Cơ sở lý luận và thực tiễn về “chính phủ linh hoạt” và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 31/3/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính phủ linh hoạt và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”. PGS. TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các Phân hiệu của Học viện.

Quang cảnh Hội thảo.

Đại biểu, khách mời tham dự Hội thảo, có: TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; TS. Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Hành chính Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; TS. Đinh Duy Hòa, nguyên Vụ trưởng Vụ cải cách hành chính, Bộ Nội vụ; TS. Hoàng Thị Ngân, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ; TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự – Hành chính, Bộ Tư pháp; TS. Hoàng Thị Hồng, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính; PGS.TS. Lê Minh Thông, nguyên trợ lý Chủ tịch Quốc hội; TS. Vũ Xuân Thanh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước và lao động; TS. Tạ Ngọc Hải, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ; ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển, nguyên Phó Giám đốc điều hành Học viện Hành chính Quốc gia (cũ); PGS.TS. Võ Kim Sơn, nguyên Trưởng khoa Tổ chức và quản lý nhân sự, Học viện Hành chính Quốc gia (cũ); TS. Phạm Văn Bộ, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng; TS. Nguyễn Thị Kim Chi, Phó trưởng Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện Chiến lược chuyển đổi số; TS. Khúc Văn Quý, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Lê Khánh Cường, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Bùi Nguyên Bảo, Giám đốc Trung tâm đào tạo kỹ năng KnB Enhance; TS. Dương Thúy Hằng, Đại học Tây Úc (dự trực tuyến).

Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công; TS. Hoàng Ngọc Hải, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc Học viện; cùng đông đảo cán bộ, giảng viên Học viện.

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện, phát biểu đề dẫn Hội thảo

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu và xây dựng mô hình “chính phủ linh hoạt” trong bối cảnh quản trị quốc gia hiện đại đang đối mặt với nhiều biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Vì vậy, Hội thảo được xác định là diễn đàn khoa học quan trọng để trao đổi, thảo luận cả về phương diện lý luận và thực tiễn của quản trị linh hoạt. Nội dung Hội thảo tập trung vào 3 nội dung trọng tâm: thống nhất nhận thức về khái niệm và đặc trưng của mô hình “chính phủ linh hoạt”; đánh giá thực tiễn triển khai tại Việt Nam để chỉ ra những kết quả bước đầu, những hạn chế, vướng mắc và các vấn đề đang đặt ra trong tổ chức bộ máy, hoạch định, thực thi chính sách; đồng thời, gợi mở các hàm ý chính sách phù hợp với điều kiện quốc gia.

Thông qua việc đặt ra hệ thống câu hỏi gợi mở toàn diện, ông định hướng thảo luận theo hướng tiếp cận đa chiều, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn; đồng thời, mong đợi các đại biểu sẽ có những trao đổi thẳng thắn, sâu sắc, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất các giải pháp, chính sách thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và hiệu quả tham mưu, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định và thực thi chính sách ở Việt Nam trong thời gian tới.

TS. Đinh Duy Hòa, nguyên Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ, tham luận tại Hội thảo

Trong phiên thảo luận 1, các đại biểu trao đổi về chủ đề: Mô hình “chính phủ linh hoạt” cách tiếp cận, nội hàm và đặc trưng. Từ góc độ lý luận, TS. Đinh Duy Hòa, cho rằng, việc xây dựng “chính phủ linh hoạt” không chỉ dừng lại ở việc thay đổi mô hình tổ chức hay khẩu hiệu chính sách mà trước hết phải là sự chuyển đổi sâu sắc về tư duy quản trị, thể chế và cách thức vận hành của bộ máy nhà nước. Theo đó, “linh hoạt” cần được hiểu như năng lực thích ứng của hệ thống quản trị trước những biến động nhanh của thực tiễn, đòi hỏi bộ máy phải giảm tính cứng nhắc, nâng cao khả năng phản ứng chính sách kịp thời; đồng thời, thiết kế thể chế theo hướng mở, cho phép thử nghiệm, điều chỉnh và học hỏi liên tục. Bên cạnh đó, đội ngũ công chức cũng cần chuyển từ tư duy hành chính thuần túy sang tư duy phục vụ và đổi mới sáng tạo. Ông cũng chỉ ra rằng, thách thức lớn hiện nay không nằm ở việc thiếu mô hình hay kinh nghiệm mà chủ yếu đến từ các rào cản nội tại, như: thể chế chồng chéo, văn hóa quản lý còn nặng tính an toàn và hạn chế trong năng lực thực thi. Vì vậy, để xây dựng chính phủ linh hoạt, cần tiến hành cải cách đồng bộ, có trọng tâm, đặc biệt là cải cách thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Khiển, nguyên Phó Giám đốc điều hành Học viện Hành chính Quốc gia (cũ), tham luận tại Hội thảo.

Trong tham luận “Cơ sở lý luận trong nhận thức về chính phủ linh hoạt trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay”, PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển tập trung làm rõ bản chất cốt lõi của “chính phủ linh hoạt” không chỉ đơn thuần là khả năng phản ứng nhanh mà là năng lực thích ứng sáng tạo trước những tình huống phát sinh từ thực tiễn. Ông cho rằng, sự linh hoạt của Chính phủ xuất phát từ yêu cầu xử lý các vấn đề ngoài khuôn khổ quy định sẵn có, đòi hỏi chủ thể quản lý phải tìm ra giải pháp phù hợp trong điều kiện bị ràng buộc về thẩm quyền và pháp lý. Đồng thời, linh hoạt phải gắn với trách nhiệm xã hội, thể hiện ở sự dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung nhưng không được vi phạm các nguyên tắc pháp luật hay gây hệ lụy tiêu cực. Với đặc thù là cơ quan hành pháp trực tiếp điều hành đời sống xã hội luôn biến động và phức tạp, ông nhấn mạnh, tính linh hoạt không chỉ là một yêu cầu mà còn là thuộc tính bản chất, cần được duy trì thường xuyên trong hoạt động của Chính phủ.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, tham luận tại Hội thảo

Tại Hội thảo, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh tính tất yếu và khẳng định “Chính phủ linh hoạt không còn là một lựa chọn đơn thuần mà là điều kiện bắt buộc để tồn tại và phát triển trong bối cảnh hiện nay”. Yêu cầu này xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: (1) Tốc độ biến đổi nhanh của công nghệ, những biến động chính trị và cạnh tranh giữa các quốc gia; (2) Sự phát triển ngày càng đa dạng của xã hội, kéo theo các quan hệ lợi ích phức tạp hơn nhiều so với trước. Trong bối cảnh đó, chính phủ linh hoạt cần có khả năng nhận diện sớm vấn đề, phản ứng nhanh và điều chỉnh kịp thời dựa trên dữ liệu và thực tiễn. Điều này được thể hiện qua 3 năng lực cốt lõi: (1) Nhạy bén trước các tín hiệu thay đổi; (2) Phản ứng chính sách nhanh; (3) Liên tục hoàn thiện chính sách trong quá trình thực thi. Ông nhấn mạnh thêm, linh hoạt không đồng nghĩa với phá vỡ quy tắc mà là thiết kế quy tắc theo hướng thích ứng. Trọng tâm là chuyển từ cách quản lý bằng các quy định chi tiết sang xây dựng khung pháp lý mang tính định hướng. Để hiện thực hóa điều đó, cần bảo đảm bốn điều kiện: thể chế cho phép thích ứng; phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và trách nhiệm; lấy dữ liệu làm nền tảng cho quyết định; bảo vệ, khuyến khích những người dám đổi mới, dám thử nghiệm. Trong một thế giới đầy biến động, một chính phủ hiệu quả là chính phủ có khả năng thích ứng nhanh, không chỉ hành động kịp thời mà quan trọng hơn là hành động đúng.

TS. Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học hành chính Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Phiên thảo luận 1 cũng nhận được nhiều ý kiến chia sẻ của các đại biểu, nhà khoa học. Các đại biểu thống nhất cho rằng: (1) Chính phủ linh hoạt không phải là một mô hình tổ chức mới mà chủ yếu là một phương thức hoạt động và năng lực quản trị của chính phủ; linh hoạt phải được hiểu như một giá trị, một đặc tính trong vận hành, không tách rời khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; (2) Bản chất của chính phủ linh hoạt là khả năng thích ứng nhanh với biến động, bao gồm: phản ứng kịp thời với thay đổi của môi trường, điều chỉnh chính sách linh hoạt và tổ chức thực thi hiệu quả. Điều này gắn với yêu cầu chuyển từ quản lý sang quản trị, từ bị động sang chủ động kiến tạo; (3) Nhấn mạnh sự linh hoạt không đồng nghĩa với tùy tiện mà phải đặt trong khuôn khổ pháp lý phù hợp. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy quy định cứng sang thiết kế khung pháp lý mở, tạo không gian cho thử nghiệm, đổi mới nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực; (4) Để hiện thực hóa chính phủ linh hoạt cần có những điều kiện nền tảng, như: hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng; phát triển dữ liệu và chuyển đổi số; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; và xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà nước với khu vực tư và xã hội; (5) Tính linh hoạt phải được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống, từ trung ương đến địa phương, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực thi. Nếu chỉ linh hoạt ở một cấp hoặc một khâu thì không thể tạo ra hiệu quả thực chất; (6) Mục tiêu của chính phủ linh hoạt là phục vụ tốt hơn các nhu cầu đa dạng, ngày càng phức tạp của xã hội, hướng tới hiệu quả, thích ứng và phát triển bền vững trong bối cảnh biến động nhanh của thế giới hiện nay.

ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, tham luận

Trong Phiên thảo luận 2, các đại biểu trao đổi, làm rõ chủ đề “Thực tiễn quản trị linh hoạt theo mô hình “chính phủ linh hoạt” tại một số lĩnh vực, ngành, địa phương và những vấn đề đặt ra”. Từ góc độ thực tiễn, ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy đã đưa ra các đánh giá quan trọng về mô hình “chính phủ linh hoạt” trong phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam”. Bà cho rằng, việc chuyển đổi từ mô hình quản trị truyền thống sang mô hình chính phủ linh hoạt là để tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế đang kìm hãm sức sáng tạo và tốc độ phản ứng của doanh nghiệp. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động (VUCA), hệ thống quản trị hiện tại của Việt Nam vẫn mang đậm dấu ấn tuyến tính, nặng về “tiền kiểm” và thiếu các cơ chế thử nghiệm pháp lý như Sandbox, dẫn đến sự phân mảnh quyền lực và gây khó khăn cho năng lực hấp thụ công nghệ của khu vực tư nhân. Vì vậy, bà nhấn mạnh, bản chất của chính phủ linh hoạt là sự dịch chuyển từ tư duy “thiết kế hoàn chỉnh trước – triển khai sau” sang quy trình “thử nghiệm – điều chỉnh – mở rộng”, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo cốt lõi.

Để thực hiện bước chuyển mình này, bà Thủy đề xuất các giải pháp đột phá, như: thể chế hóa cơ chế “trao quyền” và “ủy quyền có kiểm soát”, chuyển mạnh sang tư duy quản trị dựa trên niềm tin và cơ chế “hậu kiểm”. Đồng thời, Nhà nước cần đóng vai trò “đồng kiến tạo” chính sách cùng doanh nghiệp, luật hóa cơ chế Sandbox trên diện rộng và ứng dụng quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực để chuẩn hóa hành trình thủ tục. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống quản trị thích ứng, minh bạch, giúp tối ưu hóa chi phí thời gian và tạo bệ phóng vững chắc cho các mô hình kinh doanh mới trong nền kinh tế xanh và kinh tế số.

Với tham luận “Thử nghiệm thể chế: từ cơ sở lý luận đến mô hình thực tiễn”, TS. Hoàng Thị Hồng, cho rằng, việc xây dựng “chính phủ linh hoạt” ở Việt Nam cần được đặt trên nền tảng đổi mới thể chế và áp dụng các tư duy quản trị hiện đại, đặc biệt là quản trị đa tâm và quản trị thích ứng. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết, như: kinh tế học thể chế mới (nhấn mạnh vai trò của “luật chơi” và giảm chi phí giao dịch), quản trị đa tâm của Elinor Ostrom và quản trị thích ứng, bà nhấn mạnh: một mô hình quản trị hiệu quả không thể dựa vào một trung tâm quyền lực duy nhất hay các quy tắc cứng nhắc mà cần một hệ thống nhiều trung tâm ra quyết định, có sự phối hợp linh hoạt, cho phép thử nghiệm và học hỏi liên tục; chính sách cần được coi như một quá trình thử nghiệm, điều chỉnh liên tục thay vì áp dụng một lần cố định. Để đạt được điều này, theo bà, cần trao quyền nhiều hơn cho các chủ thể ở cấp cơ sở, tăng cường cơ chế tự tổ chức, giám sát và xử lý xung đột hiệu quả.

Về vấn đề hoạch định, thực thi và điều chỉnh chính sách đối ngoại trong mô hình “chính phủ linh hoạt” – tiếp cận từ thực tiễn Việt Nam, TS. Bùi Nguyên Bảo cho rằng, trong mô hình “chính phủ linh hoạt”, năng lực điều chỉnh chính sách đối ngoại chính là yếu tố trung tâm, quyết định hiệu quả quản trị trong bối cảnh quốc tế biến động, bất định và phức tạp. Ông nhấn mạnh, chính sách đối ngoại không còn là một quá trình tĩnh mà là một chu trình động gồm: hoạch định, thực thi, điều chỉnh; trong đó điều chỉnh giữ vai trò cốt lõi vì phản ánh trực tiếp khả năng thích ứng của nhà nước. Từ thực tiễn Việt Nam, ông chỉ ra rằng, dù đất nước có truyền thống đối ngoại linh hoạt (như tư duy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”) nhưng sự linh hoạt này vẫn chủ yếu mang tính kinh nghiệm, chưa được thể chế hóa thành một năng lực có cấu trúc. Do đó, cần xây dựng khung năng lực điều chỉnh gồm: dự báo, xây dựng kịch bản, phối hợp liên ngành, phản ứng nhanh và học hỏi chính sách, qua đó nâng cao hiệu quả hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại trong bối cảnh mới.

TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công

Phiên thảo luận 2 cũng nhận được nhiều ý kiến chia sẻ của các chuyên gia, nhà khoa học. Các ý kiến tập trung làm rõ những điều kiện nền tảng và nguyên tắc bảo đảm để hiện thực hóa mô hình “chính phủ linh hoạt” trong thực tiễn, như: (1) Coi “linh hoạt” là thuộc tính tất yếu của mọi chính phủ, thể hiện ở khả năng thích ứng thường xuyên, phản ứng kịp thời trước biến động và xử lý hiệu quả các tình huống khẩn cấp như đại dịch. Để thực hiện, cần cụ thể hóa qua thẩm quyền, quy trình, cơ chế phối hợp đồng bộ và xây dựng văn hóa “dám sai có trách nhiệm”, đi kèm bảo đảm an toàn pháp lý cho người thực thi; (2) Nhấn mạnh hai cấp độ linh hoạt là khả năng khai mở nhanh và tinh chỉnh hiệu quả. Điều kiện nền tảng là thể chế thích ứng và hạ tầng dữ liệu, trong khi yếu tố quyết định nằm ở con người, văn hóa sáng tạo và giáo dục; (3) Khẳng định sự linh hoạt phải đặt trong khuôn khổ pháp quyền, gắn với phân cấp, hoàn thiện pháp luật và tạo hành lang an toàn để cán bộ yên tâm đổi mới vì lợi ích chung.

Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Dương Thúy Hằng đã trình bày tham luận về kinh nghiệm quản trị linh hoạt của Australia trong đại dịch Covid-19. Điểm nhấn trong mô hình của Australia là khả năng tối ưu hóa dữ liệu thời gian thực và sự đồng thuận của hội đồng chuyên gia để đưa ra các quyết định chính sách thích ứng. Bà khẳng định, việc Australia sử dụng các sắc lệnh khẩn cấp có thời hạn cho thấy một năng lực quản trị đặc trưng – “linh hoạt cấu trúc” – tức là tạm thời thay đổi phương thức vận hành để giải quyết khủng hoảng mà vẫn bảo đảm nền tảng pháp quyền. Bà nhấn mạnh, Việt Nam cần học hỏi tư duy ra quyết định dựa trên bằng chứng và sớm luật hóa cơ chế Sandbox để tăng cường năng lực chống chịu trước những biến động phức tạp trong tương lai. Cùng chia sẻ quan điểm về việc thiết lập các không gian thử nghiệm chính sách, TS. Phạm Văn Bộ đã nhấn mạnh bài học từ Trung Quốc thông qua chiến lược chuyển đổi mô hình quản trị tại địa phương. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu rủi ro hệ thống và tạo không gian cho sự đổi mới sáng tạo từ cơ sở. Bên cạnh đó, TS. Phạm Văn Bộ cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa vai trò định hướng của Nhà nước với sự năng động của cơ chế thị trường, đặc biệt là việc thúc đẩy quản trị số và chấn hưng nông thôn. Ông cho rằng, Việt Nam có thể vận dụng cách thức thể chế hóa sự thử nghiệm và tận dụng quản trị số để xây dựng một Chính phủ linh hoạt, vừa có khả năng kiểm soát vừa có không gian cho đổi mới sáng tạo.

Kết luận Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến cảm ơn các nhà khoa học. Ông khẳng định, thành công lớn nhất của Hội thảo là đã gợi mở được những luận điểm mới, thể hiện tầm nhìn đa chiều và hàm chứa giá trị khoa học cao; đồng thời, đúc kết nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý báu xoay quanh mô hình chính phủ linh hoạt. Đây là nguồn dữ liệu khoa học và thực tiễn có giá trị, không chỉ góp phần làm giàu cơ sở lý luận về quản trị nhà nước mà còn cung cấp luận cứ quan trọng cho Học viện trong việc tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng và tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia trong bối cảnh hiện nay.”

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Nguyễn Thùy – Khánh Huyền