Nâng cao hiệu quả truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân nhằm phản bác các thông tin xấu độc trên không gian mạng

Enhancing the effectiveness of judicial communication in the People’s Procuracy in countering harmful and malicious information in cyberspace

ThS. Chu Bình Minh
Trường Đại học Kiểm sát

(Quanlynhanuoc.vn) – Không gian mạng phát triển mạnh mẽ, các loại hình thông tin xấu độc, sai lệch, xuyên tạc liên quan đến hoạt động tư pháp cũng có xu hướng gia tăng cả về tần suất, mức độ lan truyền và tính chất phức tạp. Là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, ngành Kiểm sát vừa là đối tượng trực tiếp chịu tác động của thông tin xấu độc, vừa giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tư pháp. Do đó, hoạt động truyền thông tư pháp không chỉ dừng lại ở việc thông tin, tuyên truyền đơn thuần mà còn cần phải chủ động góp phần phản bác các thông tin xấu độc trên không gian mạng nhằm bảo vệ uy tín, vị thế của ngành và củng cố niềm tin của xã hội.

Từ khóa: Truyền thông tư pháp; kiểm sát nhân dân; thông tin xấu độc; bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Abstract: The rapid expansion of cyberspace has facilitated the proliferation of harmful, misleading, and distorted information related to judicial activities, with increasing frequency, wider dissemination, and greater complexity. As an institution responsible for exercising the power of public prosecution and supervising judicial activities, the People’s Procuracy of Vietnam is both directly affected by such malicious information and plays a crucial role in safeguarding socialist legality and protecting the ideological foundation of the Communist Party within the judicial sphere. In this context, judicial communication has become an essential instrument not only for disseminating official information but also for proactively countering misinformation and distorted narratives in cyberspace. Enhancing the effectiveness of judicial communication can help protect the credibility and institutional reputation of the People’s Procuracy while strengthening public trust in the justice system. This paper analyzes the challenges posed by harmful online information and proposes measures to improve judicial communication capacity in order to effectively respond to misinformation in the digital environment.

Keywords: Judicial communication; People’s Procuracy of Vietnam; harmful and malicious information; cyberspace; ideological protection.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh không gian mạng đang trở thành môi trường lan truyền thông tin chủ yếu, các loại hình thông tin xấu độc, sai lệch, xuyên tạc liên quan đến lĩnh vực tư pháp cũng có xu hướng gia tăng nhanh chóng, phức tạp và khó kiểm soát. Nhiều thông tin được phát tán có chủ đích nhằm bóp méo bản chất các vụ việc, vụ án, công kích hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có ngành Kiểm sát, từ đó có nguy cơ gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với pháp luật, công lý và các thiết chế tư pháp.

Việc phản bác thông tin xấu độc không thể chỉ dựa vào các biện pháp kỹ thuật hay xử lý hành chính mà cần đến vai trò chủ động của các chủ thể có thẩm quyền trong việc cung cấp và định hướng thông tin chính thống. Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, hoạt động truyền thông tư pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình này. Do đó, đã đặt ra yêu cầu cho ngành Kiểm sát nhân dân cần chủ động cung cấp, định hướng và phản bác thông tin một cách kịp thời, chính xác, đúng thẩm quyền và đúng pháp luật.

2. Vai trò của hoạt động truyền thông tư pháp trong phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng

Ở Việt Nam hiện nay, “truyền thông tư pháp” chưa được định nghĩa như một thuật ngữ pháp lý độc lập trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nội hàm của truyền thông tư pháp có thể được nhận diện tương đối rõ thông qua các quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, công khai thông tin của cơ quan nhà nước và truyền thông chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tư pháp.

Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, cơ quan nhà nước có trách nhiệm chủ động công khai, cung cấp thông tin do mình tạo ra kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công dân; đồng thời, bảo đảm các giới hạn hợp pháp đối với thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật đời tư cá nhân. Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, nội hàm truyền thông tư pháp được thể hiện cụ thể trong Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát nhân dân (ban hành kèm theo Quyết định số 313/QĐ-VKSTC ngày 04/7/2018), đã xác định rõ chủ thể phát ngôn, hình thức cung cấp thông tin (họp báo, trả lời phỏng vấn, thông cáo báo chí, đăng tải trên cổng/trang thông tin điện tử…), trách nhiệm của các đơn vị trong việc cung cấp thông tin và các trường hợp được phép từ chối cung cấp thông tin. Theo đó, có thể hiểu truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát là tổng thể các hoạt động phát ngôn, cung cấp, công khai và định hướng thông tin chính thống liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành trong lĩnh vực tư pháp, được tiến hành theo đúng thẩm quyền, quy trình và giới hạn pháp luật nhằm bảo đảm tính minh bạch cần thiết, nâng cao nhận thức pháp luật và định hướng dư luận xã hội.

Khái niệm “thông tin xấu độc trên không gian mạng” được hiểu là các nội dung được phát tán thông qua Internet và mạng xã hội có tính chất sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật hoặc định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, đặc biệt là các thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có ngành Kiểm sát.

Như vậy, hoạt động truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát chỉ thực sự phát huy hiệu quả trong phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng khi được triển khai đúng bản chất: là hoạt động thông tin có thẩm quyền, có căn cứ pháp lý và gắn chặt với chức năng, nhiệm vụ của ngành, chứ không phải là phản ứng cảm tính trước dư luận.

Thứ nhất, truyền thông tư pháp là yêu cầu tất yếu từ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tư pháp.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi các cơ quan, đơn vị cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, có sức thuyết phục nhằm đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng. Trong lĩnh vực tư pháp, thông tin xấu độc thường tập trung xuyên tạc bản chất các vụ án, vụ việc, phủ nhận vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, từ đó từng bước làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với pháp luật và công lý. Do đó, truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát không chỉ là hoạt động nghiệp vụ hỗ trợ mà trở thành một bộ phận cấu thành của nhiệm vụ chính trị bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tư pháp. Việc chủ động truyền thông chính thống sẽ giúp định hướng nhận thức xã hội đúng đắn, qua đó làm giảm tác động của các thông tin xuyên tạc.

Thứ hai, truyền thông tư pháp là công cụ hợp pháp để phản bác thông tin xấu độc trong khuôn khổ pháp luật.

Phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về an ninh mạng, tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Luật An ninh mạng năm 2018 quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh, trật tự, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu xử lý vi phạm, pháp luật cũng đặt ra nguyên tắc minh bạch, công khai thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 xác định nghĩa vụ cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho công dân, đồng thời, quy định rõ các loại thông tin được và không được cung cấp. Việc phản bác thông tin xấu độc bằng truyền thông tư pháp giúp cơ quan Kiểm sát chủ động cung cấp thông tin xác thực, đúng thẩm quyền, thay vì để dư luận bị dẫn dắt bởi các nguồn tin không chính thức. Đây là phương thức phản bác phù hợp với nguyên tắc pháp quyền, tránh tình trạng “im lặng kéo dài” hoặc phản ứng cảm tính, thiếu căn cứ.

Thứ ba, truyền thông tư pháp góp phần bảo vệ uy tín của ngành, củng cố niềm tin xã hội vào pháp luật và công lý.

Thông tin xấu độc liên quan đến lĩnh vực tư pháp là thường đánh trực diện vào uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và niềm tin của Nhân dân. Trên thực tế, nhiều bài viết, bình luận trên mạng xã hội thường khai thác các vụ việc cụ thể để quy kết, suy diễn, từ đó tạo tâm lý hoài nghi đối với hoạt động thực thi pháp luật. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần cảnh báo về tình trạng này và khẳng định sự cần thiết của việc tăng cường thông tin chính thống để định hướng dư luận1.

Đối với ngành Kiểm sát, nếu không kịp thời truyền thông, giải thích hoặc cung cấp thông tin cần thiết sẽ khiến dư luận chỉ tiếp cận các luồng thông tin một chiều, thiếu kiểm chứng. Thực tiễn công tác tuyên truyền của ngành Kiểm sát những năm gần đây cho thấy, việc tăng cường thông tin chính thống về hoạt động của ngành không chỉ góp phần đấu tranh với thông tin sai lệch mà còn tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao hình ảnh đội ngũ cán bộ kiểm sát trong thực thi công vụ.

Thứ tư, truyền thông tư pháp là biện pháp giúp để thu hẹp “khoảng trống thông tin” trong môi trường số.

Không gian mạng có đặc trưng là tốc độ lan truyền nhanh, phạm vi rộng và khó kiểm soát. Trong môi trường đó, khoảng trống thông tin thường xuất hiện khi các cơ quan có thẩm quyền chưa kịp thời cung cấp thông tin chính thống. Khoảng trống này nhanh chóng bị lấp đầy bởi các nguồn tin không chính thức, thiếu kiểm chứng hoặc có chủ đích xấu. Việc thành lập và vận hành Trung tâm xử lý tin giả, thông tin xấu độc Việt Nam (VAFC) cho thấy, Nhà nước đã nhận diện rõ thách thức này và nhấn mạnh vai trò của thông tin xác thực, chính thống trong việc hạn chế tác động tiêu cực của tin giả, tin xấu độc. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực chuyên sâu như tư pháp, chỉ những cơ quan có thẩm quyền chuyên môn mới có khả năng cung cấp thông tin chính xác, có giá trị định hướng dư luận. Trong điều kiện ngành Kiểm sát đang đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông tư pháp nếu được tổ chức hiệu quả sẽ trở thành kênh phản hồi nhanh, tin cậy, góp phần thu hẹp khoảng trống thông tin, hạn chế sự lan truyền của thông tin xấu độc ngay từ giai đoạn đầu. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng khẳng định vai trò không thể thay thế của truyền thông tư pháp trong phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng hiện nay.  

3. Thực trạng truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân trước thông tin xấu độc trên không gian mạng

3.1. Những kết quả đạt được

Một là, khuôn khổ thể chế về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí từng bước được hoàn thiện và đi vào nền nếp.

Một trong những kết quả nổi bật là việc ngành Kiểm sát đã thiết lập và thực hiện tương đối thống nhất Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, ban hành kèm theo Quyết định số 313/QĐ-VKSTC quy định chủ thể phát ngôn, trách nhiệm của người phát ngôn, các hình thức cung cấp thông tin cũng như những trường hợp được phép hoặc không được phép cung cấp thông tin, qua đó tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động truyền thông tư pháp trong toàn ngành.

Việc ban hành và triển khai Quy chế phát ngôn đã góp phần khắc phục tình trạng phát ngôn tùy tiện, thiếu thống nhất, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong việc cung cấp thông tin cho báo chí và dư luận xã hội. Thông tin chính thống về hoạt động của ngành Kiểm sát được thực hiện theo quy trình, thẩm quyền rõ ràng, giúp hạn chế nguy cơ bị lợi dụng hoặc xuyên tạc khi xuất hiện các thông tin sai lệch trên không gian mạng.

Qua thực tiễn triển khai, Quy chế về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục được hoàn thiện thông qua Quyết định số 33/QĐ-VKSTC ngày 22/12/2025 ban hành Quy chế về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát nhân dân thay thế Quy chế theo Quyết định số 313/QĐ-VKSTC.

Hai, định hướng công tác tuyên truyền được gắn chặt với nhiệm vụ chính trị và yêu cầu đấu tranh phản bác thông tin xấu độc.

Ngành Kiểm sát nhân dân đã chú trọng xây dựng và ban hành các kế hoạch, định hướng công tác tuyên truyền hằng năm, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung trọng tâm và phương thức triển khai phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn. Kế hoạch công tác tuyên truyền năm 2026 của ngành nhấn mạnh việc tăng cường thông tin, tuyên truyền về chức năng, nhiệm vụ; lan tỏa hình ảnh người cán bộ Kiểm sát và chủ động định hướng dư luận trước các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Việc xác định rõ nhiệm vụ tuyên truyền gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, thù địch đã giúp công tác truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân không còn mang tính bị động, đối phó mà từng bước chuyển sang hướng chủ động, có định hướng và có trọng tâm. Đây là điều kiện quan trọng để phản bác thông tin xấu độc một cách hiệu quả, bởi chỉ khi có định hướng thống nhất từ trung ương đến địa phương, thông tin chính thống mới đủ sức lan tỏa và định hướng dư luận xã hội.

Ba là, hệ thống kênh thông tin chính thống của ngành từng bước được củng cố và mở rộng.

Cùng với việc hoàn thiện thể chế, ngành Kiểm sát đã quan tâm củng cố và phát huy vai trò của các kênh thông tin chính thống, như: Báo Bảo vệ pháp luật, Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cổng/trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát các cấp. Đây là những kênh thông tin, tuyên truyền quan trọng để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về hoạt động của ngành, qua đó góp phần phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc trên không gian mạng.

Báo Bảo vệ pháp luật – cơ quan ngôn luận của Viện Kiểm sát nhân dân đã đăng tải nhiều tin, bài phản ánh kịp thời hoạt động chuyên môn, các vụ án, vụ việc được dư luận quan tâm, đồng thời tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Việc duy trì thường xuyên các chuyên mục, tuyến bài về hoạt động kiểm sát đã góp phần tạo nguồn thông tin chính thống, giúp dư luận có cơ sở đối chiếu, nhận diện và phản bác các thông tin xấu độc. Bên cạnh đó, Cổng thông tin điện tử của ngành và của các địa phương cũng ngày càng được chú trọng đầu tư, cập nhật thông tin, tạo kênh tiếp cận trực tiếp giữa cơ quan Kiểm sát và người dân. Đây là điều kiện thuận lợi để ngành chủ động cung cấp thông tin, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn tin không chính thức trên mạng xã hội.

Bốn là, năng lực truyền thông và kỹ năng tác nghiệp của đội ngũ cán bộ từng bước được nâng cao.

Ngành đã chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thông tin, tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ, công chức. Nhiều lớp tập huấn về công tác thông tin tuyên truyền, kỹ năng viết tin, bài, kỹ năng phối hợp với báo chí đã được tổ chức ở cả trung ương và địa phương. Đã có nhiều hoạt động tập huấn do các đơn vị trong ngành tổ chức, nhằm nâng cao kỹ năng tác nghiệp báo chí và truyền thông cho cán bộ làm công tác tuyên truyền, từ đó góp phần nâng cao chất lượng thông tin chính thống và khả năng phản hồi trước các thông tin sai lệch2. Việc nâng cao năng lực truyền thông cho đội ngũ cán bộ giúp ngành từng bước chủ động hơn trong việc xây dựng thông điệp, lựa chọn hình thức truyền tải phù hợp và phản hồi dư luận một cách có cơ sở, đúng mực. Đây là yếu tố quan trọng để truyền thông tư pháp thực sự phát huy hiệu quả trong bối cảnh thông tin xấu độc lan truyền nhanh trên không gian mạng.

Năm là, chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động truyền thông tư pháp trên môi trường mạng.

Ngành Kiểm sát nhân dân đang đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn và quản lý. Kế hoạch chuyển đổi số năm 2025 của ngành đã xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến xây dựng hạ tầng số, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành3. Quá trình chuyển đổi số này đã và đang tạo nền tảng kỹ thuật quan trọng cho hoạt động truyền thông tư pháp, giúp việc đăng tải, cập nhật và lan tỏa thông tin chính thống được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện hơn trên môi trường mạng. Khi hạ tầng số được cải thiện, khả năng phản hồi kịp thời trước các thông tin xấu độc cũng được nâng lên, góp phần thu hẹp “khoảng trống thông tin” – yếu tố thường bị các đối tượng xấu lợi dụng trên không gian mạng trong thời gian qua.

3.2. Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, về thể chế và quy trình phản hồi thông tin trong môi trường số.

Mặc dù ngành Kiểm sát đã chú trọng hoàn thiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, song quy chế này chủ yếu được thiết kế cho bối cảnh truyền thông truyền thống, trong khi đặc trưng của không gian mạng đòi hỏi tốc độ phản hồi nhanh, linh hoạt và theo cấp độ rủi ro. Thực tiễn cho thấy, khi xuất hiện thông tin xấu độc liên quan đến vụ việc tư pháp, quy trình xin ý kiến, thẩm định nội dung và phê duyệt phát ngôn theo nhiều tầng nấc có thể làm chậm thời điểm cung cấp thông tin chính thống. Trong khi đó, các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông đã chỉ rõ đặc điểm của thông tin xấu độc trên mạng xã hội là lan truyền nhanh, phạm vi rộng và khó kiểm soát, đòi hỏi phản ứng kịp thời để tránh hình thành “dư luận dẫn dắt ngược”4. Do đó, việc thiếu quy trình phản hồi chuyên biệt cho tình huống khủng hoảng thông tin trên môi trường số sẽ có thể dẫn tới tình trạng hoạt động truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát khó theo kịp tốc độ lan truyền của thông tin xấu độc.

Bên cạnh đó, quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin hiện nay chưa phân hóa rõ theo mức độ ảnh hưởng xã hội của vụ việc, dẫn đến có thể gây lúng túng trong việc lựa chọn hình thức phản hồi phù hợp (thông cáo ngắn, trả lời báo chí, hay họp báo). Qua đó, phần nào làm giảm hiệu quả phản bác thông tin xấu độc trong những thời điểm nhạy cảm.

Thứ hai, hạn chế về năng lực truyền thông số và kỹ năng phản bác của đội ngũ nhân sự làm công tác truyền thông.

Công tác thông tin, tuyên truyền và kỹ năng viết tin, bài chủ yếu tập trung vào kỹ năng báo chí truyền thống, chưa chú trọng đầy đủ đến kỹ năng truyền thông trên nền tảng số, như: xử lý khủng hoảng thông tin, xây dựng thông điệp ngắn gọn, dễ lan tỏa, hay phản bác dựa trên chứng cứ pháp lý trong môi trường mạng. Trong khi đó, việc nhận diện và phản bác tin giả, tin xấu độc đòi hỏi kỹ năng phân tích nguồn tin, hiểu biết về cơ chế lan truyền trên mạng xã hội và khả năng cung cấp thông tin xác thực kịp thời. Ngoài ra, tại một số đơn vị cơ sở, công tác truyền thông tư pháp vẫn được kiêm nhiệm, chưa hình thành đội ngũ chuyên trách hoặc đầu mối ổn định. Điều này dẫn đến tình trạng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân, thiếu tính kế thừa và chuyên nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và tính nhất quán của thông tin phản bác.

Thứ ba, hạn chế về hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn dữ liệu trong truyền thông tư pháp.

Hạ tầng công nghệ thông tin và bảo đảm an toàn dữ liệu là yếu tố quan trọng đối với truyền thông tư pháp trong môi trường số, trong đó mức độ đầu tư và khả năng khai thác công nghệ giữa các đơn vị vẫn còn chưa đồng bộ. Một số cổng/trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát địa phương còn hạn chế về giao diện, tốc độ cập nhật và khả năng lan tỏa trên môi trường mạng. Qua đó, làm giảm hiệu quả tiếp cận của thông tin chính thống, trong khi các nền tảng mạng xã hội lại có ưu thế vượt trội về tốc độ và mức độ lan truyền. Khi thông tin chính thống khó tiếp cận hoặc cập nhật chậm, khả năng phản bác thông tin xấu độc sẽ bị suy giảm.

Truyền thông tư pháp còn đối mặt với rủi ro về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật công tác. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt trong việc xử lý, công bố thông tin có chứa dữ liệu cá nhân. Trong bối cảnh đó, nếu thiếu quy trình kỹ thuật và pháp lý chặt chẽ (ẩn danh hóa, kiểm tra nội dung trước khi công bố), cán bộ làm truyền thông tư pháp có thể e ngại cung cấp thông tin, dẫn đến xu hướng “an toàn quá mức”, làm chậm phản hồi trước thông tin xấu độc.

Thứ tư, về cơ chế phối hợp và liên thông thông tin giữa các chủ thể liên quan.

Phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng là nhiệm vụ liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, báo chí chính thống và các nền tảng số. Tuy nhiên, trong thực tiễn, cơ chế phối hợp cụ thể và thường xuyên giữa ngành Kiểm sát với các chủ thể này chưa thật sự đồng bộ. Mặc dù Nhà nước đã thiết lập các đầu mối như VAFC để tiếp nhận và xử lý tin giả, song việc chuyển hóa các cảnh báo, xác minh của VAFC thành thông tin phản hồi chính thống trong lĩnh vực tư pháp còn phụ thuộc vào từng vụ việc cụ thể và mức độ chủ động của từng đơn vị. Điều này dẫn đến tình trạng có lúc thông tin xấu độc đã được cảnh báo nhưng phản hồi từ cơ quan có thẩm quyền chưa kịp thời hoặc chưa đủ sức lan tỏa.

Ngoài ra, sự phối hợp giữa các đơn vị trong nội bộ ngành Kiểm sát (giữa bộ phận chuyên môn xử lý vụ việc và bộ phận làm công tác truyền thông) đôi khi chưa thật sự nhịp nhàng. Việc chia sẻ thông tin nội bộ phục vụ truyền thông còn thận trọng, thiếu cơ chế “một cửa” để tổng hợp, xử lý và phát ngôn thống nhất. Từ đó, làm giảm hiệu quả của truyền thông tư pháp trong những tình huống cần phản ứng nhanh, nhất là khi thông tin xấu độc đã lan rộng trên mạng xã hội.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông tư pháp để phản bác tin xấu độc trên không gian mạng

4.1. Hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình phản hồi thông tin xấu độc trong truyền thông tư pháp

Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường truyền thông số, ngành Kiểm sát nhân dân cần thiết cụ thể hóa và “số hóa” quy trình phản hồi thông tin trong các tình huống phát sinh thông tin xấu độc trên không gian mạng. Theo đó, quy trình này có thể được thiết kế theo ba cấp độ: (1) Cấp độ thông tin sai lệch có phạm vi ảnh hưởng hẹp – áp dụng hình thức đính chính ngắn gọn trên kênh thông tin chính thống; (2) Cấp độ thông tin sai lệch có tác động xã hội trung bình – áp dụng thông cáo báo chí, trả lời báo chí có kiểm soát; (3) Cấp độ thông tin xấu độc gây dư luận lớn, phức tạp – áp dụng hình thức họp báo, phát ngôn chính thức của người có thẩm quyền. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu “chủ động, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả” trong đấu tranh phản bác thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng được nhấn mạnh trong các chỉ đạo của Chính phủ và cơ quan quản lý truyền thông5.

Bên cạnh đó, cần lồng ghép chặt chẽ quy trình phản hồi truyền thông tư pháp với các quy định về phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các hành vi lợi dụng không gian mạng để xâm hại trật tự, an toàn xã hội của Luật An ninh mạng. Việc chuẩn hóa quy trình không chỉ giúp rút ngắn thời gian phản hồi mà còn tạo hành lang pháp lý an toàn cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ truyền thông, hạn chế tâm lý e ngại, né tránh khi đối diện với các thông tin xấu độc phức tạp. Ngoài ra, cần gắn việc hoàn thiện thể chế truyền thông tư pháp với định hướng công tác tuyên truyền hằng năm của ngành Kiểm sát, đồng thời coi đây là một nội dung quan trọng trong chỉ đạo, điều hành và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Khi quy trình phản hồi được chuẩn hóa, thống nhất và vận hành hiệu quả, truyền thông tư pháp của ngành Kiểm sát sẽ thực sự trở thành công cụ chủ động, hợp pháp và hiệu quả trong việc phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng.

4.2. Nâng cao năng lực truyền thông số và kỹ năng phản bác thông tin xấu độc cho cán bộ ngành

Việc phản bác tin giả, tin xấu độc chỉ thực sự hiệu quả khi chủ thể phản bác có đủ năng lực nhận diện, phân tích và cung cấp thông tin xác thực kịp thời, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của công chúng trên không gian mạng. Do đó, ngành cần đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông tư pháp. Bên cạnh các lớp tập huấn truyền thống về viết tin, bài, cần bổ sung các chuyên đề chuyên sâu về truyền thông số, như: kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông; kỹ năng phản bác thông tin sai lệch dựa trên căn cứ pháp lý; kỹ năng xây dựng thông cáo, trả lời báo chí trong bối cảnh mạng xã hội lan truyền nhanh; kỹ năng phối hợp với các kênh truyền thông chính thống để lan tỏa thông tin xác thực.

Ngoài ra, cần từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt về truyền thông tư pháp trong toàn ngành, hạn chế tình trạng kiêm nhiệm kéo dài. Việc hình thành đầu mối chuyên trách hoặc bán chuyên trách sẽ giúp tích lũy kinh nghiệm, bảo đảm tính kế thừa và nâng cao tính chuyên nghiệp trong phản bác thông tin xấu độc. Giải pháp này cũng phù hợp với định hướng đổi mới công tác tuyên truyền của ngành Kiểm sát, coi truyền thông là nhiệm vụ gắn với thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính trị, không phải hoạt động phụ trợ đơn thuần. Việc nâng cao năng lực truyền thông số cho đội ngũ cán bộ cần được gắn với cơ chế đánh giá, khen thưởng và trách nhiệm người đứng đầu trong công tác tuyên truyền.

4.3. Tăng cường hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn dữ liệu trong truyền thông tư pháp

Thời gian tới, cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ trực tiếp cho hoạt động truyền thông tư pháp, bảo đảm các cổng/trang thông tin điện tử của ngành hoạt động ổn định, cập nhật nhanh, dễ tiếp cận và có khả năng lan tỏa thông tin chính thống. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành Kiểm sát nhân dân đã được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, với nhiều nhóm giải pháp liên quan đến hạ tầng, an toàn, an ninh mạng và ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành. Đây là điều kiện thuận lợi để tích hợp mục tiêu nâng cao hiệu quả truyền thông tư pháp vào tiến trình chuyển đổi số.

Cùng với đầu tư hạ tầng, cần chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật bảo đảm an toàn dữ liệu trong truyền thông tư pháp, như: phân loại mức độ thông tin trước khi công bố; ẩn danh hóa dữ liệu cá nhân; kiểm tra nội dung pháp lý – dữ liệu trước khi phát hành thông cáo, tin, bài. Việc chuẩn hóa này vừa giúp giảm thiểu rủi ro vi phạm pháp luật về dữ liệu cá nhân, vừa tạo tâm lý yên tâm cho cán bộ làm công tác truyền thông khi thực hiện nhiệm vụ phản bác thông tin xấu độc. Việc cung cấp thông tin xác thực cần đi kèm với trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin để tránh phát sinh hệ lụy mới trong quá trình phản bác. Đặc biệt, tăng cường hạ tầng công nghệ và an toàn dữ liệu cần phải được gắn liền với sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng đầu tư manh mún, thiếu đồng bộ giữa các đơn vị trong ngành.

4.4. Hoàn thiện cơ chế phối hợp và liên thông thông tin trong phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng

Hoạt động phản bác thông tin xấu độc trong lĩnh vực tư pháp là nhiệm vụ liên ngành, đòi hỏi sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, các cơ quan báo chí chính thống và các đầu mối xử lý tin giả của Nhà nước. Do đó, ngành Kiểm sát cần thiết lập và vận hành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa bộ phận chuyên môn xử lý vụ việc với bộ phận làm công tác truyền thông trong nội bộ ngành, bảo đảm thông tin phục vụ phản bác được tổng hợp nhanh, thống nhất và có thẩm quyền. Việc phân công rõ đầu mối chịu trách nhiệm phối hợp, tham mưu phát ngôn và cung cấp thông tin là điều kiện cần để khắc phục tình trạng thông tin phân tán, thiếu nhất quán khi xuất hiện thông tin xấu độc liên quan đến hoạt động tư pháp. Cơ chế này cần được vận hành trên nền tảng Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát, bảo đảm tính pháp lý và kỷ luật phát ngôn.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên thông thông tin với các cơ quan, thiết chế bên ngoài ngành, đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông và các cơ quan báo chí chính thống. Đặc biệt, cần khai thác hiệu quả vai trò của VAFC trong việc tiếp nhận, xác minh và cảnh báo thông tin sai lệch trên không gian mạng. Cơ chế phối hợp này cần được thực hiện theo hướng chủ động, hai chiều, không chỉ dừng lại ở tiếp nhận cảnh báo mà còn chia sẻ thông tin xác thực để phục vụ công tác đính chính, phản bác.

5. Kết luận

Trong bối cảnh không gian mạng ngày càng trở thành môi trường tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội và niềm tin của Nhân dân đối với các thiết chế tư pháp, thông tin xấu độc, sai lệch, xuyên tạc liên quan đến hoạt động của ngành Kiểm sát đang có xu hướng gia tăng cả về quy mô và mức độ tinh vi. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả truyền thông tư pháp như một công cụ quan trọng, hợp pháp và phù hợp nhằm phản bác thông tin xấu độc, bảo vệ uy tín ngành, giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa và góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực tư pháp. Trên cơ sở đánh giá đúng vai trò của truyền thông tư pháp và nhìn nhận khách quan về thực trạng hoạt động này trong thời gian qua, bài viết đã đề xuất bốn nhóm giải pháp, bao gồm: (1) Hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa quy trình phản hồi; (2) Nâng cao năng lực truyền thông số cho đội ngũ cán bộ; (3) Tăng cường hạ tầng công nghệ gắn với bảo đảm an toàn dữ liệu; (4) Hoàn thiện cơ chế phối hợp, liên thông thông tin. Những đề xuất kiến nghị trên để ngành Kiểm sát nhân dân nghiên cứu, áp dụng triển khai đồng bộ nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông, qua đó, chủ động phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng, củng cố niềm tin xã hội vào pháp luật và công lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.

Chú thích:
1, 4. Kiên quyết ngăn chặn xử lý các thông tin xấu độc trên mạng xã hội. https://mst.gov.vn/bo-tttt-kien-quyet-ngan-chan-xu-ly-cac-thong-tin-xau-doc-tren-mang-xa-hoi-197152518.htm
2. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Hà Tĩnh tập huấn công tác thông tin tuyên truyền và kỹ năng viết tin, bài. https://baovephapluat.vn/kiem-sat-24h/ban-tin-kiem-sat/vksnd-khu-vuc-4-tinh-ha-tinh-tap-huan-cong-tac-thong-tin-tuyen-truyen-va-ky-nang-viet-tin-bai-191638.html
3. 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp về chuyển đổi số năm 2025 của ngành Kiểm sát nhân dân. https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/8-nhom-nhiem-vu-va-giai-phap-ve-chuyen-doi-so-nam-2025-cua-nganh-kiem-sat-nhan-dan-172362.html
5. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. https://baochinhphu.vn/nang-cao-hieu-qua-cong-tac-tuyen-truyen-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-trong-tinh-hinh-moi-10225122915331236.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
2. Chính phủ (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
3. Quốc hội (2018). Luật An ninh mạng năm 2018.
4. Quốc hội (2016). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018). Quyết định số 313/QĐ-VKSTC ngày 04/7/2018 ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát nhân dân.
6. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2025). Quyết định số 33/QĐ-VKSTC ngày 22/12/2025 ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của ngành Kiểm sát nhân dân.
7. Nâng cao năng lực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của đội ngũ kiểm sát viên. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/11/26/nang-cao-chat-luong-lanh-dao-dau-tranh-phan-bac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-tren-khong-gian-mang-cua-cac-dang-uy-hoc-vien-truong-si-quan-quan-doi/