Improving the mechanism for controlling sate power in civil procedure in Vietnam
ThS. Đinh Xuân Quang
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai
(Quanlynhanuoc.vn) – Trên tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc cốt lõi bảo đảm quyền lực được thực thi trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn xuất hiện tình trạng lạm quyền, thiếu khách quan, thậm chí có biểu hiện tiêu cực trong một số hoạt động tố tụng. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường giám sát, ngăn ngừa vi phạm, tham nhũng, tiêu cực, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực nhà nước; hoạt động tố tụng; tố tụng dân sự; hoàn thiện pháp luật.
Abstract: In the process of building a socialist rule-of-law state in Vietnam, the control of state power is a fundamental principle to ensure that power is exercised within the framework of the Constitution and the law. In the field of civil procedure, state power is manifested through the activities of procedural bodies and persons conducting proceedings. In recent years, alongside positive achievements, there have still been instances of abuse of power, lack of objectivity, and even signs of misconduct in certain procedural activities. Therefore, improving the mechanism for controlling state power in civil procedure is an urgent requirement to enhance supervision, prevent violations, corruption, and negative practices, thereby contributing to strengthening public trust.
Keywords: Control of state power; procedural activities; civil procedure; legal reform.
1. Đặt vấn đề
Kiểm soát quyền lực nhà nước là yêu cầu khách quan, cấp thiết của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mở rộng, phát huy dân chủ, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam1. Thực tiễn cho thấy, ở đâu xuất hiện quyền lực thì ở đó luôn tiềm ẩn nguy cơ tha hóa quyền lực nếu thiếu đi cơ chế kiểm soát hiệu quả. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng đã nhận định: Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao2. Đối với lĩnh vực tố tụng dân sự, quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Thời gian qua, việc một số cán bộ, công chức trong các cơ quan tiến hành tố tụng bị xử lý hình sự do sai phạm trong tố tụng dân sự, do đó, cần có các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.
2. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự hiện nay
Kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa chung nhất là hệ thống những hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau trong việc sử dụng các công cụ, phương tiện và biện pháp phù hợp để xem xét, giám sát, phát hiện, ngăn chặn sự tha hóa quyền lực của cá nhân, tổ chức thực thi quyền lực nhà nước3. Theo khoản 3 Điều 2 Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có thể hiểu quyền lực trong hoạt động tố tụng là thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các hoạt động tố tụng. Nói cách khác, trong tố tụng dân sự, quyền lực nhà nước được trao cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng, bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cùng các chức danh tư pháp, như: Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án nhân dân, Viện trưởng, kiểm sát viên và kiểm tra viên (Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025). Hoạt động tố tụng của những cá nhân, cơ quan này chính là đối tượng của kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự.
Như vậy, kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự là quá trình sử dụng công cụ, phương tiện và biện pháp phù hợp nhằm kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm hoạt động xét xử, kiểm sát được thực hiện đúng pháp luật, khách quan, minh bạch và không bị lạm quyền. Bài viết tập trung đề cập đến hai cơ chế chính của việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự, gồm:
2.1. Cơ chế tự kiểm soát bên trong nội bộ các cơ quan tiến hành tố tụng
Hiện nay, hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo ba cấp (tối cao, tỉnh và khu vực) theo hướng tinh gọn, thống nhất và chuyên sâu hơn. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, việc kiểm soát quyền lực được thể hiện thông qua chế độ hai cấp xét xử và các thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp dưới có thể bị xem xét, sửa đổi hoặc hủy bỏ bởi Tòa án nhân dân cấp trên. Đối với ngành kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự kiểm tra, hướng dẫn, giám sát nghiệp vụ từ Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Mặt khác, trong cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát đều được thiết lập bộ máy thanh tra chuyên trách, đảm nhiệm chức năng kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm hoạt động của từng cơ quan tuân thủ nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy chế của từng ngành. Cơ chế này bảo đảm hoạt động xét xử và kiểm sát được thực hiện khách quan, đúng pháp luật và kịp thời khắc phục sai sót, vi phạm.
2.2. Cơ chế kiểm soát bên ngoài
(1) Kiểm soát quyền lực giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong tố tụng dân sự. Có thể khẳng định rằng, Viện kiểm sát nhân dân là một chủ thể kiểm soát quyền lực tư pháp có vị trí độc lập, thống nhất, chuyên trách4. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự (ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao), công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự bắt đầu từ khi Tòa án nhân dân thông báo trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự hoặc từ khi Tòa án nhân dân thông báo thụ lý vụ việc dân sự đến khi bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật mà không có kháng nghị, không có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 3 Điều 4, Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 trao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quyền sau:: (1) Tham gia và phát biểu quan điểm tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ, việc dân sự; (2) Yêu cầu Tòa án nhân dân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp; (3) Xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật; (4) Kiến nghị Tòa án nhân dân khắc phục, phòng ngừa những vi phạm hoặc thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; (5) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án nhân dân nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Ở chiều ngược lại, cơ chế kiểm soát quyền lực của Tòa án nhân dân đối với Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự được thể hiện trên các phương diện: (1) Tòa án nhân dân có quyền bác bỏ các quan điểm, yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân nếu xét thấy không có căn cứ pháp luật, phù hợp với nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 264, 266 và 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khi nghị án và trong bản án, Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật… Nếu những quan điểm, yêu cầu hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân không có căn cứ pháp luật hoặc không phù hợp với các tình tiết khách quan Tòa án có quyền bác bỏ và nêu rõ lý do trong bản án; (2) Tòa án nhân dân cũng có quyền kiến nghị đối với những sai sót, vi phạm của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo khoản 1 Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
(2) Kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự thông qua chế định Hội thẩm nhân dân. Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận. Hội thẩm nhân dân là người đại diện cho Nhân dân tham gia xét xử tại Tòa án nhân dân, theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh đã bầu ra Hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân cùng với Thẩm phán tham gia xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và có quyền ngang nhau trong việc giải quyết vụ án. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán (khoản 2 Điều 11 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025).
(3) Kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự từ các cơ quan nhà nước khác đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Quốc hội và HĐND các cấp là các cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND, đại biểu HĐND có quyền giám sát đối với hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Đây là một đặc trưng trong nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát” giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quốc hội thực hiện giám sát thông qua việc xem xét báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tổ chức các phiên chất vấn, giải trình và lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trong các cơ quan này. Ở địa phương, HĐND giám sát thông qua hoạt động xem xét báo cáo công tác của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân về những vấn đề cử tri quan tâm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, tiêu cực trong hoạt động tố tụng. HĐND còn có thể tổ chức đoàn giám sát, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu để tiến hành thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình.
(4) Đương sự thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước khi tham gia tố tụng. Trong tố tụng dân sự, đương sự không chỉ là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ việc mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước. Đương sự trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng, có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Đương sự còn có quyền kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án; đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng hoặc cơ quan tố tụng, đương sự có quyền khiếu nại, tố cáo để yêu cầu xem xét, xử lý theo quy định, họ cũng có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trong những trường hợp pháp luật quy định.
Ngoài ra, còn có sự tham gia giám sát của dư luận xã hội, báo chí, truyền thông và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp, như: Liên đoàn Luật sư, Hội Luật gia… Sự giám sát của báo chí và dư luận xã hội là hình thức kiểm soát quyền lực thông qua việc phản ánh, phát hiện và đấu tranh với những sai phạm, yếu kém của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có chức vụ trong xã hội. Báo chí giữ vai trò là “cầu nối” giữa Nhân dân và chính quyền, góp phần thúc đẩy tính minh bạch, công khai và nâng cao trách nhiệm giải trình5.
3. Một số hạn chế, bất cập của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự
3.1. Cơ chế tự kiểm soát bên trong các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong nội bộ một số cơ quan Tòa án, Kiểm sát còn hình thức và thiếu hiệu quả. Mặc dù trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đã có bộ phận thanh tra, các phòng nghiệp vụ, song những vi phạm nghiêm trọng vẫn kéo dài trong nhiều năm. Phần lớn các sai phạm chỉ được phát hiện sau khi có tố cáo, mở rộng điều tra từ các vụ án hình sự, chứ không phải từ quá trình thanh tra nội bộ. Tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực tư pháp nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng là loại “tội phạm ẩn”, diễn ra tinh vi, kéo dài, dễ che giấu và khó chứng minh, do vậy, với thời gian thanh tra ngắn, phạm vi kiểm tra hẹp rất khó để nhận diện sai phạm.
Một số đơn vị Tòa án, Viện kiểm sát, cấp ủy, lãnh đạo chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời công tác thanh tra. Thậm chí, còn tồn tại có một số ý kiến cho rằng, không được thanh tra hoạt động xét xử để bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán. Thực tế, thanh tra không làm suy giảm mà góp phần bảo vệ tính độc lập xét xử, bảo đảm việc áp dụng pháp luật đúng đắn, ngăn ngừa can thiệp trái pháp luật; đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp.
3.2. Cơ chế kiểm soát bên ngoài
Một là, cơ chế kiểm sát trong tố tụng dân sự hiện nay chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của cải cách tư pháp và công cuộc chuyển đổi số.
Trong hoạt động tố tụng dân sự vẫn chưa có cơ chế bảo đảm để Viện kiểm sát nhân dân chủ động nắm bắt, quản lý và theo dõi số lượng thụ lý, tiến độ giải quyết các vụ, việc dân sự. Viện kiểm sát chỉ có thể nắm được thông tin một vụ việc khi Tòa án gửi thông báo thụ lý hoặc thông báo trả lại đơn khởi kiện hoặc khi nhận được đơn thư phản ánh, khiếu nại của công dân. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Kiểm sát viên chỉ có 15 ngày để nghiên cứu hồ sơ kể từ ngày nhận được hồ sơ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong khi có những hồ sơ phức tạp Thẩm phán xây dựng trong nhiều tháng, nhiều năm. Bên cạnh đó, khi ban hành một số quyết định tố tụng, như: đình chỉ, tạm đình chỉ hay công nhận thỏa thuận của các đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sự không bắt buộc Tòa án phải gửi kèm tài liệu, chứng cứ cho Viện kiểm sát nhân dân. Ví dụ, khi nhận được quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát phải gửi văn bản yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu kèm theo và chờ phản hồi mới tiến hành kiểm sát. Trong khi đó, thời hạn kháng nghị theo khoản 2 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự chỉ là 7 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp và 10 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên, kể từ ngày nhận quyết định, gây áp lực lớn về thời gian thực hiện quyền kháng nghị.
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng nhiệm vụ kiểm soát quyền lực tư pháp trong điều kiện mới. Quy trình kiểm sát hiện vẫn phụ thuộc vào việc giao, nhận hồ sơ thủ công, dẫn đến hạn chế về tiến độ, tính kịp thời và khả năng giám sát. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát mà còn khiến nhiều vi phạm chậm được phát hiện.
Mặc dù Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cho phép Viện kiểm sát thực quyền “trực tiếp kiểm sát” trong kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, tuy nhiên, trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành còn thiếu vắng cơ chế để thực hiện quyền năng này đối hoạt động của Tòa án trong tố tụng dân sự. Trong khi đó, cơ chế này vẫn xuất hiện trong công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự hành chính; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (tại Điều 13, 22, 25, 28, 30 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Hai là, còn nhiều hạn chế về kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự thông qua chế định Hội thẩm nhân dân.
Chế định về Hội thẩm nhân dân hiện nay nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, thuộc các lĩnh vực điều chỉnh khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định địa vị pháp lý cũng như thực thi quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm. Việc áp dụng mô hình Hội thẩm được bầu theo nhiệm kỳ cố định càng bộc lộ hạn chế khi Tòa án khó bổ sung kịp thời những người có chuyên môn phù hợp, làm giảm tính linh hoạt trước tốc độ phát triển và mức độ phức tạp ngày càng cao của các tranh chấp dân sự. Hệ quả là vai trò của Hội thẩm dễ bị hình thức hóa trong quá trình xét xử. Trong bối cảnh yêu cầu chuyên môn hóa ngày càng tăng, mô hình Hội thẩm cố định theo nhiệm kỳ chậm thích ứng và không còn bảo đảm hiệu quả tham gia của đại diện Nhân dân trong hoạt động tư pháp.
Ba là, bất cập trong việc kiểm tra, giám sát của HĐND đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.
Hoạt động giám sát chủ yếu dừng ở việc nghe báo cáo bằng văn bản, thiếu kiểm tra thực tế, dẫn đến kết quả giám sát chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tiễn. Công tác theo dõi sau giám sát chưa được chú trọng khiến nhiều kiến nghị, khuyến nghị chưa được tiếp thu, thực hiện nghiêm túc. Trong một số cơ quan Tòa án và Viện kiểm sát, kết quả giám sát của HĐND chưa được coi trọng đúng mức; nhiều kiến nghị, kết luận của HĐND vẫn chỉ dừng ở mức tham khảo, chưa tạo được tác động mạnh mẽ; việc triển khai, khắc phục các hạn chế được nêu trong báo cáo giám sát còn chậm, chưa được gắn với công tác đánh giá, xếp loại cán bộ.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 7 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Tuy nhiên, khi không tổ chức HĐND cấp huyện thì cũng sẽ không có các kỳ họp HĐND ở các nơi có Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân khu vực, do vậy, đại biểu HĐND cấp xã sẽ không có quyền chất vấn đối với Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực. Nếu thẩm quyền giám sát tiếp tục thuộc cấp tỉnh, việc bảo đảm thực thi pháp luật tại cơ sở sẽ thiếu sự giám sát trực tiếp.
Bốn là, tác động tiêu cực từ phía các đương sự trong tố tụng dân sự.
Thực tế hiện nay một bộ phận đương sự chưa nhận thức đúng đắn quyền và nghĩa vụ của mình. Không ít đương sự, vì mong muốn giành phần thắng trong vụ án đã chủ động tìm cách “móc nối”, “bôi trơn”, tác động tiêu cực đến những người tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, một số cán bộ, công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, do thiếu bản lĩnh chính trị hoặc sa sút phẩm chất đạo đức đã bị cuốn vào vòng xoáy lợi ích. Sự tương tác lợi ích không chính đáng giữa một bộ phận đương sự và người tiến hành tố tụng sẽ tạo thành những thói quen, tiền lệ xấu trong quá trình tố tụng.
4. Một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng dân sự hiện nay
4.1. Nâng cao chất lượng tự kiểm soát quyền lực trong nội bộ Tòa án và Viện kiểm sát các cấp
Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong kiểm soát quyền lực nội bộ. Gắn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác chuyên môn, coi đây là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Tiếp tục đổi mới chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát và Tòa án với phương châm “phòng ngừa từ sớm, từ xa”, tức là đẩy mạnh phát hiện, ngăn chặn nguy cơ vi phạm ngay từ khi mới manh nha. Cần mở rộng phạm vi kiểm tra, giám sát sang phương diện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên. Nghĩa là, việc thanh tra, kiểm tra không chỉ dừng lại ở hồ sơ, tài liệu nghiệp vụ mà còn phải chủ động nắm bắt thông tin nhiều chiều thông qua dư luận xã hội, phản ánh của người dân, cơ quan báo chí hoặc thông tin từ các tổ chức đảng, đoàn thể trong và ngoài ngành. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, nhạy cảm, như: tranh chấp đất đai, thừa kế, chia tài sản, hợp đồng dân sự…
4.2. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát bên ngoài
Thứ nhất, tăng cường hiệu quả của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự.
Cần đẩy mạnh chuyển đổi số đối với hoạt động kiểm sát trong tố tụng dân sự, theo đó xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa Tòa án và Viện kiểm sát. Thay vì phương thức giao nhận hồ sơ giấy thủ công tiềm ẩn nhiều rủi ro thất lạc và chậm trễ như hiện nay, liên ngành Tòa án, Viện kiểm sát cần thực hiện số hóa toàn bộ tài liệu, chứng cứ và các văn bản tố tụng để cập nhật lên hệ thống dữ liệu dùng chung. Khi đó, mọi hoạt động kiểm sát sẽ được thực hiện trên môi trường số hóa, cho phép kiểm sát viên tiếp cận hồ sơ và giám sát tiến độ giải quyết vụ án một cách tức thời. Cơ chế này không chỉ khắc phục triệt để bất cập về thời hạn nghiên cứu hồ sơ ngắn hay tình trạng Tòa án chậm gửi các quyết định tố tụng mà còn tăng cường tính minh bạch, giúp ngăn ngừa hiệu quả việc tẩy xóa, thay đổi tài liệu hoặc can thiệp trái pháp luật vào hồ sơ vụ án.
Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân theo hướng từng bước hoàn thiện cơ chế để Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện kiểm sát trực tiếp định kỳ hoặc đột xuất tại Tòa án cùng cấp, theo lộ trình phù hợp, trên cơ sở tổng kết thực tiễn và có thể thí điểm tại một số địa phương. Tuy nhiên, để bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử thì nội dung và phạm vi của hoạt động này phải được giới hạn nghiêm ngặt. Việc trực tiếp kiểm sát chỉ tập trung vào việc kiểm tra hệ thống sổ sách thụ lý, việc tuân thủ các thời hạn tố tụng bắt buộc như thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn hoãn, tạm đình chỉ vụ án, tính hợp pháp của quy trình tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng cũng như công tác thi hành án dân sự thuộc trách nhiệm của Tòa án… tách bạch hoàn toàn với việc xem xét nội dung vụ án, bảo đảm Viện kiểm sát có thể chủ động phát hiện và kiến nghị chấn chỉnh ngay các vi phạm về trình tự, thủ tục tố tụng.
Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng dân sự.
Trước hết, thay vì chỉ giới hạn Hội thẩm được bầu theo nhiệm kỳ cố định của HĐND như hiện nay, cần xây dựng cơ chế lựa chọn hội thẩm theo hướng mở và linh hoạt, bao gồm hai nguồn: Hội thẩm được bầu theo nhiệm kỳ và Hội thẩm theo vụ việc. Cơ chế này tạo sự phù hợp giữa tính chất vụ án với năng lực của Hội thẩm, đặc biệt đối với các vụ việc có yếu tố chuyên môn sâu, như: tranh chấp liên quan đến công nghệ cao, các hợp đồng có yếu tố nước ngoài, tranh chấp về sở hữu trí tuệ… Việc bổ sung chế định Hội thẩm theo vụ việc góp phần tăng tính linh hoạt, đáp ứng kịp thời tốc độ phát triển của các tranh chấp dân sự trong bối cảnh hiện nay. Theo đó, cần sửa đổi quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức quyền địa phương theo hướng: khi phát sinh vụ việc đặc thù, Tòa án có quyền đề xuất Thường trực HĐND thành lập Hội thẩm theo vụ việc sau khi tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn để bảo đảm tính đúng đắn và toàn diện của phán quyết. Ví dụ: Trong tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài, các vụ việc liên quan đến công nghệ cao, Tòa án có thể tham khảo ý kiến của Sở Ngoại vụ, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tư pháp… để lựa chọn người có chuyên môn phù hợp và đề xuất Thường trực HĐND thành lập Hội thẩm theo vụ việc. Đồng thời, cần nghiên cứu tách chế định Hội thẩm ra để xây dựng thành một luật riêng với nội dung đổi mới và hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xét xử tại Tòa án hiện hành để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế này6.
Thứ ba, đổi mới và nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND các cấp đối với hoạt động tư pháp.
Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về tiêu chí đánh giá giám sát của HĐND. Các tiêu chí này phải đánh giá hiệu quả một cách toàn diện từ hai phía: HĐND và đối tượng bị giám sát. Việc giám sát không chỉ dừng lại ở việc nghe báo cáo, đánh giá trên hồ sơ, số liệu mà phải chủ động nắm bắt tình hình thực tiễn tại cơ sở. Khi không còn tổ chức HĐND cấp huyện, HĐND cấp tỉnh cần tăng cường phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp tỉnh để tổ chức giám sát đối với các Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân khu vực, nhất là các vụ việc phức tạp, có đơn thư khiếu nại, tố cáo hoặc gây bức xúc trong dư luận. Chú trọng theo dõi kết quả sau giám sát; đồng thời, thể chế hóa trách nhiệm của lãnh đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện và báo cáo kết quả khắc phục theo kiến nghị của HĐND.
Thứ tư, đẩy mạnh phòng ngừa các tác động tiêu cực từ các đương sự trong tố tụng dân sự.
Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật và đạo đức xã hội giúp người dân nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khi tham gia tố tụng. Công tác này phải được triển khai thường xuyên và gắn với hoạt động của từng cơ quan. Đồng thời, cần khuyến khích, bảo vệ người dân phản ánh, tố cáo tiêu cực, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tổ chức có đóng góp tích cực. Các cơ quan cũng phải tăng cường tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, qua đó, nắm bắt kịp thời ý kiến, phát hiện và khắc phục sai phạm trong tố tụng dân sự.
Ngoài ra, cần mở rộng hơn nữa cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền giám sát quyền lực tư pháp, thông qua việc công khai bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cho phép phản hồi, kiến nghị trực tuyến về các sai sót, bất cập trong hoạt động tố tụng. Các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp cần được tạo điều kiện tiếp cận thông tin, giám sát độc lập và phản biện xã hội đối với hoạt động tư pháp.
5. Kết luận
Để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong tố tụng dân sự cần triển khai đồng bộ các giải pháp, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát quyền lực bên trong và bên ngoài. Đồng thời, phải nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng. Thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ ngăn ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, củng cố niềm tin của Nhân dân và khẳng định vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng trong bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân.
Chú thích:
1. Kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. https://tapchitoaan.vn/kiem-soat-quyen-luc-nha-nuoc-trong-hoat-dong-xet-xu-cua-toa-an-nhan-dan12862.html
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 217.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước trong công tác cán bộ và định hướng vận dụng hiện nay. https://lyluanchinhtri.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-kiem-soat-quyen-luc-nha-nuoc-trong-cong-tac-can-bo-va-dinh-huong-van-dung-hien-nay-6377.html.
4. Vai trò kiểm soát quyền lực tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. https://kiemsat.vn/vai-tro-kiem-soat-quyen-luc-tu-phap-cua-vien-kiem-sat-nhan-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-71059.html.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực trong công vụ và bài học kinh nghiệm cho phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/31/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-kiem-soat-quyen-luc-trong-cong-vu-va-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-phong-chong-tham-nhung-o-viet-nam-hien-nay.
6. Khắc phục hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. https://kiemsat.vn/khac-phuc-han-che-bat-cap-trong-thuc-tien-thi-hanh-luat-to-chuc-toa-an-nhan-dan-nam-2014-65198.html.



