Ứng dụng công nghệ số trong công tác bảo quản vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật ở Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật

Trần Minh Hiển
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1
Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh, hiện đại”, việc ứng dụng công nghệ số vào công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật trở thành yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong toàn quân. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và vai trò của công nghệ số trong công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật, trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ số trong thực hiện nhiệm vụ kỹ thuật, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội trong tình hình mới.

Từ khóa: Công nghệ số; vũ khí trang bị kỹ thuật; quản lý, bảo quản, sửa chữa; cán bộ kỹ thuật; Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật.

1. Đặt vấn đề

Thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột, chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực với hình thức, quy mô, mức độ phức tạp hơn; luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương đứng trước những thử thách lớn. Các quốc gia điều chỉnh chiến lược, tăng mạnh ngân sách quốc phòng, đẩy nhanh hiện đại hóa quân đội, phát triển các thế hệ vũ khí mới. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những thay đổi căn bản trong tổ chức quân đội, hình thái và phương thức tiến hành chiến tranh, với sự xuất hiện ngày càng phổ biến của vũ khí công nghệ cao, vũ khí thông minh, phương tiện không người lái, tác chiến không gian mạng và điện tử.

Trong bối cảnh đó, vũ khí trang bị kỹ thuật không chỉ là nhân tố vật chất trực tiếp cấu thành sức mạnh chiến đấu mà còn là thước đo trình độ hiện đại hóa quân đội của mỗi quốc gia. Chất lượng, trạng thái kỹ thuật của vũ khí trang bị kỹ thuật phụ thuộc trực tiếp vào công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa với yêu cầu đòi hỏi tính chính xác, hệ thống và liên tục cao. Trong điều kiện vũ khí trang bị kỹ thuật ngày càng đa dạng về chủng loại, phức tạp về kết cấu và hiện đại về công nghệ, các nước trên thế giới đã và đang triển khai mạnh mẽ công nghệ số vào lĩnh vực bảo đảm kỹ thuật quân sự, với các giải pháp, như: hệ thống quản lý vòng đời trang bị tích hợp, bảo trì dự đoán dựa trên dữ liệu thực thời, kho thông minh tự động hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán kỹ thuật… đạt hiệu quả vượt trội so với phương thức truyền thống.

2. Quan điểm phát triển quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030, trong đó có mục tiêu “Tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hóa; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hoá dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực…; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước”1.

Về xây dựng công nghiệp quốc phòng, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”2; bổ sung thêm các thành tố “tự chủ, tự lực, tự cường”3 trong phát triển công nghiệp quốc phòng nhằm phát huy nội lực, tự lực tiến tới tự chủ chiến lược trong suốt quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất và phát triển; không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm chất lượng ngày càng cao.

Để thực hiện mục tiêu này, vai trò của công tác kỹ thuật, đặc biệt là tại cơ quan chiến lược là đặc biệt quan trọng, như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, xác định: “Xây dựng ngành hậu cần, kỹ thuật cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”4[3]. Trong đó, công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật là khâu đầu tiên và thường xuyên nhất để duy trì sức chiến đấu đứng trước yêu cầu phải số hóa mạnh mẽ. Việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật giúp đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyển từ tư duy bảo quản thụ động sang quản lý và dự báo chủ động.

3. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật của cán bộ kỹ thuật ở Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật

Trong thời gian qua, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật đã quán triệt, chủ động tham mưu, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 1658-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về công tác hậu cần quân đội đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Trong đó, công tác ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật có những bước tiến đáng ghi nhận, góp phần bảo đảm độ chính xác, độ an toàn và khả năng đồng bộ. Kết quả khảo sát cho thấy, năm 2025, có “100% đội ngũ cán bộ, trợ lý kỹ thuật tại các kho K864, KV1… thuộc Cục Quân khí, Nhà máy Z157, Trạm Kiểm định chất lượng… thuộc Cục Xe máy – Vận tải, Viện Cơ giới Quân sự, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự trực thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật đã khai thác hiệu quả các phần mềm quản lý vật tư, kỹ thuật thống nhất toàn quân. Hệ thống báo cáo được điện tử hóa, giúp rút ngắn thời gian tổng hợp số liệu từ cấp cơ sở lên cơ quan Tổng cục… Một số kho chiến lược hiện đại, Kho J258 thuộc Cục Xe máy – Vận tải (Đà Nẵng) có hơn 90% các trang thiết bị công nghệ cảm biến đo nhiệt độ, độ ẩm tự động đã được lắp đặt, kết nối với hệ thống điều khiển máy hút ẩm, quạt thông gió tự động. Một số đơn vị như Trung tâm Kiểm định số 01 (Hà Nội), Nhà máy Z157 (Hà Nội) ứng dụng 100% công nghệ mã vạch, mã QR và bước đầu thí điểm công nghệ RFID để quản lý lý lịch súng pháo, khí tài, giúp việc kiểm kê kho định kỳ diễn ra nhanh chóng, chính xác”5.

Năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ kỹ thuật được nâng lên rõ rệt với nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự (Vihempic), Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quân sự 1, Viện cơ giới quân sự, Viện thiết kế… tập trung vào xây dựng các phần mềm mô phỏng quy trình tháo lắp, bảo quản, giúp huấn luyện thợ kỹ thuật an toàn và hiệu quả. Kết quả khảo sát cho thấy “chất lượng đề tài, sáng kiến cải tiến ở các đơn vị trong Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật  giai đoạn 2019-2024 được Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở, cấp tổng cục dự thi cấp toàn quân 80% tốt, 20% khá”6.

Việc ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu nhiệm vụ. Kết quả khảo sát tại các đơn vị trong Tổng cục cho thấy, có 15% đánh giá còn thụ động trong ứng dụng công nghệ số vào việc thực hiện các nhiệm vụ; 20% các đơn vị đánh giá việc chia sẻ dữ liệu gặp khó khăn,… Nguyên nhân của hạn chế xuất phát từ tâm lý e ngại lộ lọt bí mật quân sự khi đưa dữ liệu lên các hệ thống nền tảng số, việc số hóa dữ liệu vũ khí trang bị kỹ thuật đặt ra thách thức lớn về an ninh mạng.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, xác định “Đột phá tham mưu hoàn thiện phương thức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; kết hợp tốt các phương thức bảo đảm truyền thống với ứng dụng khoa học – công nghệ, lấy “bảo đảm tại chỗ là chủ yếu, bảo đảm cơ động là quan trọng”7. Các đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật đã chú trọng đào tạo cho cán bộ, chiến sỹ  kiến thức chuyên ngành về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin, an ninh mạng… (xem Bảng 1). Đã có hàng trăm nghìn lượt người tham gia.

Bảng 1. Thống kê số lượt tham gia đào tạo trong học tập phong trào “Bình dân học vụ số” của một số đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật8.

                Đơn vị     Khóa đào tạoCục Quân khí  Cục Xe máy – Vận tải  Cục Kỹ thuật quân, binh chủng  Cục Quân nhu  Trường Sỹ quan kỹ thuật quân sự  Trường Cao đẳng Hậu cần 1  
Kiến thức về công nghệ số12.89019.2119.21418.74419.10619.005
Kiến thức về trí tuệ nhân tạo14.21612.45010.77220.31220.01920.024
Kiến thức về an toàn thông tin, an ninh mạng9.08210.1558.92310.92612.55610.367
Kỹ năng sử dụng thiết bị và phần mềm10.52211.90421.99715.90215.37710.623
Kỹ năng khai thác dữ liệu và thông tin12.13312.90018.72111.79917.03010.955
Kỹ năng giao tiếp và hợp tác trong môi trường số15.90215.32210.62612.84419.2339.214
Kỹ năng giải quyết vấn đề11.09817.12910.99114.28812.41110.700
Tổng85.84399.07191.244104.815115.73290.888

4. Một số giải pháp

Để nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sửa chữa, bảo quản vũ khí trang bị kỹ thuật ở Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuậtcần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đổi mới tư duy, nhận thức của cán bộ kỹ thuật về ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật.

Coi đây là yếu tố tiên quyết để chuyển đổi thành công phương thức bảo đảm kỹ thuật truyền thống sang hiện đại. Con người là chủ thể của chuyển đổi số, do đó cần đưa tiêu chí năng lực ứng dụng công nghệ số vào đánh giá chất lượng hoàn thành nhiệm vụ và bình xét thi đua hằng năm; đồng thời, khuyến khích phong trào tự học, tự nghiên cứu các giải pháp số hóa quy trình bảo quản tại đơn vị. Bên cạnh đó, cần tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về “tư duy dữ liệu” (data mindset) và kỹ năng phân tích dữ liệu từ các cảm biến đo lường và khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu số.

Hai là, đổi mới, xây dựng phát triển hạ tầng số đồng bộ về vũ khí trang bị kỹ thuật thống nhất trong toàn quân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến phương thức tác chiến và bảo đảm kỹ thuật, hạ tầng số không đơn thuần chỉ là việc mua sắm trang thiết bị phần cứng hay cài đặt các phần mềm đơn lẻ, đòi hỏi cần có quy hoạch kiến trúc tổng thể, bài bản và có tầm nhìn chiến lược dài hạn. Tính đồng bộ và thống nhất phải được thể hiện xuyên suốt từ cơ quan chiến lược như Tổng cục, Cục chuyên ngành xuống đến các đơn vị cơ sở, bảo đảm sự liên thông, liền mạch của dòng chảy dữ liệu trong toàn quân.

Cụ thể, cần thực hiện số hóa toàn diện hồ sơ lý lịch, nhật ký vận hành và lịch sử bảo dưỡng của từng chủng loại vũ khí, trang bị, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” theo thời gian thực. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đầu tư lắp đặt hệ thống cảm biến thông minh (Smart Sensors) kết nối vạn vật (IoT) tại các kho, khu kỹ thuật để tự động thu thập các thông số môi trường (nhiệt độ, độ ẩm) và tình trạng kỹ thuật của trang bị, tạo nền tảng dữ liệu đầu vào tin cậy cho các hệ thống phân tích và chỉ huy kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng số không thể tách rời yếu tố an toàn, an ninh mạng. Do đó, hạ tầng số phải được thiết kế tích hợp ngay từ đầu các giải pháp bảo mật nhiều lớp, cơ chế mã hóa dữ liệu và các quy trình kiểm soát truy cập nghiêm ngặt, đảm bảo chủ quyền số đối với dữ liệu vũ khí trang bị kỹ thuật.

Ba là, tích cực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật ở Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật.

Trong bối cảnh công nghệ thay đổi từng ngày, đội ngũ cán bộ kỹ thuật cần chuyển từ thụ động tiếp nhận các quy trình có sẵn sang chủ động, tích cực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Biểu hiện cụ thể của tinh thần này là sự chủ động chuyển dịch tư duy từ “quản lý thủ công” sang “quản lý dựa trên dữ liệu”, tự giác khắc phục tâm lý ngại khó, ngại đổi mới. Mỗi cán bộ kỹ thuật phải trở thành hạt nhân tích cực trong phong trào tự học, tự nghiên cứu khoa học, mạnh dạn đề xuất các giải pháp công nghệ mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong việc thử nghiệm các mô hình ứng dụng chuyển đổi số tại đơn vị.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện quy trình phù hợp với môi trường số, song song với việc thiết lập hàng rào bảo mật, an toàn thông tin vững chắc.

Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tiến hành rà soát, sửa đổi và bổ sung đồng bộ các quy trình, quy định về công tác kỹ thuật, trong đó trọng tâm là xác lập tính pháp lý cho các dữ liệu số.

5. Kết luận

Ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, bảo quản, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để hiện thực hóa mục tiêu, chuyển đổi số trong công tác kỹ thuật không đơn thuần là bước hiện đại hóa quy trình mà là khâu đột phá chiến lược, thực hiện chủ trương của Đảng về “đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” để nâng cao năng suất, chất lượng công tác bảo đảm kỹ thuật, giữ gìn và phát huy sức mạnh của kho tàng vũ khí quốc gia. Quá trình này đòi hỏi sự quyết tâm chính trị và định hướng chiến lược nhất quán của lãnh đạo, chỉ huy các cấp; năng lực và bản lĩnh đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chú thích:
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026).  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 113, 114, 114.
4, 7. Đảng ủy Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
5. Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật (2025). Hội nghị rà soát kết quả công tác chuyển đổi số ngành Hậu cần, kỹ thuật giai đoạn 1 và định hướng giai đoạn 2026 – 2030, ngày 15/9/2025.
6. Tổng cục Kỹ thuật (2024). Báo cáo công tác giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học trong Tổng cục giai đoạn 2019 – 2024, ngày 01/8/2024.
8. Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật (2025). Báo cáo Tổng kết các mặt công tác năm 2025, phương hướng nhiệm vụ năm 2026, ngày 15/12/2025.