Đại úy Vũ Đức Quang
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng y tế cơ sở là chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của người dân từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Bài viết tập trung phân tích những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng về xây dựng tế cơ sở; đánh giá kết quả và rút ra một số kinh nghiệm cơ bản từ chủ trương xây dựng y tế cơ sở của Đảng hiện nay.
Từ khóa: Chủ trương của Đảng; xây dựng y tế cơ sở; giai đoạn 2021-2025; quản lý nhà nước.
1. Đặt vấn đề
Xác định đúng vị thế, vai trò của y tế dự phòng, y tế cơ sở, y học cổ truyền; tập trung xây dựng xây dựng, hoàn thiện, nâng cao năng lực y tế dự phòng, hệ thống y tế cơ sở bảo đảm phòng, bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng; ưu tiên xây dựng, đầu tư đồng bộ về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị cho trạm y tế cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phát triển y tế chuyên sâu và bảo đảm an ninh y tế1 nhằm phát triển, củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu ở Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2025 là thời kỳ đất nước chịu nhiều tác động mạnh mẽ bởi những biến động lớn của tình hình thế giới và khu vực, với nhiều thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đặc biệt là đại dịch Covid-19… Những yếu tố này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực hoạt động của y tế cơ sở phù hợp với bối cảnh mới. Theo đó, chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống y tế cơ sở đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước.
2. Chủ trương của Đảng về xây dựng y tế cơ sở
Xây dựng y tế cơ sở được thể hiện tập trung trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng, như: Kết luận số 118-KL/TW ngày 04/01/2016 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Những quan điểm, đường lối đó được biểu hiện có một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Một là, sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là quan điểm bao trùm, thể hiện vị trí, vai trò trung tâm của sức khỏe cá nhân, cộng đồng và sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo đó, việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phải được quan tâm ở tất cả các tuyến, nhất là chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đảng chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và phục hồi chức năng ở tất cả các tuyến. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát triển hệ thống y tế dự phòng, chủ động phòng bệnh, không để xảy ra dịch bệnh lớn”2.
Hai là, xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh; y tế cơ sở là nền tảng. Đây là quan điểm mang tính chiến lược về cấu trúc và định hướng hoạt động của hệ thống y tế quốc gia. Được thể hiện trên ba mặt: mức độ bao phủ, tiếp cận dịch vụ và tài chính cho chăm sóc sức khỏe. Tính hiệu quả được đánh giá thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực để đạt được kết quả sức khỏe cao nhất. Tính phát triển bao hàm đồng thời phát triển y tế phổ cập (bảo đảm mọi người dân tiếp cận dịch vụ cơ bản, chất lượng với chi phí thấp) và y tế chuyên sâu (đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh kỹ thuật cao, phù hợp mô hình bệnh tật). Nghị quyết số 20-NQ/TW chỉ rõ: “Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh; y tế cơ sở là nền tảng; y tế chuyên sâu đồng bộ và cân đối với y tế cộng đồng”3.
Ba là, hướng tới thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; tính đúng, tính đủ gói dịch vụ y tế nhằm phát triển vững chắc hệ thống y tế cơ sở. Bảo hiểm y tế được Đảng xác định là một chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính hiệu quả và công bằng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính do bệnh tật gây ra cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro và đoàn kết xã hội. Quan điểm này thực sự đặt người dân vào vị trí trung tâm, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe cho mọi công dân. Nghị quyết số 72-NQ/TW của Đảng đã chỉ rõ: “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững Quỹ Bảo hiểm y tế, cải cách thủ tục hành chính, sử dụng tiết kiệm chi phí quản lý, tăng chi cho khám bệnh, chữa bệnh”4.
Bốn là, nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.
Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “phát triển nguồn nhân lực y tế cả số lượng và chất lượng”5 nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Đây là nội dung quan điểm mang tính định hướng chiến lược, gắn trực tiếp việc xây dựng đội ngũ cán bộ y tế với nhiệm vụ củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở. “Rộng khắp, gần dân” không chỉ là mặt tổ chức, mà thể hiện quan điểm bảo đảm mọi người dân, dù ở bất cứ vùng miền nào, đều được tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản. Hướng đến mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng tích cực, quản lý sức khỏe cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào điều trị bệnh. Để thực hiện những nội dung trên, Đảng đã xác định một số giải pháp cụ thể:
Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, Nhân dân về xây dựng hệ thống y tế cơ sở.
Nghị quyết số 20-NQ/TW nhấn mạnh: “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, các phong trào thi đua, các cuộc vận động có các nội dung, tiêu chí liên quan tới công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ”6. Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân ngày càng cao, việc xây dựng hệ thống y tế cơ sở vững mạnh trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, gắn liền với mục tiêu phát triển con người toàn diện và bảo đảm an sinh xã hội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, trước hết cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân về vai trò của y tế cơ sở. Đây là giải pháp có tính nền tảng và định hướng lâu dài nhằm tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với xây dựng hệ thống y tế cơ sở để huy động sự tham gia đồng bộ, tích cực của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong việc củng cố và phát triển hệ thống y tế cơ sở. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục còn góp phần hình thành trong xã hội một nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và hành vi lành mạnh về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, nâng cao nhận mỗi người dân sẽ chủ động hơn trong việc phòng bệnh, rèn luyện thể chất, tham gia vào các hoạt động y tế cộng đồng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “sức khỏe cho mọi người”.
Hai là, đổi mới, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến cơ sở.
Đây là giải pháp quan trọng với mục tiêu hướng đến xây dựng hệ thống y tế cơ sở hiện đại, hoạt động hiệu quả, công bằng, phục vụ nhân dân tốt nhất, cụ thể: Bảo đảm mỗi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe suốt đời, tại nơi cư trú. Đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ y tế theo hướng lấy người dân làm trung tâm, lấy y tế cơ sở làm nền tảng. Hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở theo hướng đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa các tuyến, giữa công lập và tư nhân xây dựng mô hình trạm y tế hoạt động theo nguyên lý y học gia đình. Chỉ thị số 25-CT/TW khẳng định: Đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của y tế cơ sở theo hướng chú trọng phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ, sàng lọc phát hiện sớm bệnh tật; đẩy mạnh quản lý và điều trị các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính, chăm sóc dài hạn tại y tế cơ sở7.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế cơ sở với số lượng, cơ cấu phù hợp. Nhân lực y tế là yếu tố quyết định hiệu quả của hệ thống y tế, trong đó nhân lực y tế cơ sở đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là tuyến đầu trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tăng cường đào tạo, đào tạo lại, luân phiên cán bộ y tế, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới”8. Đây là một trong những nhiệm vụ chiến lược nhằm đổi mới toàn diện hệ thống y tế. Thực tiễn cho thấy, mặc dù mạng lưới y tế cơ sở nước ta được hình thành rộng khắp từ trung ương đến địa phương, nhưng chất lượng và cơ cấu nhân lực vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều trạm y tế xã, phường, thị trấn thiếu bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng; tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học còn thấp; năng lực ứng dụng công nghệ, nghiên cứu khoa học và quản lý y tế cộng đồng còn hạn chế. Trong khi đó, yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu ngày càng cao, đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng, cơ cấu hợp lý và khả năng tiếp cận khoa học y học hiện đại.
2. Một số kết quả và kinh nghiệm
2.1. Một số kết quả
Trong giai đoạn 2016 – 2021, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống y tế cơ sở ngày càng được hoàn thiện và phát triển, đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Hệ thống y tế dự phòng từ trung ương đến địa phương và mạng lưới y tế cơ sở được tiếp tục củng cố và phát triển, đã từng bước kiểm soát được dịch bệnh Covid-19, không để lây lan trên diện rộng, được ghi nhận đánh giá cao”9.
Nhận thức của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương về vị trí tầm quan trọng của xây dựng hệ thống y tế cơ sở được nâng lên rõ rệt, mạng lưới truyền thông giáo dục sức khoẻ từng bước được kiện toàn, về củng cố bộ máy tổ chức mạng lưới y tế cơ sở có nhiều thay đổi. Số lượng cán bộ y tế tại tuyến y tế cơ sở đã gia tăng rõ rệt. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 58,3% năm 2009 lên 66,8% vào năm 2012, đến năm 2020 đã đạt 90,7% dân số. Đa số các cơ sở y tế tuyến y tế cơ sở đều thực hiện cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế và tỷ lệ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế là chủ yếu trong cơ cấu cung ứng dịch vụ khám, chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Từ 2014 – 2020, tỷ lệ xã khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tăng từ 80% lên 92,8%10.
Đội ngũ y, bác sĩ và hệ thống cơ sở vật chất bảo đảm cho khám, chữa bệnh của người dân bước đầu đáp ứng nhu cầu của người dân. Đặc biệt, tinh thần, thái độ, trách nhiệm của đội ngũ y, bác sĩ được nâng lên về mọi mặt, thận thiện, gần gũi, phát huy năng lực, sở trường, thế mạnh trong tư vấn, khám, chữa bệnh cho Nhân dân. Nhờ vậy, sức khoẻ của người dân được nâng lên, bảo đảm chất lượng cuộc sống, xây dựng hình ảnh, thương hiệu của người thầy thuốc như mẹ hiền trong lòng người dân. Nghị quyết số 72-NQ/TW đã chỉ rõ: “chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực; nhiều chỉ số về sức khỏe người dân vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức phát triển”11.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống y tế cơ sở vẫn còn một số mặt hạn chế như: công tác tuyên truyền về vị trí, vai trò của y tế cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của xã hội, hiệu quả tuyên truyền chưa cao, chưa làm nổi bật vai trò y tế cơ sở trong quản lý sức khỏe cộng đồng. Từ đó dẫn đến người dân vẫn có tâm lý “y tế cơ sở chỉ là nơi sơ cấp cứu”, dẫn tới lựa chọn khám chữa bệnh ở tuyến trên, gây quá tải bệnh viện. Tổ chức mạng lưới y tế cơ sở chưa ổn định, nhiều đầu mối chưa đồng bộ, thiếu ổn định, hoạt động chưa hiệu quả.
Mạng lưới y tế cơ sở còn nhiều đầu mối quản lý. Mô hình hoạt động của trạm y tế xã chưa được định hình rõ chức năng và mô hình hoạt động. Một số trạm y tế vẫn chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ hành chính, báo cáo chiến dịch, tiêm chủng. Cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đồng bộ, dẫn đến mạng lưới y tế cơ sở chưa đủ năng lực thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cơ bản. Số lượng và chất lượng dịch vụ của tuyến y tế cơ sở, đặc biệt là các huyện vùng khó khăn, ở trạm y tế xã vẫn còn hạn chế; nhiều bệnh viện/trung tâm y tế huyện chưa thực hiện hết các dịch vụ theo phân tuyến; bình quân các trạm y tế xã chỉ thực hiện được 60-70% các dịch vụ kỹ thuật, cung ứng được khoảng 40% số thuốc thuộc gói dịch vụ y tế cơ bản12.
2.2. Một số kinh nghiệm
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng về vai trò của xây dựng y tế cơ sở.
Đây là kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn xây dựng y tế cơ sở của Đảng, Nhà nước ta trong thời gian vừa qua. Thực tiễn cho thấy, nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng về vai trò của xây dựng y tế cơ sở được nâng lên thì y tế cơ sở phát triển và mở rộng. Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền địa phương, trực tiếp lực lượng y, bác sĩ cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng bệnh hơn chữa bệnh”, gắn chăm sóc sức khỏe ban đầu với quản lý sức khỏe toàn dân, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ y tế cơ sở, liên tục và có chất lượng ngay tại nơi cư trú.
Xác định y tế cơ sở là “xương sống” của hệ thống y tế; ưu tiên bố trí nguồn lực, hoàn thiện cơ chế, chính sách và đổi mới mô hình tổ chức cung ứng dịch vụ y tế trong điều kiện mới. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền cho các tầng lớp nhân dân về vai trò của xây dựng hệ thống y tế cơ sở; trên cơ sở đó, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch xây dựng y tế cơ sở phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ; tạo được sự đồng lòng mạnh mẽ trong toàn dân, nhất là đội ngũ y, bác sĩ khi được tổ chức phân công, giao nhiệm vụ.
Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ, tổ chức đảng, phát huy vai trò quản lý thống nhất của chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu; đồng thời huy động sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển y tế cơ sở. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính bền vững, hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tuyến ban đầu.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về xây dựng, phát triển y tế cơ sở.
Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm tháo gỡ những “điểm nghẽn” của y tế cơ sở, như: cơ chế tài chính cho trạm y tế xã, phường; chính sách đãi ngộ và thu hút nhân lực y tế cơ sở; cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế cho các dịch vụ y tế dự phòng, quản lý bệnh mãn tính và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, đã tạo điều kiện thuận lợi để lồng ghép đầu tư cho y tế cơ sở với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.
Mô hình tổ chức y tế cơ sở từng bước được đổi mới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa y tế dự phòng và y tế điều trị, giữa trạm y tế cơ sở với tuyến trên thông qua hệ thống chuyển tuyến, hội chẩn từ xa và hỗ trợ chuyên môn thường xuyên. Nhiều địa phương đã triển khai mô hình trạm y tế hoạt động theo nguyên lý y học gia đình, coi trọng quản lý sức khỏe người dân theo hồ sơ điện tử, theo dõi liên tục các yếu tố nguy cơ và bệnh mạn tính, từ đó góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến trên và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Việc xây dựng y tế cơ sở không thể tách rời quá trình hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình tổ chức hệ thống y tế; các chính sách về tài chính, nhân lực, quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ được thiết kế đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao. Đồng thời, việc đổi mới mô hình tổ chức phải gắn với nâng cao năng lực quản trị hệ thống y tế ở địa phương, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế.
Ba là, tập trung phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở gắn với nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
Nghị quyết số 72-NQ/TW đã chỉ rõ: phát triển nhân lực y tế bảo đảm đồng bộ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, nhất là nhân lực phục vụ y tế cơ sở, y tế dự phòng, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả Đề án đào tạo, bồi dưỡng bác sĩ tạo nguồn cho trạm y tế cấp xã, đặc biệt cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo13. Thực tiễn cho thấy, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở. Do đó, chủ trương của Đảng giai đoạn 2021-2025 cho thấy, việc quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ y tế cơ sở cả về số lượng, chất lượng là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng.
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân lực y tế cơ sở, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc đã tạo động lực cho cán bộ y tế cơ sở phát triển toàn diện về mọi mặt. Đội ngũ cán bộ y tế cơ sở đã thể hiện rõ vai trò, bản lĩnh và phẩm chất nghề nghiệp, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống y tế cơ sở. Trong quá xây dựng y tế cơ sở phải đặt trọng tâm vào xây dựng đội ngũ cán bộ y tế đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có trình độ chuyên môn cao và tinh thần phục vụ Nhân dân tận tụy.
Bốn là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng khoa học – công nghệ trong hoạt động y tế cơ sở.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào hoạt động của y tế cơ sở. Thực tiễn cho thấy, cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị phù hợp và hệ thống thông tin y tế hiện đại không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn góp phần tạo niềm tin cho người dân khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại tuyến cơ sở. Với tinh thần đó; cải tạo, nâng cấp theo tiêu chí quốc gia về y tế cơ sở, bảo đảm đủ phòng chức năng, trang thiết bị thiết yếu và điều kiện làm việc cho cán bộ y tế.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và cung ứng dịch vụ y tế cơ sở, như xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân, triển khai khám, chữa bệnh từ xa, kết nối dữ liệu giữa trạm y tế với bệnh viện tuyến trên, cũng như tích hợp các dịch vụ y tế với nền tảng bảo hiểm y tế và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, cần bảo đảm sự kết nối liên thông giữa các tuyến trong hệ thống y tế, giữa y tế với các ngành, lĩnh vực liên quan và giữa trung ương với địa phương, nhằm hình thành một hệ thống chăm sóc sức khỏe thống nhất, thông suốt và hiệu quả từ cơ sở đến trung ương.
3. Kết luận
Chủ trương của Đảng về xây dựng y tế cơ sở giai đoạn 2021 – 2025 đã khẳng định vai trò nền tảng của tuyến y tế cơ sở trong hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực tiễn triển khai cho thấy, khi được quan tâm lãnh đạo, đầu tư đồng bộ và đổi mới cơ chế hoạt động, y tế cơ sở đã phát huy hiệu quả trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp. Những kinh nghiệm rút ra góp phần tiếp tục hoàn thiện chính sách y tế trong giai đoạn mới. Đồng thời, các kết quả đạt được khẳng định tính đúng đắn của chủ trương lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ thống y tế bền vững, hiện đại và hiệu quả; góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, phục vụ hữu ích vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an sinh xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Chú thích:
1, 4, 11, 13. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
2, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 301-301, 302.
3, 6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới.
7. Ban Bí thư (2023). Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25/10/2023 về tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới.
8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 137, 46.
10, 12. Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế (2023). Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư (khóa IX) về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; 10 năm thực hiện Thông báo Kết luận số 126-TB/TW ngày 01/4/2013 của Ban Bí thư (khóa XI).



