Phát huy nguồn lực Công giáo trong phát triển bền vững ở tỉnh Lâm Đồng

Promoting Catholic resources for sustainable development in Lam Dong province

Nguyễn Lộc Đức
NCS. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện nay, Công giáo là một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ đông và tổ chức ổn định, gắn bó lâu dài với địa phương. Thời gian qua, cộng đồng Công giáo đã tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới và đời sống văn minh đô thị, qua đó góp phần hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Bài viết phân tích một số đóng góp chủ yếu của nguồn lực Công giáo, những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực này trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Nguồn lực Công giáo; phát triển bền vững; tỉnh Lâm Đồng.

Abstract: In Lam Dong Province, Catholicism is currently one of the religions with a large number of followers and a well-organized structure, maintaining a long-standing association with the locality. In recent years, the Catholic community has actively participated in various areas of social life, including poverty reduction, education, healthcare, environmental protection, new rural development, and the promotion of civilized urban lifestyles, thereby contributing to the implementation of sustainable development goals. This article analyzes several key contributions of Catholic resources, identifies emerging issues, and proposes solutions aimed at effectively promoting and utilizing these resources in the current period.

Keywords: Catholic resources; sustainable development; Lam Dong Province.

1. Đặt vấn đề

Tỉnh Lâm Đồng được hình thành trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông, là địa bàn có điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, thành phần dân tộc và tôn giáo đa dạng. Trên địa bàn tỉnh, Công giáo là một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ tương đối lớn, cơ cấu tổ chức ổn định, phạm vi hoạt động rộng và gắn bó lâu dài với quá trình hình thành, phát triển của địa phương. Bên cạnh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, cộng đồng Công giáo thời gian qua đã tham gia ngày càng rõ nét vào một số lĩnh vực xã hội như giáo dục, y tế, từ thiện – nhân đạo, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Thực tiễn đó cho thấy, với hệ thống tổ chức chặt chẽ, đội ngũ chức sắc, tu sĩ, giáo dân đông đảo và những giá trị đạo đức, văn hóa hướng thiện, Công giáo có thể được nhìn nhận như một nguồn lực xã hội có ý nghĩa trong thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương.

2. Đóng góp của nguồn lực Công giáo trong các lĩnh vực phát triển bền vững ở Lâm Đồng

(1) Tham gia xóa đói giảm nghèo bền vững

Trên địa bàn tỉnh, cộng đồng Công giáo tham gia xoá đói giảm nghèo khá tích cực thông qua hệ thống giáo xứ, dòng tu và các tổ chức bác ái. Các hoạt động trợ giúp trực tiếp, như: trao quà, cấp phát lương thực, hỗ trợ y tế, xây dựng, sửa chữa nhà ở được duy trì, nhất là trong dịp lễ lớn và khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Đồng thời, thông qua các hội đoàn, một số mô hình hỗ trợ vốn không lãi hoặc lãi suất thấp được triển khai; một số dòng tu hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi phù hợp điều kiện địa phương, góp phần nâng thu nhập cho hộ nghèo1. Bên cạnh đó, các cơ sở dạy nghề và nhà nội trú tình thương do các dòng tu quản lý ưu tiên con em gia đình nghèo, thực hiện miễn giảm học phí, hỗ trợ học tập và giới thiệu việc làm, qua đó tăng cơ hội thoát nghèo bền vững cho thanh thiếu niên2. Các hoạt động này góp phần bổ sung nguồn lực xã hội cho công tác giảm nghèo của tỉnh.

(2) Phát triển giáo dục và nâng cao dân trí

Giáo dục là lĩnh vực cộng đồng Công giáo tham gia từ sớm, gắn với quan niệm coi trọng học tập và đào tạo con người. Tại Lâm Đồng, sự tham gia này thể hiện tập trung chủ yếu ở giáo dục mầm non, thông qua các cơ sở do các dòng nữ tu quản lý. Riêng Giáo phận Đà Lạt có khoảng 90 cơ sở mầm non tư thục do các dòng nữ điều hành3. Tại các địa bàn còn thiếu trường công, một số nhà dòng duy trì lớp mẫu giáo; nhiều cơ sở thực hiện miễn, giảm học phí và hỗ trợ trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số. Mạng lưới này bổ trợ hệ thống giáo dục công lập, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Ở bậc phổ thông, đóng góp chủ yếu thông qua các hoạt động hỗ trợ học tập, gồm phụ đạo, bổ túc văn hóa và khuyến học tại giáo xứ, dòng tu. Các quỹ học bổng và hỗ trợ phương tiện học tập giúp giảm nguy cơ bỏ học ở nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, Công giáo tham gia giáo dục đặc thù và giáo dục nghề nghiệp, trong định hướng xã hội hóa của Nhà nước. Một số cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật do các dòng tu quản lý tiếp nhận và chăm sóc miễn phí, không phân biệt tôn giáo, hỗ trợ trang bị kỹ năng cho thanh niên nghèo và thanh niên dân tộc thiểu số, qua đó mở rộng cơ hội việc làm và hạn chế tái nghèo.

(3) Chăm sóc y tế và nâng cao sức khỏe cộng đồng

Chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trụ cột của phát triển bền vững, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, nơi y tế công lập còn hạn chế. Tại Lâm Đồng, cộng đồng Công giáo tham gia qua khám chữa bệnh từ thiện, chăm sóc nhóm yếu thế và phối hợp với ngành Y tế địa phương. Trong khám chữa bệnh, Giáo phận Đà Lạt có 4 phòng chẩn trị y học cổ truyền, trong đó, Phòng chẩn trị La Vang (Bảo Lộc) được cấp phép hoạt động, khám miễn phí hoặc thu phí thấp cho hàng nghìn lượt người mỗi năm. Cùng với đó, các tổ chức Công giáo hỗ trợ bệnh nhân tại cơ sở y tế công lập, như cung cấp gần 40.000 suất cơm miễn phí cho bệnh nhân nghèo tại Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng (khoảng 1,4 tỷ đồng) và vận động hiến máu nhân đạo phục vụ cấp cứu, điều trị4.

Trong chăm sóc nhóm dễ bị tổn thương, các cơ sở bác ái bổ trợ cho hệ thống bảo trợ xã hội, trong đó cơ sở Trọng Đức hiện chăm sóc khoảng 250 bệnh nhân tâm thần5. Bên cạnh chăm sóc điều trị, các dòng tu triển khai một số hoạt động y tế dự phòng và hỗ trợ sức khỏe ban đầu, như: khám định kỳ, phát thuốc miễn phí, khám răng, mắt cho trẻ em nông thôn tại vùng khó khăn6.

(4) Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Tại Lâm Đồng, cộng đồng Công giáo tham gia bảo vệ môi trường thông qua các phong trào và mô hình ở cơ sở, tập trung vào nâng ý thức và điều chỉnh hành vi của người dân. Một mô hình tiêu biểu là “Tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu” tại thôn Hàng Hải, xã Gung Ré (Di Linh), địa bàn có đông giáo dân sinh sống, với sự phối hợp giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, chính quyền cơ sở và chức sắc tôn giáo trong vận động ký cam kết và tổ chức thu gom rác, trồng cây, nạo vét kênh mương, chỉnh trang cảnh quan.

Qua triển khai, tình trạng xả rác giảm, tỷ lệ hộ tham gia thu gom rác tăng và cảnh quan khu dân cư cải thiện. Bên cạnh mô hình điểm, nội dung bảo vệ môi trường được đưa vào sinh hoạt tôn giáo và hoạt động hội đoàn, gắn với tiết kiệm tài nguyên, vệ sinh khu dân cư, “Chủ nhật xanh”, bảo vệ rừng và nguồn nước. Các hoạt động được thực hiện theo cơ chế phối hợp liên tôn giáo và với cộng đồng địa phương, qua đó mở rộng tác động ở cơ sở.

(5) Tích cực tham gia phong trào xây dựng nông thôn mới

Do giáo dân tập trung nhiều ở nông thôn, cộng đồng Công giáo tại Lâm Đồng tham gia xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là hạ tầng, tổ chức sản xuất và đời sống văn hóa. Về hạ tầng, giáo dân hiến đất, đóng góp kinh phí và ngày công cho giao thông, điện chiếu sáng và một số công trình công cộng. Tại Đắk Nông, giáo dân hiến hàng nghìn mét vuông đất và đóng góp hàng chục tỷ đồng làm đường nông thôn7; tại Bình Thuận, giáo dân xã Tân Tiến đóng góp hơn 800 triệu đồng làm 11 tuyến đường8.

Về kinh tế, giáo dân tham gia các mô hình hợp tác, tổ nhóm sản xuất, sản xuất theo VietGAP và liên kết tiêu thụ nông sản, qua đó nâng thu nhập và ổn định sinh kế. Theo Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Lâm Đồng, đến năm 2022 hộ giáo dân khá và giàu khoảng 30%, hộ trung bình 69%, hộ nghèo dưới 1%. Về đời sống văn hóa, nhiều giáo xứ phối hợp với chính quyền vận động gia đình văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự, hạn chế hủ tục và duy trì phong trào “nhà sạch, vườn đẹp”. Các hoạt động này cải thiện diện mạo nông thôn và hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn ở một số địa phương.

(6) Xây dựng đời sống văn minh đô thị

Trong xây dựng nếp sống văn minh đô thị, giáo dân tại Lâm Đồng cơ bản chấp hành quy định về trật tự, mỹ quan và được chức sắc vận động giữ gìn vệ sinh công cộng, không lấn chiếm lòng lề đường, thực hiện tiết kiệm trong cưới hỏi, tang lễ. Một số giáo xứ đô thị, trong đó có Chính tòa Đà Lạt và Chính tòa Phan Thiết, phối hợp với chính quyền cơ sở vận động thực hiện nếp sống văn hóa đô thị, xây dựng khu dân cư “sáng, xanh, sạch, đẹp” gắn với giữ gìn an ninh trật tự.

Cộng đồng Công giáo đồng thời tham gia phúc lợi xã hội ở đô thị, tập trung hỗ trợ nhóm yếu thế thông qua các bếp ăn tình thương, điểm phát cháo và phát quà miễn phí. Trong lĩnh vực văn hóa, một số công trình Công giáo như nhà thờ chính tòa và tu viện vừa là không gian sinh hoạt tôn giáo, vừa là thành tố của cảnh quan và di sản đô thị; hoạt động bảo tồn, trùng tu và tổ chức tham quan góp phần gìn giữ bản sắc và hỗ trợ du lịch. Bên cạnh đó, chức sắc Công giáo phối hợp với chính quyền trong vận động thực hiện chủ trương văn minh đô thị và bảo đảm an ninh trật tự, nhất là vào các dịp lễ lớn, qua đó củng cố cơ chế tự quản ở cộng đồng.

3. Một số giải pháp

3.1. Đối với hệ thống chính trị ở địa phương

Chính quyền địa phương nghiên cứu, ban hành nghị quyết chuyên đề hoặc đề án nhằm phát huy vai trò của Công giáo trong an sinh xã hội, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường. Các nội dung nên được tích hợp vào kế hoạch triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững…), bảo đảm thống nhất về mục tiêu và nguồn lực. Cơ chế phối hợp cần được cụ thể hóa bằng văn bản quy phạm hoặc văn bản chỉ đạo điều hành, qua đó tạo cơ sở pháp lý thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong hỗ trợ, phối hợp với các tổ chức tôn giáo.

Đổi mới công tác tuyên truyền và thống nhất nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp cơ sở, về vai trò của tôn giáo. Cần khắc phục định kiến và xu hướng xem nhẹ tôn giáo trong thực thi công vụ. Công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo cần đi vào phương pháp vận động, thuyết phục, bên cạnh kiến thức quản lý nhà nước, trên cơ sở tôn trọng và phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa của Công giáo. Thi đua, khen thưởng cần thực chất và kịp thời, tập trung biểu dương mô hình hiệu quả và cá nhân tiêu biểu nhằm khuyến khích nhân rộng trong cộng đồng.

Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa để tổ chức tôn giáo có thể tham gia cung ứng dịch vụ công theo khuôn khổ pháp luật. Chính quyền địa phương cần quy định rõ cơ chế hỗ trợ đối với cơ sở bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục do các dòng tu, giáo xứ quản lý, tránh dừng ở vận động chung. Nên thí điểm cơ chế “Nhà nước đặt hàng” đối với cơ sở tôn giáo đủ điều kiện trong chăm sóc nhóm yếu thế, người có công, hoặc cung ứng dịch vụ y tế, giáo dục ở vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ có thể thực hiện bằng kinh phí đối ứng, trang thiết bị và bồi dưỡng chuyên môn cho nhân lực liên quan. Cách tiếp cận này giúp triển khai chủ trương xã hội hóa hiệu quả hơn, đồng thời giảm gánh nặng ngân sách và huy động nguồn lực xã hội.

Tăng cường đối thoại và ban hành quy chế phối hợp thường xuyên giữa cấp ủy, chính quyền với Giáo hội, quy định rõ đầu mối, nội dung công việc và trách nhiệm. Duy trì đối thoại định kỳ giữa lãnh đạo địa phương với giám mục, linh mục và chức sắc tiêu biểu để tiếp nhận kiến nghị và xử lý kịp thời vướng mắc từ cơ sở. Cần thiết lập kênh thông tin hai chiều và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục khi tổ chức tôn giáo triển khai hoạt động nhân đạo, từ thiện, qua đó nâng hiệu quả phối hợp và huy động nguồn lực tôn giáo cho phát triển địa phương.

 3.2. Đối với tổ chức, chức sắc và tín đồ Công giáo

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội của đồng bào Công giáo trong tham gia phát triển địa phương. Qua bài giảng, thư chung và sinh hoạt giáo xứ, giám mục và linh mục cần nhấn mạnh quan điểm gắn bó, đồng hành cùng dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam, coi tham gia xây dựng xã hội là yêu cầu phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Phương châm “sống Phúc âm trong lòng dân tộc” cần được cụ thể hóa bằng việc tham gia bảo vệ môi trường, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa. Cách tiếp cận này giúp giảm tâm lý tách biệt giữa “việc đạo” và “việc đời” ở một bộ phận giáo dân.

Đề cao vai trò nêu gương của hàng giáo phẩm, tu sĩ và các cá nhân Công giáo có uy tín trong cộng đồng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, khi chức sắc và tu sĩ tham gia chủ động các hoạt động xã hội, mức độ hưởng ứng của giáo dân thường cao hơn và ổn định hơn. Cần khuyến khích giáo dân tiêu biểu (doanh nhân, nông dân sản xuất giỏi, trí thức Công giáo) tham gia làm hạt nhân, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ cộng đồng phát triển kinh tế, ổn định đời sống.

Củng cố và mở rộng hoạt động bác ái, từ thiện theo chương trình và có cơ chế phối hợp rõ. Các giáo phận, giáo xứ cần duy trì và sử dụng hiệu quả quỹ bác ái, quỹ Caritas, đồng thời mở rộng hỗ trợ sang các chương trình an sinh do địa phương phát động. Hoạt động bác ái cần được mở rộng sang hỗ trợ sinh kế, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường để nâng tính bền vững.

Bồi dưỡng cho linh mục, tu sĩ các kỹ năng phát triển cộng đồng. Bổ sung kiến thức về kinh tế, môi trường, quản lý dự án cộng đồng và kỹ năng phối hợp liên ngành sẽ giúp tổ chức hoạt động xã hội theo kế hoạch, phù hợp thực tiễn địa phương. Giáo hội cần phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong tổ chức tập huấn, bồi dưỡng.

Tổ chức tổng kết và nhân rộng mô hình hiệu quả trong cộng đồng Công giáo. Thông qua hội nghị, hội thảo và sinh hoạt liên giáo phận, các giáo xứ, dòng tu trao đổi kinh nghiệm và phối hợp triển khai, hạn chế hoạt động rời rạc.

Tạo điều kiện để thanh niên Công giáo tham gia các sáng kiến phát triển bền vững. Cần hình thành các nhóm thanh niên tình nguyện gắn với giáo xứ, giáo họ để tham gia bảo vệ môi trường, hỗ trợ giáo dục và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, đời sống. Đồng thời, tăng cường giáo dục ý thức công dân và trách nhiệm xã hội cho giới trẻ”.

4. Kết luận

Cộng đồng Công giáo trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là nguồn lực xã hội quan trọng, có hệ thống tổ chức cơ sở ổn định và lực lượng chức sắc, tu sĩ, giáo dân đông đảo. Cộng đồng Công giáo tham gia ngày càng thực chất vào bác ái xã hội, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới và nếp sống văn minh đô thị. Các hoạt động này hỗ trợ thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của địa phương, tập trung vào nhóm yếu thế và các khu vực còn khó khăn. Tuy nhiên, việc phát huy nguồn lực Công giáo còn gặp trở ngại do chênh lệch điều kiện phát triển giữa các vùng, phối hợp liên vùng chưa đồng bộ, cùng một số vướng mắc về cơ chế, chính sách và yếu tố nội tại của cộng đồng. Do đó, cần giải pháp đồng bộ: tăng cường quản lý bằng pháp luật; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Giáo hội; khuyến khích tính chủ động của giáo phận, giáo xứ và giáo dân trong tham gia phát triển địa phương. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ góp phần củng cố đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chú thích:
1, 8. Đồng bào công giáo xã Tân Tiến, huyện Lagi, tỉnh Bình Thuận: Tham gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững tại địa phương. https://dttg.thoibaotaichinhvietnam.vn/tham-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giam-ngheo-ben-vung-tai-dia-phuong-117388.html
2, 3. Phục vụ hạnh phúc của đồng bào. https://daibieunhandan.vn/phuc-vu-hanh-phuc-cua-dong-bao-10299059.html
4. Tôn giáo đồng hành với ngành y tế chăm sóc sức khỏe Nhân dân. https://baolamdong.vn/ton-giao-dong-hanh-voi-nganh-y-te-cham-soc-suc-khoe-nhan-dan-290546.html
5. Tòa Giám mục Đà Lạt. Tổng quan hoạt động truyền giáo, bác ái xã hội của Giáo phận Đà Lạt.
6. Caritas Tổng giáo phận Sài Gòn (2024). Chăm sóc sức khỏe cho người có hoàn cảnh khó khăn tại giáo xứ Đạ Tông – Lâm Đồng.
7. Đồng bào Công giáo Đắk Nông thi đua yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”. https://baolamdong.vn/dong-bao-cong-giao-dak-nong-thi-dua-yeu-nuoc-song-tot-doi-dep-dao-247535.html