ThS. Nguyễn Hoài Sơn
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong xây dựng cơ sở chính trị, pháp lý và đạt được một số kết quả quan trọng về thúc đẩy bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử. Tuy nhiên, các mục tiêu về tỷ lệ phụ nữ tham chính nói chung và phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân nói riêng vẫn chưa đạt được như đã đề ra trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Đảng (khóa XII) và Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030. Từ năm 1994 đến nay, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam được cải thiện chậm hơn trong tương quan với các chỉ số bình đẳng giới khác. Bài viết phân tích sự tham gia của phụ nữ tại các cơ quan dân cử và đề xuất một số khuyến nghị chính sách trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Bình đẳng giới; Cơ quan dân cử; Quốc hội; Hội đồng nhân dân.
1. Đặt vấn đề
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030 (sau đây viết là Chiến lược) đặt mục tiêu tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Chiến lược xác định chỉ tiêu “Đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ” song không đặt ra chỉ tiêu cụ thể đối với mức độ tham gia của nữ giới trong các cơ quan dân cử.
Trước khi Chiến lược được ban hành, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra mục tiêu: “Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp đạt trên 35%”. Nhiệm kỳ 2021 – 2026, trong số 499 người trúng cử đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu là 151 người (chiếm 30,26%); tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,54%; nữ chủ tịch HĐND ở mỗi cấp dao động trong khoảng 6%; tỷ lệ nữ giới giữ chức vụ phó chủ tịch HĐND ở cấp tỉnh, huyện khoảng 20%. Tỷ lệ này ở cấp xã thấp hơn (khoảng 14%). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh, huyện, xã đã tăng lên so với nhiệm kỳ trước song vẫn chưa đạt được mục tiêu của Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra. Theo kết quả bầu cử nhiệm kỳ 2026 – 2031, tổng số đại biểu Quốc hội được bầu là 500 đại biểu, trong đó đại biểu nữ là 150 người, chiếm 30%1.
Khoản 3 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ. Cho dù đã có những cơ sở chính trị pháp lý nêu trên cùng những nỗ lực và thành tựu đáng ghi nhận trong việc tăng cường sự đại diện và vai trò của nữ giới trong Quốc hội và HĐND các cấp song Việt Nam vẫn chưa đạt được các mục tiêu về tỷ lệ phụ nữ trong các cơ quan dân cử nói riêng và phụ nữ tham chính nói chung. Nhìn cả quá trình (từ năm 1994 đến nay), bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam được cải thiện chậm hơn trong tương quan với các chỉ số bình đẳng giới khác và khó đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đã đặt ra trong Chiến lược cũng như Nghị quyết số 26-NQ/TW.
2. Sự tham gia các cơ quan dân cử của phụ nữ ở Việt Nam
Số lượng nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam tăng lên qua từng nhiệm kỳ. Trong Quốc hội (khóa I) (1946 – 1960), chỉ có 10 đại biểu là nữ, chiếm 2,5%, đến Quốc hội (khóa XIV) (2016 – 2021) số đại biểu nữ là 133 người chiếm 26,8% (xem Hình 1). Cũng tại Quốc hội (khóa XIV), lần đầu tiên Việt Nam có một vị Chủ tịch quốc hội là nữ (bà Nguyễn Thị Kim Ngân). Quốc hội (khóa XV) (nhiệm kỳ 2021 – 2026), Việt Nam bầu được 151 nữ đại biểu (30,26%), lần đầu tiên vượt trên 30% trong 45 năm gần đây (kể từ Quốc hội (khóa VI), nhiệm kỳ 1976 – 1981). Từ vị trí thứ 71, sau bầu cử, Việt Nam vươn lên vị trí thứ 55 trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đứng thứ 4 ở châu Á. Trong cuộc bầu cử mới diễn ra, số lượng nữ đại biểu là 150 người, chiếm 30%.

Số lượng và tỷ lệ đại biểu nữ ở HĐND các cấp cũng tăng dần qua các năm. Trong cuộc bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, cử tri cả nước đã bầu được 3.721 đại biểu HĐND cấp tỉnh, đại biểu nữ là 1.079 người (chiếm 29%). Tỷ lệ này ở HĐND cấp huyện và cấp xã lần lượt là 29,20% và 28,98%, đều tăng so với nhiệm kỳ trước đó (xem Bảng 1).
| 1994-2004 | 2004-2011 | 2011-2016 | 2016-2021 | 2021-2026 | |
| Cấp tỉnh | 22,33 | 23,80 | 25,70 | 26,56 | 29,00 |
| Cấp huyện | 20,12 | 22,94 | 24,62 | 27,50 | 29,20 |
| Cấp xã | 16,10 | 19,53 | 27,71 | 26,59 | 28,98 |
Quốc hội (khóa XV) vẫn còn 2 địa phương không có đại biểu Quốc hội là nữ. Tính đến tháng 12/2024 các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ chiếm 14/30 cơ quan đạt 46,67% (bằng với năm 2023). Tuy nhiên, các cơ quan thuộc Chính phủ có nữ lãnh đạo chủ chốt là nữ là 1/8, đạt 125,% còn cách xa so với chỉ tiêu đề ra là 60% trong Chiến lược. Tính đến hết năm 2023, tỷ lệ UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ như sau: cấp tỉnh 37,7%, cấp huyện 31,77%, cấp xã 24,94%. Mặc dù tỷ lệ lãnh đạo chủ chốt là nữ đã cao hơn so với nhiệm kỳ trước nhưng so với chỉ tiêu trong lĩnh vực chính trị đề ra đến năm 2025 của Chiến lược thì khó có thể đạt được và sẽ rất khóđể đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.
Tuy nhiên, nếu đặt tỷ lệ phụ nữ trong các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong tương quan với các nước trên thế giới sẽ nhận thấy một số điểm cần phải cải thiện. Dữ liệu Toàn cầu về Nghị viện quốc gia của Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) cho thấy, Quốc hội Việt Nam hiện đứng thứ 64 về tỷ lệ nữ đại biểu với tỷ lệ 30,26% (151 đại biểu), trong khi tỷ lệ trung bình của châu Á là 21% và của thế giới là 26,7%3.
Năm 1997, Việt Nam là một trong mười nước đứng đầu trên thế giới về số lượng đại biểu nữ trong Quốc hội theo bảng xếp hạng của IPU. Năm 2002, Việt Nam vẫn ở trong nhóm 20 thế giới về chỉ số này (18/118 nước), đứng trên Australia (xếp thứ 19), Lào (xếp thứ 25) và Trung Quốc (xếp thứ 28). Đến năm 2012 Việt Nam xuống thứ 44 và tiếp tục tụt xuống xếp thứ 64 trên thế giới vào năm 2024 (xem Hình 2). Nói cách khác, tỷ lệ trung bình nữ đại biểu trên thế giới đang rút ngắn khoảng cách với Việt Nam4.

Theo Báo cáo khoảng cách giới toàn cầu năm 2024 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam giữ vị trí 72/146 quốc gia (tăng 11 bậc so với năm 2022), trong đó các chỉ số về tham gia kinh tế và giáo dục của phụ nữ có những bước tiến bộ hơn. Tuy nhiên, năm 2007, Việt Nam xếp hạng thứ 42 trên thế giới về chỉ số khoảng cách giới, chỉ sau Thụy Sĩ và vượt trên các nước Băng-la-đét, Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Nga. Đến năm 2011, các nước này đều đã vượt Việt Nam khi nước ta xuống thứ hạng 71 trên thế giới. Rõ ràng, nhìn bức tranh về sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan dân cử và khoảng cách giới ở Việt Nam qua từng thời kỳ có thể nhận thấy những kết quả đạt được là chưa tương xứng với sự phát triển chung của đất nước. Trong khi đó các chỉ số về giới khác của Việt Nam liên tục được cải thiện (ví dụ tỷ lệ tử vong ở bà mẹ, trình độ học vấn của nữ giới, tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế và tham gia thị trường lao động của nữ giới,…) thì tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan dân cử nói riêng và tham gia lĩnh vực chính trị chưa tương xứng với trình độ, năng lực của phụ nữ hiện nay và chưa đạt được chỉ tiêu của Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2018 đã đề ra.

Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương làm việc tại Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng tới chất lượng hoạt động của Quốc hội. Hình 4 cho thấy, số lượng nữ đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương đã tăng dần qua các nhiệm kỳ song vẫn thấp hơn khá nhiều so số nam đại biểu. Đối với các vị trí lãnh đạo phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ thấp: khóa XII và XIII có 10% nữ là phó chủ nhiệm các ủy ban và 20% là Ủy viên thường vụ Quốc hội.

Hình 4 cho thấy, số lượng nữ đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương đã tăng dần qua các nhiệm kỳ song vẫn thấp hơn khá nhiều so số nam đại biểu. Đối với các vị trí lãnh đạo phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ thấp: khóa XII và XIII có 10% nữ là phó chủ nhiệm các ủy ban và 20% là ủy viên thường vụ Quốc hội. Trong khi đó, vị trí và vai trò của nữ đại biểu Quốc hội trong các cơ quan có ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của họ trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Hình 5 cho thấy, số lượng nữ đại biểu tại các cơ quan khác nhau của Quốc hội của khóa XIV và XV. Ở hai nhiệm kỳ gần đây, chỉ có 7 nữ đại biểu thuộc Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong khi hơn một nửa thành viên Hội đồng dân tộc là nữ giới. Trước đó, tại khóa XIII, Ủy ban Quốc phòng và An ninh chỉ có duy nhất 1 nữ đại biểu Quốc hội là thành viên, khóa XII không có thành viên nữ nào. Tại các uỷ ban được xem là quan trọng khác, như: kinh tế, tài chính – ngân sách, tư pháp và pháp luật, tỷ lệ nữ đều thấp hơn 30%.

Tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, diễn ra từ ngày 12/02/2025 – 19/02/2025, Quốc hội đã xem xét, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; nghị quyết về việc tổ chức các cơ quan của Quốc hội nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, yêu cầu của Đảng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Sau khi sắp xếp, Quốc hội hiện có Hội đồng dân tộc, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (giữ nguyên) và sáu ủy ban mới trên cơ sở hợp nhất, nâng cấp từ các cơ quan, gồm: Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; Pháp luật và Tư pháp; Kinh tế và Tài chính; Văn hoá và Xã hội; Công tác đại biểu; Dân nguyện và Giám sát. Trong đó, chỉ duy nhất Ủy ban Công tác đại biểu có chủ nhiệm là phụ nữ (tương đương 12,5%). Hai cơ quan không có nữ phó chủ nhiệm là Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại và Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (xem Hình 6). Trong cơ chế làm việc của cơ quan Quốc hội, các phó chủ nhiệm đứng đầu các tiểu ban và giữ vai trò quan trọng trong hoạt động chuyên môn.

Tuy nhiên, khi phân tích dữ liệu hoạt động của nam và nữ ĐBQH khóa XII và XIII trong các phiên thảo luận, báo cáo và chất vấn, nhóm nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, mức độ cân bằng trong các hoạt động của các đại biểu nam và nữ. Nghiên cứu này cũng tiến hành phân tích sâu hơn về sự tham gia của nam và nữ đại biểu trong thảo luận về một số chủ đề cụ thể. Kết quả cho thấy, các đại biểu nữ có xu hướng đưa ra các vấn đề liên quan đến nữ giới nhiều hơn như vấn đề nghỉ thai sản, bạo lực gia đình. Điều này gợi ý, việc duy trì và nâng cao sự hiện diện của nữ giới trong nghị trường là rất quan trọng.

3. Kết luận và khuyến nghị chính sách
Nguyên nhân Việt Nam không đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị không phải do thiếu luật và chính sách về bình đẳng giới. Vấn đề ở việc các quy định, chính sách (ví dụ Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới) còn nhiều điểm chung chung, chưa chi tiết và do việc triển khai thực hiện. Do đó, việc sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách về bình đẳng giới dựa trên các bằng chứng khoa học kết hợp với việc triển khai thực hiện nghiêm các quy định pháp luật là rất quan trọng.
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) dù đã có quy định để bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ (khoản 3 Điều 8) song điều này không bảo đảm được tỷ lệ 35% đại biểu Quốc hội là phụ nữ. Trong nhiều kỳ bầu cử gần đây, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thường đề xuất 45-50% ứng viên là nữ (theo quy định của khoản 3 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND). Tuy nhiên, trong suốt quá trình lựa chọn và bầu cử, số lượng các ứng viên nữ giảm dần. Bên cạnh đó, các mục tiêu, chỉ tiêu trong các chiến lược, chương trình, đề án, chính sách cần cụ thể, có thể đo lường được và đặt trong điều kiện chính quyền hai cấp ở Việt Nam hiện nay.
Đi cùng với việc xây dựng, hoàn thiện, triển khai thực hiện các quy định pháp luật và chính sách là nâng cao trách nhiệm giải trình và giám sát việc thực thi. Các quy định, chính sách cần có những hướng dẫn rõ ràng, các hệ thống đánh giá, giám sát cụ thể và xác định rõ người chịu trách nhiệm thực hiện cũng như hình thức kỷ luật nếu không thực hiện được.
Việc giám sát cơ sở dữ liệu bầu cử và tổ chức các phiên giám sát, thảo luận trước, trong và sau mỗi kỳ bầu cử nên được tăng cường. Bên cạnh việc tiếp tục nỗ lực nâng tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử thì nâng cao chất lượng hoạt động của các nữ đại biểu là rất quan trọng, đồng thời, nâng dần số lượng thành viên nữ trong UBTVQH cũng như giữ chức vụ trong các cơ quan Quốc hội. Bên cạnh đó, cần có các nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của các nữ đại biểu trong các cơ quan dân cử trên cả ba khía cạnh là lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng.
Mặt khác, để trở thành đại biểu Quốc hội, các ứng viên phải trải qua rất nhiều các bước khác nhau trong quy trình lựa chọn và bầu cử. Ở bước hiệp thương, giới thiệu nhân sự ứng cử, nếu các cơ quan, địa phương phân bổ người ứng cử tại các đơn vị bầu cử không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng; trong đó, có việc bảo đảm tỷ lệ nữ sẽ dẫn đến những khó khăn đối với nữ ứng viên. Trên thực tế, điều này đã xảy ra trong các kỳ bầu cử gần đây. Bên cạnh đó, hầu hết các nữ đại biểu Quốc hội (dù đương nhiệm hoặc đã nghỉ hưu) đều gặp phải khó khăn trong cân bằng giữa đời sống gia đình và công việc, nhất là các đại biểu phải sống xa nhà khi nhận vị trí chuyên trách ở trung ương. Những kỳ vọng về bổn phận “giỏi việc nước, đảm việc nhà” vẫn là một gánh nặng đối với phụ nữ tham gia hoạt động chính trị. Một số lý do khác thường được đưa ra dựa trên định kiến giới cố hữu là “không đủ phụ nữ đạt tiêu chuẩn” để lý giải cho việc thiếu đại biểu Quốc hội nữ.
Thực tế, nguồn để giới thiệu ứng cử (các vụ trưởng, vụ phó, cục trưởng, cục phó, lãnh đạo HĐND tỉnh, các nhân sự cao cấp của Đảng) đã có tỷ lệ phụ nữ khá thấp. Do đó, việc thúc đẩy sự tham chính của phụ nữ ở Việt Nam nói chung là giải pháp lâu dài để tăng cường sự hiện diện và vai trò của phụ nữ trong các cơ quan dân cử.
Chú thích:
1. Số liệu về tỷ lệ phụ nữ là đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026 – 2031 đến nay chưa có tổng hợp chính thức từ các cơ quan chức năng.
2, 3. https://data.ipu.org/women-ranking/?date_month=6&date_year=2025
4. Khóa IX (Việt Nam là 18,84%; thế giới là 11,30%, cách biệt 7,54%); khóa X (Việt Nam là 26,2%; thế giới là 12,10%, cách biệt 14,1%); khóa XI (Việt Nam là 27,3%; thế giới là 14,7%, cách biệt 12,6%); khóa XII (Việt Nam là 25,8%; thế giới là 17,5%, cách biệt 8,3%); khóa XIII (Việt Nam là 24,4%; thế giới là 19,30%, cách biệt 5,1%); khóa XIV (Việt Nam là 26,8%; thế giới là 22,40%, cách biệt 4,4%); khóa XV (Việt Nam là 30,26%; thế giới là 26,70%, cách biệt 3,56%).
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
2. Bộ Chính trị (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ trong giai đoạn thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
3. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030.
4. Chính phủ (2024). Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023.
5. Hội đồng bầu cử quốc gia (2016). Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (khóa XIV) và đại biểu Hội đồng nhân dân các nhiệm cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
6. Hội đồng bầu cử quốc gia (2021). Báo cáo số 783/BC-HĐBCQG ngày 14/7/2021 tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (khóa XV) và đại biểu Hội đồng nhân dân các nhiệm cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
7. Quốc hội (2006). Luật Bình đẳng giới năm 2006
8. Quốc hội (2015). Luật Bầu cử Đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.
9. Quốc hội (2020). Luật Tổ chức Quốc hội năm 2020.
10. UNDP (2012). Nữ đại biểu Quốc hội ở Việt Nam – Hướng tới tương lai. Hà Nội.
11. UNDP (2014). Nữ đại biểu trong Quốc hội Việt Nam – Từ tham gia đến đại diện. Hà Nội.
12. Nguyen Huu Minh (2020). The participation of women in politics in Vietnam: Achievements, Challenges and some solutions in the new period. Vietnam Journal of Family and Gender Studies. No.1 (p.3-15).
13. Thủ tướng Chính phủ (2011). Quyết định số 2351/QĐ-TTG phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.
14. World Economic Forum. (2024). Global Gender Gap Report 2024. ISBN-13: 978-2-940631-89-6. Geneva Switzerland.



