Thiếu tá, ThS. Đàm Đình Tùng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng
Đại tá, TS. Nguyễn Đình Hiếu
Học viện Biên phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Khu vực biên giới có vị trí, vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. Đây là “phên dậu” bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia, địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nơi điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều. Bài viết đề cập vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng trong vận động Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hỗ trợ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Từ khóa: Bộ đội Biên phòng; phát triển kinh tế – xã hội; khu vực biên giới.
Abstract: Border areas hold a particularly important strategic position and role in terms of politics, economy, national defense, security, and foreign affairs of the country. These areas serve as a “protective shield” safeguarding national territorial sovereignty, are home to many ethnic minority communities, and are characterized by difficult socio-economic conditions and uneven levels of education. The article addresses the leadership role of the Party organization within the Border Guard Force in mobilizing the people to promote socio-economic development in border areas. On that basis, it proposes solutions to enhance the effectiveness of communication and mobilization efforts to encourage people to comply with the Party’s guidelines and policies, as well as the State’s laws and regulations, while supporting socio-economic development, poverty reduction, and the protection of national border sovereignty in the new context.
Keywords: Border Guard Force; socio-economic development; border areas.
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ thiêng liêng, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Khu vực biên giới là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và đối ngoại. Bởi vậy, phát triển kinh tế – xã hội bền vững với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia ngày càng ổn định và phát triển luôn đặt lên hàng đầu, thể hiện tư duy chiến lược của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, đặc điểm địa lý phức tạp, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều nên quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực biên giới vẫn còn nhiều thách thức. Để vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới, đòi hỏi phải phát huy vai trò nòng cốt, chuyên trách của Bộ đội Biên phòng là lực lượng trực tiếp gắn bó mật thiết với Nhân dân ở khu vực biên giới.
2. Vai trò của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng trong lãnh đạo công tác vận động quần chúng ở khu vực biên giới
Trong bối cảnh các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động tư tưởng ly khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác vận động quần chúng càng đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Với chức năng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Đảng bộ Bộ đội Biên phòng trong quá trình lãnh đạo quần chúng phát triển kinh tế – xã hội, luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”1; quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của quân đội trong tình hình mới, Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quan trọng, như: Quy chế số 355-QC/ĐU về công tác dân vận của Bộ đội Biên phòng, xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy các cấp đối với nhiệm vụ tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và phát triển kinh tế – xã hội tại khu vực biên giới; Chỉ thị số 681-CT/ĐU, phân công đảng viên đồn Biên phòng phụ trách các hộ gia đình ở khu vực biên giới.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng, công tác vận động quần chúng không chỉ dừng lại ở tuyên truyền pháp luật mà đã mở rộng mạnh mẽ sang lĩnh vực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo và củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Việc lãnh đạo đẩy mạnh giúp dân phát triển kinh tế không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào mà còn là phương thức hiệu quả nhất để hiện thực hóa quan điểm “biên giới lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới đất nước, cần: “quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để “Dân là gốc”. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”2.
Thứ nhất, xây dựng nền tảng chính trị vững chắc tại địa phương là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế – xã hội. Năm 2025, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã lãnh đạo các đơn vị chủ động tham mưu cho địa phương kiện toàn đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng thôn, bản. Cụ thể, lực lượng đã tham gia củng cố được 2.564 tổ chức đảng và 1.799 tổ chức chính trị – xã hội. Việc duy trì 291 cán bộ Bộ đội Biên phòng tăng cường xã và 2.550 đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản3.
Thứ hai, lãnh đạo triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia và phong trào giúp dân thoát nghèo bền vững. Các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã thực hiện tốt phương châm “ba bám, bốn cùng”. Nổi bật là phong trào “Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới”, toàn lực lượng đã giúp đỡ 152 xã, triển khai 71 công trình dân sinh với tổng trị giá 13,6 tỷ đồng, đã phân công 8.698 đảng viên phụ trách 34.615 hộ gia đình, trực tiếp giúp đỡ nhân dân lao động sản xuất, kết quả trong năm 2024 đã giúp 7.641 hộ thoát nghèo4. Những con số này minh chứng cho vai trò lãnh đạo trực tiếp, hiệu quả của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng trong việc cải thiện đời sống vật chất cho đồng bào biên giới.
Thứ ba, lãnh đạo xây dựng và nhân rộng các mô hình dân vận mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội.
Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đã chỉ đạo duy trì và phát triển nhiều mô hình mang lại hiệu quả thiết thực về giáo dục và y tế tại khu vực biên giới. Các chương trình như: “Nâng bước em tới trường – Con nuôi đồn Biên phòng” đã hỗ trợ hơn 12.000 học sinh có hoàn cảnh khó khăn; mô hình “Thầy thuốc quân hàm xanh” đã tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 86.000 lượt người dân trong năm 20245 góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an sinh xã hội và gắn kết tình quân – dân máu thịt.
Thứ tư, lãnh đạo thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền gắn với chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong kỷ nguyên số, Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đã nhạy bén lãnh đạo đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền pháp luật và kiến thức phát triển kinh tế thông qua các nền tảng công nghệ, như: phong trào “Bình dân học vụ số” và mô hình “Thầy giáo quân hàm xanh – đẩy nhanh chuyển đổi số” đã giúp hàng nghìn hộ dân tiếp cận internet an toàn, sử dụng điện thoại thông minh để học tập sản xuất và nắm bắt thông tin chính thống6. Điều này không chỉ nâng cao dân trí mà còn tạo ra mạng lưới thông tin rộng khắp, giúp Nhân dân chủ động tham gia cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Tuy nhiên, trước những thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0, tác động của quá trình toàn cầu hóa, mặt trái của kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo, nhận thức không đồng đều, hủ tục lạc hậu và các thách thức an ninh phi truyền thống, địa bàn khu vực biên giới rộng lớn, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, dân cư phân tán tại khu vực biên giới. Điều đó, đang đặt ra những khó khăn, thách thức trong nắm bắt tình hình các loại tội phạm, như: buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển ma túy, mua bán người, xuất nhập cảnh trái phép, buôn bán động vật hoang dã.
Một số cấp ủy, chi bộ, chỉ huy Bộ đội Biên phòng trong công tác lãnh đạo, quản lý địa bàn có thời điểm trách nhiệm chưa cao, chưa sâu sát. Kỹ năng và năng lực chuyên môn (kinh nghiệm, tiếng dân tộc) của một bộ phận cán bộ làm công tác dân vận còn yếu; nội dung, hình thức vận động chậm đổi mới, chưa bắt kịp yêu cầu chuyển đổi số; công tác nắm tình hình và dự báo có lúc còn bị động.
3. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp về vai trò chiến lược của công tác vận động quần chúng.
Cấp ủy các cấp cần học tập, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, đưa nội dung lãnh đạo vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế – xã hội vào nghị quyết thường kỳ và hằng năm. Xác định rõ trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên và cấp ủy viên, người chỉ huy trong việc phụ trách công tác dân vận, định kỳ báo cáo cấp ủy về kết quả giúp dân và đề xuất biện pháp xử lý các tình huống phát sinh tại địa bàn thôn, bản được phụ trách.
Cần coi kết quả thực hiện công tác vận động quần chúng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng và năng lực của cán bộ chủ trì hằng năm. Thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở, duy trì nền nếp đối thoại dân chủ với Nhân dân và trong nội bộ đơn vị. Đồng thời, cần tranh thủ vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín để tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư khu vực biên giới. Làm tốt vai trò nêu gương của người đứng đầu đơn vị chính là mệnh lệnh không lời để lôi cuốn cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia thực hiện thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức vận động quần chúng gắn với chuyển đổi số và kinh tế số.
Nội dung vận động quần chúng không chỉ dừng lại ở tuyên truyền miệng đơn thuần mà phải được số hóa, đa phương tiện hóa. Ứng dụng các nền tảng mạng xã hội, video ngắn và hình ảnh trực quan để truyền tải chủ trương của Đảng, chính sách phát triển kinh tế – xã hội đến với đồng bào dân tộc thiểu số một cách dễ hiểu, dễ nhớ. Triển khai hiệu quả mô hình “Chiến sĩ số” và phong trào “Bình dân học vụ số”, cài đặt và sử dụng dịch vụ công trực tuyến giúp đồng bào tiếp cận thông tin chính thống trên Internet một cách an toàn.
Hỗ trợ nhân dân tham gia vào kinh tế số và thương mại điện tử giúp thoát nghèo bền vững và hình thành các chuỗi liên kết giá trị, đưa sản phẩm đặc trưng của khu vực biên giới ra thị trường trong và ngoài nước thông qua các nền tảng số. Bộ đội Biên phòng phải xung kích chiếm lĩnh không gian mạng, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là yếu tố sống còn để bảo vệ an ninh quốc gia từ sớm, từ xa trên không gian mạng.
Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng có bản lĩnh, trí tuệ và tinh thông nghiệp vụ.
Tiếp tục khẳng định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực và uy tín, có tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ chuyên trách.
Cấp ủy các cấp phải lãnh đạo cán bộ thấm nhuần phong cách dân vận: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, lấy sự hài lòng và hạnh phúc của đồng bào biên giới làm thước đo hiệu quả công việc. Tiếp tục cụ thể hóa Kế hoạch 4002/KH-BĐBP, đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức dân tộc, tôn giáo và tiếng dân tộc cho cán bộ, chiến sĩ. Chỉ thị số 681-CT/ĐU, phân công đảng viên đồn Biên phòng phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới. Mục đích đưa đảng viên về gần với dân nhất để hướng dẫn sản xuất, giúp dân thoát nghèo bền vững và củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút và trọng dụng nhân tài cho cán bộ công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp và tham mưu củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh
Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh tại khu vực biên giới là nội dung cốt lõi để hiện thực hóa quan điểm “biên giới lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia từ sớm, từ xa. Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp giữa Đảng ủy Bộ đội Biên phòng với các tỉnh, thành ủy biên giới, bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo giữa lực lượng chuyên trách với chính quyền địa phương.
Đảng bộ Bộ đội Biên phòng cần chủ động tham mưu cụ thể hóa các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế gắn với quốc phòng trên từng hướng chiến lược, phù hợp với địa giới hành chính mới và mục tiêu phát triển đến năm 2030. Việc phối hợp phải đi vào thực chất, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, tránh tình trạng chồng chéo hoặc “khoán trắng” nhiệm vụ bảo vệ biên giới cho riêng lực lượng vũ trang. Nâng cao năng lực tham mưu và phối hợp với chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo và an ninh phi truyền thống. Tích cực tham gia vào việc cải cách hành chính, xây dựng chính quyền thực sự phục vụ nhân dân, từ đó củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng và chế độ.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tiêu cực trong thực thi nhiệm vụ vận động quần chúng
Trong quản lý nhà nước và xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát là một chức năng lãnh đạo trọng yếu; “lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo”. Để công tác vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế – xã hội tại khu vực biên giới đi vào thực chất, Đảng bộ Bộ đội Biên phòng cần đổi mới tư duy và phương thức kiểm tra, giám sát theo hướng “chủ động, từ sớm, từ xa”, thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên ngay khi bắt đầu triển khai các chương trình giúp dân phát triển kinh tế nhằm kịp thời phát hiện nhân tố mới để phát huy và khắc phục thiếu sót ngay từ đầu.
Tập trung kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc quản lý và sử dụng các nguồn lực hỗ trợ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thờ ơ, vô trách nhiệm hoặc lợi dụng chính sách giúp dân để trục lợi. Các vụ việc sai phạm phát sinh phải được xem xét xử lý quyết liệt, nghiêm minh, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.
4. Kết luận
Sự lãnh đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đối với công tác vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế – xã hội là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, bảo đảm lực lượng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thực tiễn quá trình lãnh đạo, Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đã chuyển hóa hiệu quả các chủ trương của Đảng thành những mô hình giúp dân sinh động, có sức lan tỏa lớn. Những thành tựu này không chỉ góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn biên giới mà còn là minh chứng sống động cho việc xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Bước vào kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV, nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng đang đứng trước những vận hội và thách thức mới. Vì vậy, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức lãnh đạo đến hoàn thiện cơ chế phối hợp với địa phương sẽ bảo đảm cho công tác vận động quần chúng đi vào chiều sâu, thực chất. Đây chính là sức mạnh nội sinh để xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, tạo đà cho khu vực biên giới cùng đất nước bứt phá mạnh mẽ, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 234.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 74.
3, 4, 5, 6. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2025). Báo cáo số 5993/BC-Bộ đội Biên phòng ngày 29/10/2025 của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về tổng kết công tác biên phòng và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2022). Quy chế số 355-QC/ĐU ngày 11/02/2022 về việc hỗ trợ sản xuất, bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí, trang bị của Bộ đội Biên phòng.
2. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2022). Kế hoạch số 4002/KH-Bộ đội Biên phòng ngày 27/9/2022 triển khai thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2018). Chỉ thị số 681-CT/ĐU ngày 08/10/2018 của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về việc phân công đảng viên đồn biên phòng phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới.
4. Đảng ủy Bộ đội Biên phòng (2024). Chỉ thị số 1044-CT/ĐU ngày 25/3/2024 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đặc biệt trong tình hình mới.
5. Quân ủy Trung ương (2015). Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26/01/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới.
6. Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
7. Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 13/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.



