“Quản trị cao” – xung lực ngăn ngừa tham nhũng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại thành phố Đà Nẵng

Bài 1: Giá trị “Quản trị cao” – xung lực ngăn ngừa tham nhũng và củng cố niềm tin của Nhân dân – Điểm tựa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

ThS. Lê Thị Ngọc Lệ
Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I xác định “quản trị cao” là một giá trị cốt lõi trong mô hình phát triển “5 cao”: tri thức cao, văn hóa cao, thu nhập cao, quản trị cao, mức sống cao. Dưới góc độ khoa học, “Quản trị cao” chính là sự vận dụng lý thuyết “quản trị tốt” vào thực tiễn địa phương, lấy minh bạch làm nền tảng, trách nhiệm giải trình làm cơ chế bảo đảm và lợi ích người dân làm thước đo. Khi bộ máy vận hành chủ động theo tinh thần “đặt quyền lợi của dân trên hết thảy”1, các “điểm mù” trong quản trị sẽ được nhận diện và xử lý từ sớm, góp phần phòng, chống tham nhũng bền vững; đồng thời, thiết lập “thế trận lòng dân”, tạo thành trì kiên cố để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Quản trị cao; xung lực; ngăn ngừa tham nhũng; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; thành phố Đà Nẵng.

1. Tham nhũng và đòi hỏi đổi mới cấu trúc quản trị

Tham nhũng – “hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi”2, vốn không phải câu chuyện riêng biệt của bất kỳ quốc gia hay thời đại nào; trái lại, nó luôn được nhận diện là mặt trái tất yếu của quyền lực nếu thiếu đi cơ chế quản trị minh bạch và sự giám sát thực chất. Trên quy mô toàn cầu, cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này đã được nâng tầm thành cam kết chung khi Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước về chống tham nhũng (UNCAC) vào năm 2003, đồng thời ấn định ngày 09/12 hằng năm là Ngày Quốc tế phòng, chống tham nhũng3. Mỗi năm, một chủ đề hành động được đưa ra như: “Đoàn kết thế giới phòng, chống tham nhũng”, “Nhổ tận gốc tham nhũng, bảo vệ các giá trị dân chủ”…

Tại Việt Nam, ngay từ thế kỷ XV, trong Bộ luật Hồng Đức – báu vật của nền pháp lý cổ Việt Nam – quy định về phòng, chống tham nhũng đã “được thiết chế vô cùng nghiêm khắc với những hình phạt mang tính răn đe cao như biếm (giáng chức), đồ (giam cầm), lưu (đày đi nơi xa)…”4. Quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn coi trọng công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Quyết tâm chính trị đã được hiện thực hóa bằng một hệ thống thiết chế vững chắc và toàn diện. Trước hết, việc kiện toàn tổ chức với việc thành lập Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tạo sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Hàng loạt Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực (Quy định 114-QĐ/TW, 131-QĐ/TW, 132-QĐ/TW, 178-QĐ/TW, 189-QĐ/TW) đã được ban hành, đóng vai trò như những “bộ lọc” nghiêm khắc để làm sạch bộ máy từ bên trong. Những quy định này, kết hợp cùng hệ thống pháp luật, như: Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Luật Thanh tra năm 2022, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 cùng các văn bản pháp luật chuyên ngành khác đã tạo ra một hành lang pháp lý xuyên suốt. Tuy nhiên, để phòng, chống, “nhổ tận gốc” một loại “vi khuẩn” đã tồn tại hàng thế kỷ, chỉ có ý chí hay sự nghiêm minh của pháp luật thôi vẫn chưa đủ mà cần một cấu trúc quản trị vận hành khoa học và hiện đại để triệt tiêu điều kiện sinh tồn của tham nhũng.

Tại sao cuộc chiến phòng, chống tham nhũng lại cam go đến vậy?

Câu trả lời nằm ở “mảnh đất” mà nó trú ngụ.

Hội nghị quốc tế chống tham nhũng IACC lần thứ 13 ở Athens (Hy Lạp) đã đưa ra công thức:

“Tham nhũng = Độc quyền + Bưng bít thông tin – Trách nhiệm giải trình”5.

Công thức này đã chỉ rõ: tham nhũng tỷ lệ thuận với “độc quyền” và “bưng bít thông tin”, nhưng lại tỷ lệ nghịch với “trách nhiệm giải trình”. Điều này khẳng định một chân lý: tham nhũng không chỉ là sự suy thoái đạo đức cá nhân mà trước hết là hệ quả của một nền quản trị nhiều kẽ hở. Khi quyền lực không được đặt dưới ánh sáng của sự minh bạch và sự giám sát của trách nhiệm, tham nhũng sẽ như một loại “vi khuẩn” tự nhân bản trong những khoảng trống của cơ chế. Vì vậy, bên cạnh chế tài nghiêm minh xử lý, tư duy “quản trị” đòi hỏi chúng ta phải thay đổi “môi trường sống” của bộ máy. Chống tham nhũng hiệu quả nhất chính là dùng “Quản trị tốt” để thiết lập một hệ sinh thái vận hành chuẩn mực. Trong đó, tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số chính là hai “mũi giáp công” hiện thực hóa tư duy quản trị; bởi việc giảm tầng nấc trung gian giúp xóa bỏ các “nút thắt” quyền lực, còn số hóa quy trình sẽ đẩy lùi bóng tối của cơ chế “xin – cho”, từ đó tăng tính minh bạch và buộc trách nhiệm giải trình phải được thực hiện công khai. Khi sự độc quyền bị phá vỡ bởi tính công khai, sự tùy tiện bị thay thế bằng quy trình chuẩn hóa, trách nhiệm giải trình trở thành hơi thở của công vụ thì dù cá nhân có “muốn” tham nhũng cũng “không thể” thực hiện.

Sự biến dạng ngày càng tinh vi của tham nhũng với xu hướng ẩn mình trong chính quy trình và cơ chế quản lý hợp pháp, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ tư duy “chống” tham nhũng bằng xử lý sang tư duy “ngăn ngừa” tham nhũng bằng thiết kế một nền quản trị minh bạch, có trách nhiệm giải trình cao và vận hành hiệu quả.

2. Từ lý thuyết “Quản trị tốt” đến “Quản trị cao” của Đà Nẵng: hệ miễn dịch tự thân và thành trì niềm tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngày nay với cách mạng 4.0 và thế giới được kết nối thông tin cùng với việc xử lý thông tin chủ yếu do trí tuệ nhân tạo (AI) đảm nhiệm, thì quản trị nhà nước “không thể tiếp tục vận hành theo lối cũ mà cách thức kiểm soát của các nhà nước độc quyền toàn trị cũng phải thay đổi về căn bản”6. Khái niệm “quản trị” (governance) trong quản lý xã hội của nhà nước “được dùng thay thế cho thuật ngữ “government’” (cai trị)”7. Theo đó, quản trị nhà nước được hiểu là “việc xác định các nguồn lực và tài nguyên do Nhà nước quản lý và sử dụng thông qua các thể chế chính thức và phi chính thức cùng với những công cụ (khoa học, kỹ thuật và công nghệ), phương thức nhằm bảo đảm cho sự tham gia của cộng đồng dân cư vào việc quản trị nhà nước ngày càng sâu rộng và đạt được hiệu quả cao nhất”8.

Đi liền với đó, mô hình “Quản trị tốt” (Good local governance) đặt ra những yêu cầu chuẩn mực và khắt khe. Trong quản trị hiện đại, “Quản trị tốt” được hiểu là “quản lý các nguồn lực công và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người theo cách thức hoàn toàn không có sự tham nhũng và lạm dụng và thực sự tuân thủ nguyên tắc pháp quyền”9. Theo Hội đồng châu Âu (EC): “Quản trị tốt” dựa trên 5 nguyên tắc: công khai (openness), sự tham gia (participation), trách nhiệm giải trình (accountability), tính hiệu quả (effectiveness) và sự gắn kết (coherence)10. Hay UNDP cho rằng, “Quản trị tốt” nói đến các hệ thống quản lý có các tiêu chí: năng lực, kịp thời, toàn diện và minh bạch”11.

Khi quản trị đạt chuẩn, mọi hành vi nhũng nhiễu bị hạn chế, quyền lực nhà nước thực sự trở thành công cụ phục vụ phát triển xã hội, đồng thời giảm thiểu nguy cơ tham nhũng ngay từ gốc. Bởi các giá trị cốt lõi của “Quản trị tốt” khi được thực thi sẽ tạo ra cơ chế phòng ngừa tự thân:

(1) Minh bạch chính là bộ lọc. Mọi thủ tục, dự án và quyết định được công khai số hóa, loại bỏ “vùng tối” để người dân, doanh nghiệp và cơ quan giám sát dễ dàng theo dõi.

(2) Trách nhiệm giải trình là lá chắn. Cán bộ và cơ quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mỗi quyết định công vụ.

(3) Hiệu quả là xung lực. Tối ưu hóa quy trình công vụ để hạn chế các cơ hội lợi dụng kẽ hở hành chính, giảm thiểu thời gian và nguồn lực bị thất thoát do tiêu cực.

(4) Sự tham gia của người dân – giám sát tự nhiên. Người dân trở thành “ngọn đèn pha” giám sát, bảo đảm lợi ích cộng đồng luôn được đặt lên trên hết, đồng thời nâng cao chất lượng quyết định của chính quyền.

Sâu xa hơn, giá trị của “Quản trị tốt” còn nằm ở sức mạnh cảm hóa và gắn kết xã hội. Khi các tiêu chuẩn quản trị được thực thi một cách thực chất, nó không chỉ là những rào cản kỹ thuật để “chống” sai phạm mà quan trọng hơn là quá trình “xây” niềm tin xã hội nhằm phòng, chống tham nhũng một cách bền vững và tạo lập “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi khi người dân được thấy sự minh bạch trong vận hành, được cảm nhận sự tận tâm trong phục vụ được bảo đảm tính công bằng trong thực thi quyền lực, niềm tin vào chính quyền sẽ dần được hình thành và củng cố. Chính từ nền tảng đó, quản trị nhà nước mới hiện thực hóa đầy đủ tinh thần “để Nhân dân thấy, Nhân dân tin, Nhân dân ủng hộ, Nhân dân đồng hành và Nhân dân thụ hưởng”12 – thông điệp được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh như một yêu cầu xuyên suốt trong xây dựng và vận hành nền quản trị quốc gia hiện đại tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Khi đã có niềm tin, người dân từ chỗ là “đối tượng bị quản lý” chuyển hóa thành “chủ thể đồng hành cùng chính sách”, đồng thời là những “chiến sĩ” tự nguyện trên mặt trận tư tưởng. Họ sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi tạm thời về lợi ích cá nhân, nhường mặt bằng cho các dự án phát triển, hay chia sẻ khó khăn với chính quyền trong những giai đoạn cần sự bứt phá, bởi họ tin rằng mục tiêu cuối cùng là vì lợi ích chung và sự phát triển bền vững. Một xã hội mà niềm tin của người dân đối với chính quyền được củng cố vững chắc chính là môi trường khắc nghiệt nhất đối với các hành vi tham nhũng và là “vùng xanh” an toàn trước mọi luồng thông tin xấu độc.

Khi người dân tin vào sự chính trực của hệ thống, họ sẽ không còn nhu cầu “lót tay” hay tìm “cửa sau” để giải quyết công việc; đồng thời sẽ chủ động phản bác, miễn nhiễm với những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết. Trong nền “Quản trị tốt”, người dân không đứng ngoài quan sát mà được đặt ở vị trí trọng tâm; chính sự minh bạch và tinh thần phụng sự của cơ quan công quyền tạo ra vòng xoáy tích cực: chính quyền càng minh bạch, Nhân dân càng tin tưởng và sự giám sát xã hội càng trở nên hiệu quả, khiến tham nhũng không thể len lỏi vào bộ máy; “thế trận lòng dân” vững chãi được thiết lập hướng đến bảo vệ lý tưởng và con đường mà Đảng đã chọn. Khi đó, “hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi”13, những hành vi len lỏi, biến tướng của tham nhũng sẽ bị phát hiện và những âm mưu phá hoại tư tưởng ngay từ khi mới manh nha.

Trong bối cảnh khi không gian mạng trở thành “mặt trận không tiếng súng” với những thủ đoạn xuyên tạc ngày càng tinh vi, chúng ta không thể bảo vệ niềm tin chỉ bằng những “khiên chắn” lý thuyết thuần túy. Đã đến lúc công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng phải song hành chặt chẽ với thực tiễn quản trị. Lý luận hiện đại có thể giúp nhận diện và vô hiệu hóa sự sai lệch, nhưng vũ khí sắc bén nhất chính là hiệu quả thực thi chính sách. Khi quản trị hiệu quả, khi nghị quyết được chuyển hóa thành cơm no, áo ấm và sự an lòng của Nhân dân thì đó chính là “thế trận lòng dân” vững chắc nhất. Bởi lẽ, niềm tin được xây đắp từ sự hài lòng của Nhân dân chính là thành trì kiên cố nhất để bẻ gãy mọi luồng tư tưởng độc hại trong kỷ nguyên mới.

Xác định quản trị là hạt nhân của sự phát triển, thành phố Đà Nẵng đã đặt mục tiêu “Quản trị cao” là một trong năm giá trị cốt lõi của mô hình “5 cao”. Thực chất, “Quản trị cao” chính là cách Đà Nẵng “gọi tên” cho mục tiêu hiện thực hóa trọn vẹn các tiêu chí của “Quản trị tốt”, đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh thành phố cùng với các tỉnh, thành trong cả nước vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Đây là lời cam kết xây dựng một nền công vụ tận tâm, phụng sự để Đà Nẵng có đủ nội lực hướng tới đạt mục tiêu “trở thành đô thị sinh thái, thông minh…, thành phố đáng sống, đẳng cấp khu vực châu Á”14.

Tuy nhiên, xây dựng một nền quản trị đạt mức “Cao” là một hành trình bền bỉ, không thể nóng vội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” năm 1945 đã chỉ ra rằng: “Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm”15. Chính việc kiên định với phương châm lấy các giá trị cốt lõi của “Quản trị tốt” làm tiêu chuẩn thực thi ngay từ bước đầu đang giúp Đà Nẵng từng bước chuyển hóa lý thuyết thành hành động thực tiễn. Việc bám sát phương châm này không chỉ giúp thành phố đi đúng hướng trên tiến trình đạt đến “Quản trị cao” mà quan trọng hơn, đó chính là cách thức hữu hiệu nhất để thiết lập cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng từ sớm, từ xa và từ gốc rễ; khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và sức sống của lý luận Đảng trong thực tiễn. Qua đó, tạo dựng “thành trì lòng dân” bất khả xâm phạm, trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những kết quả thực chứng, tạo xung lực sạch cho những mục tiêu bứt phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I đã đề ra.

Chú thích:
1, 15. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 51, tr. 64 – 66.
2. Quốc hội (2018, 2025). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
3. Ngày Quốc tế phòng, chống tham nhũng: Huy động sự chung tay của các chính phủ. https://baocaovien.vn/tin-tuc/ngay-quoc-te-phong-chong-tham-nhung-huy-dong-su-chung-tay-cua-cac-chinh-phu/120065.html.
4. Nguyễn Thanh Bình (2017). Phòng chống tham ô, tham nhũng thời Lê sơ. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5 (114), tr. 52 – 60.
5. Bản chất của tham nhũng và kiểm soát việc thực hiện quyền lực công. https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201407/ban-chat-cua-tham-nhung-va-kiem-soat-viec-thuc-hien-quyen-luc-cong-295064/.
6, 8. Nguyễn Thị Phượng (chủ biên) (2018). Quản trị địa phương từ lý thuyết đến thực tiễn. H. NXB Khoa học Xã hội, tr. 38, 39.
7, 9, 10, 11. Một số vấn đề lý luận về quản trị tốt. https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/207982/Mot-so-van-de-ly-luan-ve-quan-tri-tot.html.
12. Phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” của Đại hội là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/phuong-cham-doan-ket-dan-chu-ky-cuong-dot-pha-phat-trien-cua-dai-hoi-la-loi-hieu-trieu-la-menh-lenh-cua-trach-nhiem-truoc-lich-su/.
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 419.
14. Đảng bộ thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030.