênh, rạch trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030 mang ý nghĩa quan trọng không chỉ ở góc độ phát triển hạ tầng và nhà ở, mà còn ở vai trò định hình một mô hình chuyển đổi đô thị hướng tới xanh – hiện đại – chống chịu. Những kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho quá trình triển khai Đề án, đồng thời cung cấp kinh nghiệm tham khảo cho các đô thị Việt Nam đang đối mặt với những thách thức tương tự trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh.

Tài liệu tham khảo:
1. UBND TP. Hồ Chí Minh (2025). Đề án chỉnh trang đô thị, khu vực nhà ở trên và ven sông, kênh, rạch giai đoạn 2025 – 2030. 
2. Ernstson, H., Van der Leeuw, S. E., Redman, C. L., Meffert, D. J., Davis, G., Alfsen, C., & Elmqvist, T. (2010). Urban transitions: On urban resilience and human-dominated ecosystems. Ambio, 39(8), 531–545. https://doi.org/10.1007/s13280-010-0081-9.
3. IEG (2019). Building urban resilience: An evaluation of the World Bank Group’s evolving experience (2007–2017). World Bank. https://doi.org/10.1596/IEG138993.
4. IPCC (2023). Climate change 2022: Impacts, adaptation, and vulnerability. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/9781009325844.
5. Jakarta Post (2025). Jakarta to improve riverside settlements with minimal relocation.
6. Liao, K. H. (2019). The socio-ecological practice of building blue–green infrastructure in high-density cities: What does the ABC Waters Program in Singapore tell us? Socio-Ecological Practice Research, 1(1), 67–81. https://doi.org/10.1007/s42532-019-00009-3
7. Matsusawa, M. (2021). Baan Mankong “secure housing” initiative in Bangkok, Thailand: A community-driven approach to slum-upgrading projects.
8. UN-Habitat (2020). World Cities Report 2020: The value of sustainable urbanization. United Nations Human Settlements Programme.
9. Urban Redevelopment Authority (2023). Kampong Bugis: Sustainable waterfront precinct. https://www.ura.gov.sg/Corporate/Get-Involved/Plan-Our-Future-SG/Future-Neighbourhoods/Our-Neighbourhood-Kampong-Bugis.