Đổi mới sáng tạo thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta trong kỷ nguyên mới

ThS. Châu Tiến Lộc
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới sáng tạo được xác định là động lực then chốt thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Trên cơ sở hệ thống hóa các luận điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng sản xuất và phân tích sự phát triển nhận thức, đường lối của Đảng, đặc biệt qua Đại hội XIV, bài viết làm rõ mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo với phát triển lực lượng sản xuất, từ đó, đề xuất những điều kiện và giải pháp bảo đảm để đổi mới sáng tạo trở thành động lực nội sinh của quá trình phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo; động lực then chốt; phát triển; lực lượng sản xuất; kỷ nguyên phát triển mới.

1. Đặt vấn đề

Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội, phản ánh trình độ tiến bộ của mỗi phương thức sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử. Lực lượng sản xuất, bao gồm: người lao động, tư liệu sản xuất và trong điều kiện hiện nay, khoa học – công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động sâu rộng đến quá trình sản xuất xã hội1. Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi tri thức và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực trực tiếp của tăng trưởng, phát triển lực lượng sản xuất đòi hỏi phải chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên, lao động giản đơn và mở rộng quy mô sang phát triển theo chiều sâu, lấy đổi mới sáng tạo làm nền tảng.

Đối với Việt Nam, yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm phát triển lực lượng sản xuất trở nên đặc biệt cấp thiết trong bối cảnh đất nước đứng trước thời cơ chiến lược để bứt phá, đồng thời, phải đối mặt với nguy cơ chậm đổi mới tư duy phát triển, chưa theo kịp xu thế thế giới, chậm hoàn thiện thể chế và tụt hậu, nhất là về công nghệ và bẫy thu nhập trung bình. Trong bối cảnh đó, việc nhận thức đúng vai trò, làm rõ nội hàm, cấu trúc và cơ chế vận hành của đổi mới sáng tạo là điều kiện tiên quyết để hoạch định và tổ chức thực hiện hiệu quả các chiến lược phát triển quốc gia. Quán triệt yêu cầu này, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030 của Đảng ta đã xác định phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số2; Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động, coi đây là động lực chủ yếu của phát triển3. Trên cơ sở đó, việc tiếp tục làm rõ và hệ thống hóa cơ sở lý luận của đổi mới sáng tạo trong thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta trong kỷ nguyên phát triển mới.

2. Đổi mới sáng tạo là động lực phát triển lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên mới

Thứ nhất, cơ sở lý luận và nội hàm của mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo và phát triển lực lượng sản xuất.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống xã hội, đồng thời là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi hình thái kinh tế – xã hội4. Trong tiến trình lịch sử của nhân loại, sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất luôn giữ vai trò quyết định đối với sự biến đổi của quan hệ sản xuất, từ đó dẫn tới những chuyển biến căn bản trong phương thức sản xuất và cấu trúc xã hội.

C. Mác chỉ ra rằng, cùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, tri thức khoa học ngày càng được vật hóa vào tư liệu lao động, máy móc và công nghệ, trở thành một bộ phận cấu thành trực tiếp của lực lượng sản xuất. Ông khẳng định: “Sự phát triển của tư bản cố định cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nhất định thành lực lượng sản xuất trực tiếp”5. Khi khoa học được ứng dụng một cách có hệ thống vào sản xuất, sẽ không còn là yếu tố hỗ trợ bên ngoài mà trực tiếp tham gia vào quá trình nâng cao năng suất lao động và quyết định trình độ phát triển của sản xuất vật chất. Luận điểm này phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy của chủ nghĩa Mác về vai trò của tri thức và khoa học đối với sự vận động của lực lượng sản xuất ở những giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất xã hội.

Trong bối cảnh phát triển mới của lực lượng sản xuất, khi khoa học – công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo phát triển nhanh và phạm vi ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, luận điểm của C. Mác về khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ngày càng thể hiện rõ giá trị thời sự và ý nghĩa phương pháp luận. Khoa học – công nghệ không chỉ tác động tới kỹ thuật sản xuất mà còn thâm nhập vào toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, từ tổ chức lao động, quản trị sản xuất đến hình thành các ngành, lĩnh vực và phương thức sản xuất mới.

Đổi mới sáng tạo với tư cách là quá trình tạo ra và ứng dụng các tri thức, công nghệ, mô hình tổ chức và phương thức quản lý mới trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, là chìa khóa quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, là nền tảng của kinh tế tri thức và kinh tế số – xu hướng phát triển của kinh tế toàn cầu hiện nay6. Đổi mới sáng tạo được coi là động lực nội sinh vì dựa chủ yếu vào tri thức, năng lực sáng tạo và thể chế trong nước, thay vì phụ thuộc vào mở rộng vốn, khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ. Trong kỷ nguyên phát triển mới, đổi mới sáng tạo vừa là điều kiện, vừa là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất; đồng thời, sự phát triển của lực lượng sản xuất lại đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, về cấu trúc vận hành của đổi mới sáng tạo trong thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất không diễn ra một cách tự phát mà luôn gắn với những điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, trước hết là các hình thức tổ chức xã hội của quá trình sản xuất. Trong bối cảnh khoa học – công nghệ và tri thức ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đổi mới sáng tạo có thể được tiếp cận như một chỉnh thể vận hành đồng bộ, bao gồm: các yếu tố cấu thành có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Về phương diện thể chế, đổi mới sáng tạo được hiện thực hóa thông qua các hình thức tổ chức và điều tiết xã hội của hoạt động sáng tạo và ứng dụng sáng tạo, thể hiện ở hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách. Thể chế phù hợp không chỉ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo mà còn là điều kiện quan trọng để phát huy năng lực của người lao động và thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất và tái sản xuất xã hội.

Hoạt động đổi mới sáng tạo được triển khai bởi Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức khoa học – công nghệ, cơ sở đào tạo và đội ngũ lao động sáng tạo. Trong đó, doanh nghiệp là chủ thể trung tâm chuyển hóa tri thức và công nghệ thành giá trị gia tăng, còn Nhân dân là chủ thể trung tâm của phát triển và thụ hưởng thành quả đổi mới sáng tạo.

Đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua phương thức tổ chức, phối hợp và phân công xã hội giữa các chủ thể trong toàn bộ quá trình sáng tạo, từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đến ứng dụng và phổ biến kết quả trong sản xuất. Phương thức tổ chức phù hợp bảo đảm sự kết hợp hài hòa các yếu tố của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lan tỏa tri thức và công nghệ, qua đó nâng cao năng suất lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự đồng bộ giữa thể chế, chủ thể và phương thức tổ chức quyết định khả năng đổi mới sáng tạo trở thành động lực hiện thực của phát triển lực lượng sản xuất (xem Sơ đồ 2.1).

Thứ ba, sự phát triển nhận thức và đường lối của Đảng và Nhà nước đối với đổi mới sáng tạo thúc đẩy lực lượng sản xuất.

Quan điểm về phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học và kỹ thuật, nội hàm của đổi mới sáng tạo được hình thành trên cơ sở các quan điểm về đổi mới kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa do Đại hội VI của Đảng (1986) đề ra, từ đó đến nay đã trở thành một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta7.

Qua các kỳ Đại hội, đặc biệt từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển lực lượng sản xuất ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và nâng tầm chiến lược. Từ chỗ coi khoa học và kỹ thuật là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng từng bước khẳng định khoa học – công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt của phát triển.

Tại Đại hội XIII, đổi mới sáng tạo lần đầu tiên được xác định như một nội dung đột phá chiến lược8, giữ vai trò động lực mới thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, phù hợp với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 4.0.

 Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển; tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, như: chip bán dẫn, AI, đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao9.

Nhận thức lý luận về vai trò của đổi mới sáng tạo trong thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất đã được Đảng và Nhà nước từng bước cụ thể hóa và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật hiện hành, phản ánh sự phát triển liên tục và nhất quán trong tư duy phát triển. Trên cơ sở các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nội hàm của đổi mới sáng tạo từng bước xác định rõ trong các luật chuyên ngành.

Cụ thể, khoản 3 Điều 3 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 quy định: “Đổi mới sáng tạo là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có”. Đồng thời, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã cụ thể hóa nhận thức coi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực hình thành các lực lượng sản xuất mới thông qua phát triển công nghiệp công nghệ số. Những quy định này cho thấy đổi mới sáng tạo được tiếp cận như một quá trình kinh tế – xã hội tổng hợp, giữ vai trò trực tiếp thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất theo chiều sâu trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tuy nhiên, để các định hướng chính sách và khuôn khổ pháp lý thực sự chuyển hóa thành động lực nội sinh của phát triển lực lượng sản xuất, không chỉ dừng lại ở hoàn thiện nhận thức và thể chế mà còn đòi hỏi sự hội tụ đồng bộ các điều kiện bảo đảm về nguồn lực, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, năng lực thực thi và vai trò của các chủ thể.

3. Giải pháp bảo đảm đổi mới sáng tạo thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất

Thứ nhất, về thể chế và môi trường phát triển.

Thể chế đồng bộ, ổn định, linh hoạt và có tính vượt trước là tiền đề quan trọng để giải phóng và phát huy các nguồn lực sáng tạo trong xã hội, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo thâm nhập sâu vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách về khoa học – công nghệ, sở hữu trí tuệ và đầu tư cho nghiên cứu – phát triển theo hướng minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và chấp nhận rủi ro trong hoạt động sáng tạo. Đồng thời, cần xây dựng và vận hành hiệu quả các cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm tạo không gian thể chế cho các mô hình, công nghệ và phương thức sản xuất mới; thông qua thử nghiệm có kiểm soát, Nhà nước có thể đánh giá tác động và điều chỉnh kịp thời, qua đó giảm độ trễ thể chế so với yêu cầu phát triển.

Việc hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy lưu thông, chuyển giao và thương mại hóa tri thức, công nghệ, gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với sản xuất và thị trường. Khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, thể chế phát triển sẽ tạo điều kiện để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực trực tiếp của phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy chuyển biến về chất của quá trình sản xuất, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng và tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thứ hai, về nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi bảo đảm quá trình đổi mới sáng tạo phát huy hiệu quả trong phát triển lực lượng sản xuất. Điều này đòi hỏi đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, thừa nhận đầy đủ vai trò của vốn nhân lực và trí tuệ trong phân phối và tăng trưởng. Theo đó, cần đẩy mạnh đổi mới giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực con người, coi đầu tư cho con người là định hướng chiến lược lâu dài; đồng thời, tăng tỷ trọng nguồn lực công cho nâng cao chất lượng vốn nhân lực, trọng tâm là bồi dưỡng năng lực sáng tạo của công dân. Việc hình thành đội ngũ nhà khoa học chiến lược và chuyên gia đầu ngành cần được xác định là kết quả của chiến lược đào tạo quốc gia có định hướng, gắn với nâng cao mặt bằng dân trí và trình độ khoa học – văn hóa của xã hội.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế khuyến khích nhân tài tham gia các nhiệm vụ khoa học – công nghệ trọng điểm; mở rộng quyền tự chủ của nhà khoa học trong lựa chọn hướng nghiên cứu, sử dụng kinh phí và phân phối lợi ích từ thương mại hóa kết quả; cho phép doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước đủ điều kiện, áp dụng các hình thức khuyến khích trung và dài hạn đối với đội ngũ nghiên cứu.

Thứ ba, về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Điều kiện mang tính hệ thống để đổi mới sáng tạo phát huy vai trò thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất là sự hình thành và vận hành hiệu quả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể trung tâm; các chủ thể sản xuất, đào tạo và nghiên cứu được liên kết chặt chẽ; môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế được bảo đảm và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được tổ chức theo hướng mở, liên thông và hội nhập.

Ở trong nước, cần tập trung phát triển các doanh nghiệp khoa học – công nghệ có vai trò dẫn dắt; triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo theo lộ trình phù hợp với từng giai đoạn phát triển; thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực đổi mới và tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò nòng cốt trong một số lĩnh vực then chốt gắn với đổi mới sáng tạo nền tảng, song song với việc tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực tham gia và chủ trì thực hiện một số nhiệm vụ khoa học – công nghệ trọng điểm, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Về phương diện quốc tế, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng mở và hội nhập, mở rộng hợp tác khoa học – công nghệ, tháo gỡ các rào cản thể chế đối với lưu thông các yếu tố đổi mới, khai thác hiệu quả nguồn lực bên ngoài nhằm nâng cao tiềm năng đổi mới trong nước. Cùng với đó, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hoàn thiện cơ chế hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học và khoa học – công nghệ, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà khoa học, qua đó tạo dựng môi trường đổi mới sáng tạo minh bạch, hấp dẫn và có khả năng thu hút, phát huy hiệu quả nguồn nhân lực khoa học – công nghệ chất lượng cao.

Thứ tư, về năng lực thực thi và vai trò của các chủ thể.

Điều kiện mang tính quyết định để đổi mới sáng tạo trở thành động lực nội sinh của phát triển lực lượng sản xuất là bảo đảm sự thống nhất về nhận thức, mục tiêu và hành động trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trong đó, vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, quản lý kiến tạo của Nhà nước, cơ chế giám sát – phản biện xã hội hiệu quả cùng sự tham gia chủ động của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp với tư cách là trung tâm của quá trình phát triển cần được phát huy đồng bộ.

Cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đặc biệt là năng lực hoạch định chiến lược phát triển dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối nhằm bảo đảm tính nhất quán và hiệu lực trong triển khai. Nhà nước cần phát huy đầy đủ vai trò kiến tạo, quản lý và điều tiết phát triển, tập trung xây dựng và tổ chức thực thi hiệu quả hệ thống thể chế, chính sách; xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đề cao kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.

Ở góc độ tổ chức xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tập hợp và khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp Nhân dân, đồng thời, tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách liên quan. Việc bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân và doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể chủ động tham gia và phát huy sáng kiến trong hoạt động khoa học – công nghệ là giải pháp quan trọng nhằm chuyển hóa chủ trương, chính sách thành động lực phát triển thực tiễn.

Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành động lực nội sinh của phát triển lực lượng sản xuất khi các điều kiện về thể chế, nguồn nhân lực, hệ sinh thái và năng lực thực thi được tổ chức và vận hành đồng bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của toàn xã hội.

4. Kết luận

Trong kỷ nguyên phát triển mới, phát triển lực lượng sản xuất không thể tiếp tục dựa vào mở rộng quy mô và khai thác tài nguyên mà cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu, lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm. Trên cơ sở luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đặc biệt qua Đại hội XIV, đổi mới sáng tạo là động lực nội sinh thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Về bản chất, đổi mới sáng tạo là một quá trình kinh tế – xã hội tổng hợp, chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức và vận hành đồng bộ trên nền tảng thể chế phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái liên kết chặt chẽ và năng lực thực thi hiệu quả của các chủ thể.

Sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của toàn xã hội, là điều kiện quyết định để chuyển hóa tiềm năng sáng tạo thành năng lực sản xuất hiện thực. Chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi đây là con đường căn bản nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và hướng tới phát triển nhanh, bền vững10.

Chú thích:
1. Lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, ngày 11/11/2025. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/-oi-ngoai2/2018/1173904/view_content
2, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 115.
3, 9. Nghị quyết Đại hội XIV: Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. https://vov.vn/chinh-tri/nghi-quyet-dai-hoi-xiv-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-lam-dong-luc-chinh-post1264046.vov
4. Xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới – động lực đột phá cho sự phát triển của quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình. https://m.tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-bao-ve-vung-chac-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/xay-dung-va-phat-trien-luc-luong-san-xuat-moi-dong-luc-dot-pha-cho-su-phat-trien-cua-quoc–24940.html, ngày 27/9/2025.
5. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995). Toàn tập. H. NXB. Chính trị quốc gia, t. 46, phần II, tr. 372.
6. Lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng: Những dấu ấn, bài học kinh nghiệm ở vùng Đông Nam Bộ. https://www.tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1208602/dai-hoi-xiv–khoi-dau-ky-nguyen-phat-trien-moi-voi-mo-hinh-tang-truong-nhanh-va-ben-vung-dua-tren-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao.aspx, ngày 27/5/2025.
7. Quan điểm của Đảng về đổi mới sáng tạo qua các kỳ Đại hội. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/824434/quan-diem-cua-dang-ve-doi-moi-sang-tao-qua-cac-ky-dai-hoi.aspx, ngày 28/11/2021.
10. Tổng Bí thư: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực căn cốt cho mô hình phát triển mới. https://vneconomy.vn/tong-bi-thu-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-la-dong-luc-can-cot-cho-mo-hinh-phat-trien-moi.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 47. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 723-724, 757.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 94-95.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 218, 220-221, 272.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 90.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 115.
6. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
7. Quốc hội (2025). Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025.