Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Du lịch tỉnh Quảng Ninh

ThS. Lê Hoàng Anh
Học viện Tài chính

(Quanlynhanuoc.vn) – Quảng Ninh là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng của Việt Nam với nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc, cảnh quan thiên nhiên đa dạng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Trong thời gian vừa qua, ngành Du lịch Quảng Ninh đã dần tạo dựng được vị trí của mình, đưa tỉnh trở thành điểm đến du lịch quan trọng hàng đầu của cả nước. Bài viết được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mô hình năng lực cạnh tranh và  các mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch làm cơ sở để đưa ra các yếu tố then chốt gắn liền đến năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch tỉnh Quảng Ninh nhằm góp phần để du lịch Quảng Ninh vươn lên vị trí cao trong bảng xếp hạng “Chỉ số phát triển du lịch cấp tỉnh của Việt Nam”.

Từ khóa: Năng lực cạnh tranh; du lịch; nguồn tài nguyên du lịch; cảnh quan thiên nhiên; Quảng Ninh.

1. Đặt vấn đề

Quảng Ninh sở hữu lợi thế nổi bật về sự đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên du lịch từ thiên nhiên đến văn hoá, với 636 di tích/cụm di tích lịch sử – văn hoá và thắng cảnh tự nhiên, mang giá trị nổi bật ở khu vực và thế giới, như Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long… Những năm gần đây, du lịch Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Theo Báo cáo “Chỉ số phát triển du lịch cấp tỉnh của Việt Nam VTDI 2024”, Quảng Ninh đứng vị trí thứ 5/30 tỉnh, thành phố (sau Đà Nẵng, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu). Kết quả đã thể hiện những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan cũng như bảo tồn và  phát huy các giá trị di sản của tỉnh.

Tuy đã có nhiều nỗ lực trong phát triển du lịch, nhưng do đặc thù địa hình, khí hậu, du lịch Quảng Ninh mới chỉ phát triển tập trung vào mùa hè. Ngành Du lịch của tỉnh Quảng Ninh chưa tận dụng hết tiềm năng về tài nguyên du lịch đa dạng của mình. Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin của Quảng Ninh vẫn còn hạn chế. Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, mặc dù sở hữu những điểm đến nổi tiếng quốc tế, như Vịnh Hạ Long, di tích danh thắng Yên Tử…, song doanh thu du lịch của Quảng Ninh chưa thực sự tương xứng với lợi thế sẵn có. Ngoài ra, hiện nay Quảng Ninh còn phải đối mặt với những vấn đề môi trường, như: quản lý rác thải, nước thải, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm từ hoạt động khai thác than… Những hạn chế trên cho thấy, Quảng Ninh cần có thêm nhiều giải pháp nhằm thực hiện hoá mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

2.1. Năng lực cạnh tranh du lịch

Theo M.Porter (1990)1, năng lực cạnh tranh được xác định bởi khả năng tận dụng những lợi thế đặc thù của mình để dẫn đầu về chi phí và khác biệt hoá sản phẩm.

Theo Dwyer và Kim (2003)2, năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch là tập hợp các nguồn lực (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất, tài chính, các chính sách, thể chế và con người) mà điểm đến đó sở hữu và sử dụng để tạo ra một hình ảnh về sự phát triển du lịch bền vững, hiệu quả; hình thành nên khả năng hấp dẫn thu hút khách du lịch và thoả mãn nhu cầu của họ.

Còn theo Crouch và Ritchie (2003)3, năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch là khả năng tăng mức chi tiêu du lịch, ngày càng thu hút du khách đồng thời mang lại sự thoả mãn, trải nghiệm đáng nhớ. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra lợi nhuận, đồng thời gia tăng phúc lợi cho người dân địa phương ở điểm đến và bảo tồn nguồn vốn tự nhiên của điểm đến đó.

Larry và Chulwwon (2003)4 đã đưa ra luận điểm rằng, để đạt được năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch, bất kỳ điểm đến du lịch nào cũng cần phải có sự vượt trội về sự hấp dẫn và trải nghiệm du lịch được cung cấp, nghĩa là điểm đến đó phải hơn hẳn các điểm đến khác trong mắt du khách tiềm năng.

2.2. Các yếu tố tạo thành năng lực cạnh tranh du lịch

M.Potter (1990)5, đưa ra mô hình kim cương về năng lực cạnh tranh của quốc gia hay của một ngành, bao gồm 4 yếu tố như sau: (1) Điều kiện của các yếu tố sản xuất như lao động lành nghề hoặc cơ sở hạ tầng; (2) Điều kiện nhu cầu; (3) Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ; (4) Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của doanh nghiệp.

Crouch và Ritchie (2003)6, đưa ra mô hình năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch bao gồm 5 yếu tố: (1) Yếu tố hạn định và mở rộng; (2) Chính sách, quy hoạch và phát triển điểm đến; (3) Quản lý điểm đến; (4) yếu tố quản lý và các nguồn lực cốt lõi; (5) Các yếu tố hỗ trợ.

Theo Dwyer và Kim (2003)7, mô hình năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch bao gồm 2 yếu tố: Yếu tố nguồn lực (bao gồm: nguồn lực tự nhiên, di sản, nguồn lực sáng tạo, các nhân tố hỗ trợ); Yếu tố quản lý điểm đến (liên quan đến chiến lược nâng cao sức hấp dẫn, khả năng cạnh tranh và chất lượng dịch vụ thích ứng với nhu cầu thực tế của du khách).

Từ các mô hình trên, nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm các yếu tố sau:

– Nguồn tài nguyên du lịch: Bao gồm tài nguyên tự nhiên, nhân văn, văn hoá. Chính sự độc đáo và giá trị khác biệt của tài nguyên du lịch giúp gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến du lịch đối với du khách trong và ngoài nước.

– Hệ thống yếu tố hạ tầng và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, các điểm giải trí và các dịch vụ đi kèm khác, có ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm và sự hài lòng của du khách. Bên cạnh đó, các yếu tố hạ tầng thiết yếu, như: giao thông vận tải, viễn thông, cũng như các dịch vụ cơ bản như điện, nước… tạo nền tảng cho hoạt động du lịch được vận hành thuận lợi. Việc phát triển đồng bộ, hiện đại các yếu tố này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch mà còn củng cố lợi thế cạnh tranh bền vững của ngành du lịch địa phương.

– Nhân lực trong du lịch: Bao gồm trình độ chuyên môn; kỹ năng giao tiếp, năng lực ngoại ngữ; thái độ phục vụ… có tác động trực tiếp đến mức độ hài lòng và sự trải nghiệm của du khách; đồng thời, còn góp phần nâng cao uy tín, xây dựng thương hiệu của ngành du lịch địa phương. Đây được xem là yếu tố then chốt bảo đảm chất lượng dịch vụ và hình ảnh của điểm đến du lịch.

– Các sản phẩm và dịch vụ du lịch: Sản phẩm và dịch vụ du lịch càng đa dạng, khác biệt, có chất lượng cao thì càng gia tăng sức hút và tăng tính cạnh tranh của điểm đến du lịch.

– Hệ thống chính sách, pháp luật của cơ quan chức năng trong thúc đẩy phát triển du lịch: Chủ trương, chính sách đồng bộ, minh bạch sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp du lịch, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh lâu dài, bền vững.

– Kế hoạch phát triển, quản lý và bảo vệ môi trường: Hiện nay môi trường được xem là thành tố cốt lõi cho sự phát triển bền vững vì vậy việc lập kế hoạch phát triển, kiểm soát và gìn giữ hệ sinh thái là nền tảng để tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành Du lịch. Nó không chỉ giúp bảo tồn tài nguyên lâu dài mà còn nâng cao hình ảnh điểm đến, gia tăng trải nghiệm cho du khách.

– Áp dụng khoa học – công nghệ: Trong bối cảnh du lịch toàn cầu chuyển dịch theo xu hướng du lịch thông minh và bền vững thì việc áp dụng khoa học – công nghệ sẽ là đòn bẩy giúp tạo ra sự khác biệt và hấp dẫn cho điểm đến du lịch cũng như nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến và doanh nghiệp du lịch.

3. Thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh Quảng Ninh

3.1. Quy mô, cơ cấu khách du lịch và doanh thu từ du lịch tại tỉnh Quảng Ninh

Trong giai đoạn từ năm 2022 – 2024, du lịch Quảng Ninh đã có sự hồi phục mạnh mẽ sau đại dịch Covid-19 (xem Bảng 1 và Bảng 2).

Bảng 1. Số lượng khách du lịch đến Quảng Ninh giai đoạn 2022 – 2024

Năm2022202320242023/20222024/2023
Số lượng khách du lịch (nghìn lượt)11.60015.56019.00034,14%22,11%
Quốc tế (nghìn lượt)3042.1503.500607,23%62,8%
Nội địa (nghìn lượt)11.29613.41015.50018,71%37,22%
(Nguồn: Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh)

Bảng 2. Doanh thu du lịch của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2022 – 2024

Năm2022202320242023/20222024/2023
Doanh thu du lịch (tỷ đồng)22.59933.61046.46048,72%38,23%
(Nguồn: Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh)

Theo Bảng 1Bảng 2, cho thấy, năm 2022 tổng số lượng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 11,6 triệu lượt, trong đó khách du lịch quốc tế đạt 304 nghìn lượt, khách du lịch nội địa đạt 11,2 triệu lượt.  Tổng thu đạt 22.599 tỷ đồng. Năm 2022, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên số lượng du khách quốc tế đến Việt Nam khiêm tốn, du lịch thời gian này chủ yếu dựa vào chính sách kích cầu nội địa8.

Năm 2023, tổng số lượng du khách đến Quảng Ninh đạt 15,5  triệu lượt (tăng 34,14% so với năm 2022), trong đó khách du lịch quốc tế ước đạt 2,1 triệu lượt (tăng 607,23% so với năm 2022), khách du lịch nội địa ước đạt 13,4 triệu lượt. Tổng thu từ du lịch ước đạt 33.610 tỷ đồng (tăng 48,72% so với năm 2022). Sang năm 2023, tình hình du lịch của tỉnh Quảng Ninh có nhiều khởi sắc, doanh thu du lịch tăng 48,72% so với năm 2022, đặc biệt là số lượng khách du lịch quốc tế tăng 607,23% so với năm 2022, cho thấy sự phục hồi trở lại của du khách quốc tế đối với du lịch Quảng Ninh9.

Năm 2024, du lịch Quảng Ninh tiếp tục tăng trưởng với tổng số lượng khách du lịch đạt 19 triệu lượt (tăng 22,11% so với năm 2023), trong đó khách du lịch quốc tế vẫn tăng khá cao, đạt 3,5 triệu lượt (tăng 62,8% so với năm 2023), khách du lịch nội địa đạt 15,5 triệu lượt (tăng 37,22% so với năm 2023). Hoạt động du lịch năm 2024 tạo ra nguồn thu ước đạt 46.460 tỷ đồng (tăng 38,23% so với năm 2023)10.

3.2. Năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Quảng Ninh qua các yếu tố ảnh hưởng

Một là, nguồn tài nguyên du lịch.

Quảng Ninh được xem là vùng đất có tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên đa dạng và phong phú bậc nhất của Việt Nam. Trong đó nổi bật nhất là hệ thống biển đảo, thế mạnh đặc trưng của tỉnh với Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, không chỉ có giá trị đặc sắc về địa chất, địa mạo mà còn sở hữu cảnh quan thiên nhiên độc đáo, được công nhận ở tầm quốc tế, tạo nên sức hút mạnh mẽ với du khách trong và ngoài nước.

Ngoài thế mạnh về biển đảo, tỉnh còn có hệ thống tài nguyên núi, rừng, cảnh quan sinh thái phong phú. Các hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng với tính đa dạng sinh học cao, bảo tồn được nhiều nguồn vốn gen và các loài quý hiếm, không chỉ có giá trị về môi trường mà còn mang tính hấp dẫn lớn đối với phát triển du lịch sinh thái.

Quảng Ninh cũng là vùng đất giàu tài nguyên du lịch văn hoá, với nhiều di tích nổi tiếng, như: chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, đình Trà Cổ, di tích thương cảng Vân Đồn và nhiều lễ hội truyền thống như: Yên Tử, Bạch Đằng, đền Cửa Ông, Trà Cổ…

Tài nguyên du lịch đa dạng chính là nền tảng, là trụ cột quan trọng để phát triển kinh tế du lịch, sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu độc đáo để hình thành nên các sản phẩm du lịch đặc sắc. Đây là cơ sở giúp tạo nên lợi thế cạnh tranh riêng biệt, thu hút du khách đến với Quảng Ninh. Tuy nhiên, hiện nay, Quảng Ninh mới chỉ tận dụng tốt nguồn tài nguyên du lịch biển đảo và lượng du khách chủ yếu là mùa hè.

Hai là, hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

Hệ thống cơ sở hạ tầng đã được tỉnh Quảng Ninh tập trung chú trọng phát triển, trong đó nổi bật là mạng lưới giao thông trọng điểm, như: sân bay, bến cảng, quốc lộ, cao tốc… Việc hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông đã mở ra cơ hội cho nhiều doanh nghiệp triển khai các dự án quy mô lớn, qua đó, hình thành các sản phẩm du lịch đẳng cấp quốc tế, như: khu du lịch quốc tế Tuần Châu, khu nghỉ dưỡng Vinpearl Hạ Long; khu nghỉ dưỡng Legacy Yên Tử – Mgallery của tập đoàn Accor; Inter Continental Halong Bay Resort…

Quảng Ninh hiện có 1.668 cơ sở lưu trú du lịch, với 36.201 phòng đã được xếp hạng, trong đó, gồm 16 khách sạn 5 sao với 5.395 phòng; 23 khách sạn và căn hộ du lịch 4 sao, với 3.077 phòng. Ngoài ra, toàn tỉnh còn có 4 nhà hàng, 12 cơ sở kinh doanh đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cùng hệ thống nhà hàng, các trung tâm thương mại, điểm mua sắm chất lượng, góp phần đáp ứng nhu cầu lưu trú, ẩm thực, mua sắm và giải trí của du khách11

Tuy có những thành công nhất định, nhưng hiện nay hạ tầng giao thông ở Quảng Ninh vẫn còn thiếu đồng bộ, thiếu tính gắn kết, tính chuyên nghiệp còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao. Đồng thời, hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ phát triển du lịch tuy đã được đầu tư cải thiện song triển khai còn chậm, chưa đồng bộ, khả năng ứng dụng còn chưa sâu… Điều này đã khiến các tiềm năng về du lịch của Quảng Ninh chưa được khai thác, phát huy đúng tầm.

Ba là, nhân lực trong du lịch.

Sau đại dịch Covid-19, ngành Du lịch Quảng Ninh phục hồi ấn tượng, duy trì nguồn nhân lực ổn định và tạo ra khoảng 50.000 việc làm vào năm 2023. Hiện nay, trung bình mỗi năm, ngành Du lịch của tỉnh thu hút thêm khoảng 4.000 lao động mới12.

Mặc dù số lượng lao động tăng lên, nhưng chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch của tỉnh Quảng Ninh vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm. Hiện nay, nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế về chất lượng, thể hiện qua trình độ chuyên môn, kỹ  năng nghiệp vụ và năng lực ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao.

Một số cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề nhân lực du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường cả về số lượng lẫn chất lượng. Các đơn vị, cơ sở kinh doanh du lịch chưa nhận thức đầy đủ về vai trò chiến lược của nguồn nhân lực du lịch trong quá trình phát triển chung của doanh nghiệp, khiến chất lượng dịch vụ còn hạn chế.

Bốn là, các sản phẩm và dịch vụ du lịch.

Theo Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, mặc dù trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng các sản phẩm du lịch có chất lượng và tính đặc sắc cao vẫn tiếp tục được duy trì tại Quảng Ninh. Có thể kể đến các sản phẩm tiêu biểu, như: Vinpearl Halong Bay Resort, quần thể nghỉ dưỡng FLC Hạ Long, công viên Sun World Halong Park, khu nghỉ dưỡng Legacy Yên Tử – Mgallery…. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nhiều sản phẩm du lịch mới đã được đưa vào khai thác, điển hình, như: khu nghỉ dưỡng suối khoáng Yoko Onsen Quang Hanh; InterContinental Halong Bay Resort; khách sạn Mường Thanh Luxury Centre… góp phần làm phong phú thêm danh mục sản phẩm du lịch của tỉnh. Ngoài ra, Quảng Ninh cũng tập trung phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch biên giới… tiếp tục được quan tâm, đẩy mạnh nhằm đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, nhằm thu hút du khách đến với địa phương trong mùa du lịch thấp điểm.  

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, các sản phẩm du lịch muốn phát huy hiệu quả, tạo sức cạnh tranh bền vững thì cần có sự đầu tư đồng bộ về thủ tục pháp lý, nguồn vốn cũng như công tác triển khai. Đồng thời, có một số sản phẩm mới ở Quảng Ninh đã được đưa vào khai thác nhưng hiệu quả còn chưa cao, thậm chí gây lãng phí đầu tư.

Năm là, hệ thống chính sách thúc đẩy phát triển du lịch.

Trong thời gian qua, ngành Du lịch Quảng Ninh đã chủ động ban hành và triển khai nhiều chủ trương, cơ chế, văn bản chính sách thúc đẩy phát triển du lịch toàn diện, từng bước khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Đáng chú ý, Quảng Ninh đã ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với định hướng mở rộng không gian phát triển du lịch theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời, gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan sinh thái, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá – thiên nhiên.

Song song với đó, chính quyền địa phương cũng đã tích cực triển khai trong việc tổ chức các sự kiện, các chương trình và hoạt động kích cầu du lịch nhằm quảng bá hình ảnh và gia tăng sức hút của Quảng Ninh. Nhiều sự kiện có quy mô quốc tế và toàn quốc được tổ chức thành công tại Quảng Ninh, tiêu biểu như: cuộc thi sáng tạo Robot châu Á – Thái Bình Dương (ABU Robocon); lễ hội Carnaval Hạ Long 2024… Các hoạt động không chỉ góp phần quảng bá thương hiệu du lịch Quảng Ninh mà còn khẳng định vai trò, vị thế của tỉnh trên bản đồ du lịch quốc gia và quốc tế.

Sáu là, kế hoạch phát triển, quản lý và bảo vệ môi trường.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành Du lịch Quảng Ninh trong những năm gần đây, bên cạnh những đóng góp tích cực cho kinh tế – xã hội cũng đã và đang gây ra những áp lực ngày càng lớn đối với môi trường tự nhiên và xã hội.

Một số vấn đề nổi bật, như: (1) Vấn đề nước thải và rác thải du lịch. Tình trạng các khu nghỉ dưỡng, các cơ sở nghỉ dưỡng chưa được trang bị hệ thống xử lý nước thải và chất thải đạt chuẩn, dẫn đến hiện tượng nước thải chưa qua xử lý vẫn xả thẳng trực tiếp ra biển, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển. Ngoài ra, tình trạng xả rác thải bừa bãi tại các khu di tích, đặc biệt vào mùa lễ hội, không chỉ làm mất mỹ quan mà còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. (2) Tác động từ hoạt động đầu tư và xây dựng hạ tầng du lịch. Việc phát triển ồ ạt các khu nghỉ dưỡng cao cấp trong thời gian ngắn cũng đã dẫn đến tình trạng suy giảm không gian sinh thái tự nhiên, ảnh  hưởng đến cân bằng hệ sinh thái và tiềm năng phát triển bền vững của ngành. (3) Ô nhiễm tiếng ồn trong hoạt động du lịch không chỉ gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sống của cộng đồng dân cư địa phương mà còn làm giảm sự thoải mái của du khách, đặc biệt tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng lân cận.

Bảy là, áp dụng khoa học – công nghệ.

Sự phát triển của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI)  đang tạo ra những chuyển biến quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Quảng Ninh. Trong những năm gần đây, tỉnh đã định hướng xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, qua đó ứng dụng công nghệ để tối ưu hoá quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng trải nghiệm cho du khách, đã triển khai cung cấp hệ thống wifi công cộng miễn phí tại nhiều điểm du lịch, góp phần khả năng tiếp cận thông tin và gia tăng mức độ hài lòng của du khách, kích cầu du lịch. Các khách sạn, cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh cũng đã ứng dụng phần mềm quản lý khách sạn, nhờ vậy, tiết kiệm được chi phí nhân công, tối ưu vận hành và nâng cao hiệu quả tài chính.

Các sản phẩm du lịch số dựa trên công nghệ thực tế ảo (VR), số hoá điểm đến du lịch bằng giao diện ảnh 360 độ và 3D đã được tỉnh đưa vào khai thác, giúp du khách trải nghiệm trước điểm đến và nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch…

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì việc ứng dụng khoa học – công nghệ vào phát triển du lịch hiện nay của Quảng Ninh vẫn chưa toàn diện, thiếu tính hệ thống, gây hạn chế trong việc phổ biến và còn chưa khai thác hết tiềm năng của công nghệ hiện đại.

4. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Quảng Ninh

Thứ nhất, tiếp tục phát huy tối đa và khai thác tốt lợi thế tài nguyên du lịch. Dựa trên sự tôn trọng, ưu tiên bảo tồn di sản, văn hoá di sản sẽ giúp du lịch Quảng Ninh nâng cao lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, mở rộng khai thác các loại hình tài nguyên du lịch văn hoá, núi, rừng và hệ sinh thái tự nhiên sẽ góp phần đa dạng hoá sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của du khách.  

Thứ hai, tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và hệ thống cơ sở hạ tầng. đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin – một trong những điều kiện tiên quyết để ứng dụng khoa học công nghệ thành công là phải có hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại và đồng bộ.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và tâm lý khách hàng cho đội ngũ nhân viên lao động. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, cũng như khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề mở rộng liên kết quốc tế nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.  

Thứ tư, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ du lịch nhằm tăng tính hấp dẫn, bền vững; hình thành các sản phẩm du lịch – dịch vụ mới có tính cạnh tranh cao, hướng đến phân khúc thị trường cao cấp, tạo cơ hội phát triển kinh tế đêm, kinh tế di sản và du lịch 4 mùa.Trên cơ sở lợi thế tài nguyên của tỉnh, một số loại hình tiềm năng có thể mở rộng, như: du lịch văn hoá tâm linh, nghỉ dưỡng chất lượng cao, tổ chức các sự kiện tôn giáo mang tầm quốc tế, quốc gia, các hội thảo, nghiên cứu khoa học, du lịch MICE…

Thứ năm, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước và xây dựng khung chính sách phát triển du lịch đồng bộ, hiệu quả. Tỉnh Quảng Ninh cần ban hành chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ vốn, thuế và tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính để thu hút doanh nghiệp. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến để xây dựng và nâng cao hình ảnh du lịch Quảng Ninh.  

Thứ sáu, nâng cao chất lượng môi trường du lịch. Các cơ sở dịch vụ phải tuân thủ nghiêm các quy định về môi trường trong vấn đề xử lý rác thải. Cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, song song với việc áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm. Ngoài ra, việc tiếp tục xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch xanh, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên cũng sẽ góp phần tạo dựng hình ảnh Quảng Ninh là điểm đến bền vững, thân thiện.

Thứ bảy, thúc đẩy chuyển đổi số trong du lịch. Tỉnh Quảng Ninh cần thúc đẩy chuyển đổi số trong du lịch bằng cách triển khai các hoạt động bồi dưỡng cho các đối tượng liên quan để nâng cao nhận thức về công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, việc xây dựng bản đồ số 3D, số hóa điểm đến, phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh sẽ nâng cao trải nghiệm của du khách; đồng thời, gắn kết với phát triển kinh tế di sản. Đây là giải pháp quan trọng để khẳng định vị thế Quảng Ninh là điểm đến hấp dẫn 4 mùa trong năm.  

4. Kết luận

Nghiên cứu phân tích, đánh giá và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch tỉnh Quảng Ninh. Dựa trên mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh du lịch của M.Porter; mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch của Crouch và Ritchie và mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành du lịch của Dwyer và Kim, nghiên cứu đã xác định 7 yếu tố then chốt liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Quảng Ninh. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, nghiên cứu đã nhìn nhận được những thời cơ và thách thức của các yếu tố trên đối với năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Quảng Ninh, từ đó, đưa ra được một số giải pháp gắn liền với các yếu tố cạnh tranh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch tỉnh Quảng Ninh.

Chú thích:
1, 5. Potter, M.E (1990). The Competitive Advantage of Nations. Harvard Business Review, economie, https://economie.ens.psl.eu/IMG/pdf/porter_1990_-_the_competitive_advantage_of_nations.pdf.
2, 7. Dwyer, L & Kim, C., (2003). Destination Competitiveness: determinants and indicators. Current Issues in Tourism, 6 (5), 369 – 414.
3, 6. Ritchie, J.R.B & Crouch, G.I. (2003), The Competitive Destination: A Sustainable tourism perspective, Tourism Management, 21(1), 1-7.
4. Larry, D., & Chulwon, K. (2003). Destination competitiveness and bilateral tourism flows between Australia and Korea. Journal of Tourism Studies, 14(2), 55-67.
8, 9, 10, 11, 12. 10. Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh (2024). Báo cáo hoạt động du lịch của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2022 – 2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Dwyer, L., F. (1999). Tourism Price Competitiveness and Journey Purpose. Competitiveness in Hospitality and Tourism, 283-299.
2. Hassan, S (2000). Determinants of market competitiveness in an environmentally sustainable tourism industry. Journal of Travel Research, 38 (3) (February), 239 – 45.
3. OECD (2013). Indicators for Measuring Competitiveness in Tourism, Tourism papers, 115 – 125.
4. Hồ Quế Hậu (2021). Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam, Kinh tế và phát triển, số 283, tháng 01/2021.
5. Kiều Mai Hương (2023). Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hạ Long. Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 28, tháng 10/2023.
6. Du lịch Quảng Ninh phát triển bền vững. https://vietnamtourism.gov.vn/post/61352, ngày 20/2/2025.
7. Nguồn lực tài nguyên – tiềm năng lớn cho phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh. https://itdr.org.vn/nghien_cuu/nguon-luc-tai-nguyen-tiem-nang-lon-cho-phat-trien-du-lich-tinh-quang-ninh/, ngày 02/12/2023.
8. Phát triển du lịch biển bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/19/phat-trien-du-lich-bien-ben-vung-tren-dia-ban-tinh-quang-ninh/, ngày 19/6/2025.