Assessment of the investment environment in the southeast region from the perspective of Japanese and Korean foreign direct investment enterprises
ThS. Vũ Hồng Nhung
Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vùng Đông Nam Bộ của Việt Nam nổi lên như một điểm đến hấp dẫn cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Trên cơ sở khảo sát 121 doanh nghiệp FDI Nhật Bản và Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, môi trường đầu tư vùng Đông Nam Bộ được đánh giá tích cực về hạ tầng và nhân lực, nhưng tồn tại hạn chế về minh bạch chính sách và chi phí lao động. Bài viết đề xuất các giải pháp cải thiện để nâng cao sức hấp dẫn, góp phần thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW về thu hút FDI chất lượng cao đến năm 2030.
Từ khóa: Môi trường đầu tư; đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); vùng Đông Nam Bộ; Nhật Bản; Hàn Quốc.
Abstract: In the context of international economic integration, Vietnam’s Southeast region has emerged as an attractive destination for foreign direct investment (FDI), particularly for enterprises from Japan and South Korea. Based on a survey of 121 Japanese and Korean FDI enterprises in Ho Chi Minh City, the findings indicate that the region’s investment environment is positively evaluated in terms of infrastructure and human resources, while limitations remain regarding policy transparency and labor costs. The paper proposes several measures to enhance the region’s investment invironment attractiveness, thereby contributing to the implementation of Resolution No. 50-NQ/TW on attracting high-quality FDI by 2030.
Keywords: Investment environment; foreign direct investment (FDI); Southeast region; Japan; South Korea.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sau 40 năm đổi mới, với tổng vốn đăng ký lũy kế đạt khoảng 480 tỷ USD tính đến tháng 9/2025 và vốn thực hiện khoảng 280 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký mới đạt 26,14 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm 20241. Trong số các nhà đầu tư, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai đối tác hàng đầu từ châu Á, chiếm khoảng 25 – 30% tổng vốn FDI lũy kế vào Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với 94 tỷ USD và hơn 10.200 dự án, trong khi Nhật Bản xếp thứ ba với 78,28 tỷ USD và 5.512 dự án2.
Hiện này, vùng Đông Nam Bộ gồm: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh. FDI của vùng giai đoạn 2015 – 2024, chiếm 35 – 40% tổng vốn FDI toàn quốc nhờ lợi thế vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bài viết đánh giá môi trường đầu tư vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2015 – 2024 dựa trên khảo sát 121 doanh nghiệp FDI Nhật Bản và Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh nhằm làm rõ các nhân tố thuận lợi và hạn chế, từ đó, đề xuất định hướng nâng cao môi trường đầu tư FDI tại Việt Nam.
2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản và Hàn Quốc tại vùng Đông Nam Bộ
2.1. Quy mô vốn đầu tư trực tiếp FDI Hàn Quốc và Nhật Bản vào vùng Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao, bởi nơi đây có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên cũng như khả năng cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án. Đặc biệt, vùng Đông Nam Bộ có khả năng đáp ứng hầu hết các nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại cho doanh nghiệp trên các phương thức đường biển, đường bộ, đường thủy, hàng không. Ngoài những lợi thế tự nhiên, các tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ còn có sự chủ động liên kết xây dựng môi trường đầu tư thông qua việc đầu tư, cải tạo, nâng cấp đồng bộ hệ thống giao thông, đơn giản hóa các thủ tục hành chính và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để cung ứng cho các nhà đầu tư.
Theo thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đến hết tháng 10/2024, tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần FDI vào Việt Nam đạt trên 27,2 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 20233. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai đối tác lớn nhất đầu tư vào khu vực này cả số lượng dự án lẫn số vốn đầu tư, điều này được thể hiện khá rõ nét trong bảng số liệu về quy mô vốn và số dự án.
Bảng 1. Vốn FDI của Hàn Quốc và Nhật Bản vào vùng Đông Nam Bộ năm 2015 và 2024
| Đối tác | Năm 2015 | Năm 2024 | ||||
| Số dự án | Vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ (%) | Số dự án | Vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ (%) | |
| Hàn Quốc | 218 | 1.193,71 | 11,2 | 163 | 3.249,79 | 33,0 |
| Nhật Bản | 136 | 595,59 | 5,6 | 153 | 903,69 | 9,2 |
| Các nước khác | 623 | 8.895,88 | 83,2 | 1,518 | 5.697,35 | 57,8 |
| Tổng cộng | 977 | 10.685,18 | 100,0 | 1.834 | 9.850,83 | 100,0 |
Bảng 1 cho thấy, số dự án mà Hàn Quốc đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ trong 10 năm (2015 – 2024) tuy có giảm nhẹ, nhưng số vốn đăng ký đầu tư tăng lên khá nhanh với mức tăng khoảng 2,72 lần. Tổng số vốn đăng ký đầu tư mới của Nhật Bản tăng lên khoảng 1,51 lần, tăng cả số lượng dự án lẫn tổng số vốn đăng ký đầu tư mới. Năm 2015, tổng số vốn đăng ký đầu tư của Hàn Quốc và Nhật Bản vào vùng Đông Nam Bộ chiếm khoảng 16,8% thì đến năm 2024, tổng số vốn đăng ký đầu tư mới tăng lên 42,2%.
Từ kết quả trên cho thấy, Hàn Quốc và Nhật Bản là hai đối tác chiến lược có số lượng vốn đăng ký đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ lớn nhất. Mức độ đầu tư của Hàn Quốc và Nhật Bản không chỉ thể hiện các dự án tăng lên mà còn thể hiện số vốn đăng ký đầu tư mới. Điều này cho thấy, Hàn Quốc và Nhật Bản đều xem vùng Đông Nam Bộ là khu vực chiến lược và có nhiều điều kiện thuận lợi để đầu tư.
2.2. Cơ cấu vốn FDI Hàn Quốc và Nhật Bản vào vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2015 – 2024
(1) Cơ cấu vốn FDI của Hàn Quốc.
Cơ cấu vốn của Hàn Quốc vào vùng Đông Nam Bộ đều tăng lên tất cả các ngành, nghề sau 10 năm4, trong đó có những nhóm ngành tăng rất nhanh cả về số dự án và tổng số vốn đăng ký đầu tư mới, có những lĩnh vực không tăng nhanh số dự án nhưng số vốn đầu tư vẫn tiếp tục tăng lên.
Bảng 2. Cơ cấu vốn FDI của Hàn Quốc vào vùng Đông Nam Bộ năm 2015 và 2024 theo ngành, nghề kinh doanh
| Năm 2015 | Năm 2024 | |||||
| Số dự án | Tổng số vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ | Số dự án | Tổng số vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ | |
| Công nghiệp chế biến, chế tạo | 118 | 1.014,28 | 84,97 | 17 | 2.309,05 | 71,05 |
| Hoạt động kinh doanh bất động sản | 48 | 17,00 | 1,42 | 1 | 80,12 | 2,47 |
| Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy | 134 | 44,19 | 3,70 | 86 | 334,21 | 10,28 |
| Hoạt động chuyên môn, khoa học – công nghệ | 103 | 50,01 | 4,19 | 28 | 325,52 | 10,02 |
| Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa | 4 | 31,40 | 2,63 | 1 | 0,61 | 0,02 |
| Các ngành khác | 447 | 36,83 | 3,09 | 3 | 200,28 | 6,16 |
| Tổng | 854 | 1.193,71 | 100,00 | 163 | 3.249,79 | 100,00 |
Phân tích mức độ tăng trưởng vốn FDI của Hàn Quốc theo từng nhóm ngành cho thấy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất trong giai đoạn 2015 – 2024 dù số lượng dự án có giảm xuống, nhưng tổng số vốn đăng ký đầu tư đang có chiều hướng tăng nhanh với khoảng 2,27 lần. Đặc biệt, nhóm ngành của nhóm ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy thì số vốn đăng ký tăng cao nhất khoảng 7,56 lần và nhóm ngành khoa học – công nghệ cũng có số vốn đăng ký đầu tư tăng lên khoảng 6,5 lần. Ngược lại, nhóm ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa giảm là nhóm ngành có mức đầu tư giảm nhanh nhất với mức giảm đến 51,47 lần.
(2) Cơ cấu vốn FDI của Nhật Bản
Nhật Bản là đối tác chiếm vị trí thứ hai có số lượng dự án và số vốn đăng ký đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2015 – 2024. Trong đó, có những nhóm ngành có tỷ lệ số vốn tăng nhanh đáng kể và chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu vốn FDI mà Nhật Bản đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ.
Bảng 3. Cơ cấu vốn FDI của Nhật Bản vào vùng Đông Nam Bộ năm 2015, 2024 theo ngành, nghề kinh doanh
| Năm 2015 | Năm 2024 | |||||
| Số dự án | Tổng số vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ (%) | Số dự án | Tổng số vốn đăng ký (triệu USD) | Tỷ lệ (%) | |
| Công nghiệp chế biến, chế tạo | 40 | 425,54 | 71,45 | 24 | 467,50 | 51,73 |
| Hoạt động kinh doanh bất động sản | 4 | 40,84 | 6,86 | 2 | 155,39 | 17,20 |
| Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy | 26 | 69,28 | 11,63 | 48 | 177,04 | 19,59 |
| Hoạt động chuyên môn, khoa học – công nghệ | 27 | 7,56 | 1,27 | 33 | 37,87 | 4,19 |
| Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa | 1 | 0,15 | 0,03 | – | 0,21 | 0,02 |
| Các ngành khác | 38 | 52,22 | 8,76 | 46 | 65,68 | 7,27 |
| Tổng | 136 | 595,59 | 100,00 | 153 | 903,69 | 100,00 |
Bảng 3 cho thấy, nhóm ngành thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất và đang có xu hướng giảm số lượng dự án và số vốn tăng nhưng không bằng các ngành khác. Đứng vị trí thứ hai là nhóm ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng nhanh cả về số lượng dự án lẫn số vốn đăng ký đầu tư. Tính trong giai đoạn 2015 – 2024, tổng số vốn đăng ký đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản vào lĩnh vực này ở vùng Đông Nam Bộ tăng lên khoảng 2,55 lần. Tiếp đến là nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản tăng lên khoảng 3,8 lần, đây là lĩnh vực có số lượng vốn mà các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ tăng cao nhất trong gần 10 năm qua.
Từ kết quả phân tích cho thấy, số vốn FDI mà các doanh nghiệp của Hàn Quốc và Nhật Bản đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2015 – 2024 phần lớn rơi vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm hơn 70%, tiếp đến là nhóm ngành kinh doanh bất động sản xấp xỉ 10% và các nhóm ngành, như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; hoạt động chuyên môn, khoa học – công nghệ; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa dao động từ 5 – 7%5. Đặc biệt, trong các nhóm ngành đầu tư thì nhóm ngành hoạt động chuyên môn, khoa học – công nghệ có mức độ tăng trưởng khá cao. Điều này giúp cho người lao động, các doanh nghiệp liên kết của Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm và khả năng ứng dụng các kiến thức, kỹ năng và công nghệ vào trong sản xuất.
3. Đánh giá các nhân tố môi trường đầu tư thông qua khảo sát
Kết quả Cronbach’s Alpha cho thấy, thang đo đáng tin cậy (α >0.7). EFA rút gọn 22 biến quan sát thành 5 nhóm nhân tố: F1 (tiềm năng thị trường), F2 (chính sách thu hút), F3 (chất lượng nguồn nhân lực), F4 (cơ sở hạ tầng), F5 (lợi thế môi trường đầu tư), giải thích 68,5% phương sai.
Mô hình hồi quy (R²=0.452, Sig.<0.05) cho thấy, F2 (β=0.206, p=0.039), F3 (β=0.090, p=0.003) và F4 (β=0.037, p=0.016) tác động thuận chiều, chứng tỏ doanh nghiệp đánh giá cao chính sách, nhân lực và hạ tầng. Ngược lại, F1 (β=-0.225, p=0.014) và F5 (β=-0.131, p=0.019) tác động nghịch, phản ánh FDI định hướng xuất khẩu hơn thị trường nội địa và chi phí lao động không còn là lợi thế (cao hơn Indonesia, Campuchia).
Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy, môi trường đầu tư vùng Đông Nam Bộ được doanh nghiệp FDI Nhật Bản và Hàn Quốc nhìn nhận thông qua 5 nhóm yếu tố chính, trong đó cả 5 yếu tố đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (Sig. < 0,05). Điều này cho thấy, các thành phần cấu thành môi trường đầu tư của vùng đều có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định duy trì và mở rộng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Trong số đó, 3 nhóm yếu tố được đánh giá tác động thuận chiều, phản ánh những điểm mạnh cốt lõi của môi trường đầu tư vùng, bao gồm: chính sách thu hút đầu tư; chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng. Ngược lại, hai yếu tố tiềm năng thị trường và lợi thế môi trường đầu tư lại có tác động nghịch chiều cho thấy, các doanh nghiệp không xem đây là động lực chính trong quyết định đầu tư.
(1) Chính sách thu hút đầu tư.
Kết quả hồi quy cho thấy, chính sách thu hút đầu tư có tác động mạnh nhất (β = 0,206; Sig. = 0,039). Điều này phản ánh rõ đánh giá tích cực của doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc đối với môi trường thể chế tại vùng Đông Nam Bộ.
Các biến quan sát, như: tính minh bạch của hệ thống pháp luật, sự thống nhất chính sách từ trung ương đến địa phương, mức độ phù hợp với thông lệ quốc tế và việc thực hiện cam kết quốc tế được doanh nghiệp đánh giá cao. Điều này cho thấy, yếu tố “ổn định và dự đoán được” của chính sách đóng vai trò then chốt, đặc biệt đối với nhà đầu tư Nhật Bản – nhóm doanh nghiệp vốn coi trọng chiến lược dài hạn và tính an toàn pháp lý.
Việc triển khai các nghị quyết phát triển vùng, như: Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng, xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 07/10/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào định hướng phát triển dài hạn của khu vực. Dưới góc nhìn doanh nghiệp FDI, vùng Đông Nam Bộ được đánh giá là khu vực có mức độ cam kết chính sách và tính thực thi cao hơn so với nhiều địa phương khác.
(2) Chất lượng nguồn nhân lực.
Nhân tố chất lượng nguồn nhân lực có tác động thuận chiều (β = 0,090; Sig. = 0,003), phản ánh sự hài lòng tương đối của doanh nghiệp đối với khả năng cung ứng lao động của vùng.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo tại vùng Đông Nam Bộ thuộc nhóm cao nhất cả nước, riêng TP. Hồ Chí Minh có tỷ lệ lao động kỹ thuật cao và khả năng thích ứng công nghệ tốt. Doanh nghiệp đánh giá tích cực về mức độ sẵn có của lao động kỹ thuật, tác phong làm việc và khả năng gắn bó với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng cho thấy, xu hướng chi phí lao động tăng và thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong một số ngành công nghệ chuyên sâu. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ lợi thế “lao động dồi dào” sang “lao động chất lượng cao” để duy trì sức hấp dẫn đầu tư.
(3) Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng có tác động tích cực (β = 0,037; Sig. = 0,016) cho thấy, doanh nghiệp đánh giá cao vị thế địa kinh tế và hệ thống kết cấu hạ tầng của vùng.
Vùng Đông Nam Bộ sở hữu mạng lưới giao thông chiến lược gồm hệ thống cảng biển Cái Mép – Thị Vải, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và sắp tới là sân bay Long Thành, cùng các tuyến cao tốc liên vùng. Hệ thống khu công nghiệp và dịch vụ logistics phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, mức độ phát triển công nghiệp hỗ trợ nội địa vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc, khiến nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguồn cung linh kiện nhập khẩu.
(4) Tiềm năng thị trường.
Kết quả cho thấy, nhân tố tiềm năng thị trường có tác động nghịch chiều (β = -0,225; Sig. = 0,014). Điều này phản ánh thực tế rằng, doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc không xem thị trường nội địa là mục tiêu chính khi đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ.
Phần lớn dự án FDI mang tính chất sản xuất định hướng xuất khẩu. Việt Nam và vùng Đông Nam Bộ được xem như cứ điểm sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn cầu hơn là thị trường tiêu thụ cuối cùng. Như vậy, yếu tố quy mô thị trường nội địa tuy quan trọng ở cấp độ vĩ mô nhưng không phải là động lực cốt lõi đối với nhóm nhà đầu tư này.
(5) Lợi thế môi trường đầu tư.
Nhân tố lợi thế môi trường đầu tư cũng có tác động nghịch chiều (β = -0,131; Sig. = 0,019). Các yếu tố, như: chi phí lao động rẻ, môi trường sống thuận lợi cho chuyên gia nước ngoài, ổn định xã hội… không còn được đánh giá là lợi thế nổi trội. So với một số quốc gia trong khu vực, như: Indonesia, Bangladesh, Lào hay Campuchia, chi phí lao động tại Việt Nam không còn ở mức thấp. Bên cạnh đó, các vấn đề về hạ tầng đô thị, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và chính sách ưu đãi cho chuyên gia nước ngoài vẫn còn hạn chế.
4. Một số khuyến nghị
Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách thu hút đầu tư.
Nhân tố chính sách thu hút đầu tư (F2) có tác động mạnh nhất với β = 0,206 (p < 0,05), nhưng khảo sát cho thấy, doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn lo ngại về tính minh bạch và thủ tục hành chính kéo dài. Để khắc phục, cần tập trung vào việc xây dựng cơ chế liên kết vùng đồng bộ, tránh tình trạng “cát cứ” giữa các địa phương. Cụ thể:
(1) Triển khai mô hình “một cửa liên vùng” cho thủ tục FDI. Sử dụng nền tảng chính quyền số để rút ngắn thời gian cấp phép từ 30 – 45 ngày, xuống dưới 15 ngày.
(2) Cập nhật và công khai các chính sách ưu đãi FDI xanh và công nghệ cao, như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thêm 5 – 10% cho dự án R&D từ Nhật Bản và Hàn Quốc, phù hợp với cam kết quốc tế (CPTPP, EVFTA). Tăng tỷ lệ hài lòng của doanh nghiệp FDI từ 70% (theo báo cáo PAPI 2024) lên 85% vào năm 2028.
(3) Tăng cường đối thoại định kỳ (hằng quý) với Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản (JETRO) và Hàn Quốc (KOTRA) để thu thập phản hồi, bảo đảm chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hai là, đầu tư hạ tầng logistics và công nghệ.
(1) Ưu tiên hoàn thành các dự án chiến lược, như: sân bay Long Thành và mở rộng cảng Cái Mép – Thị Vải để tăng công suất logistics lên 20 – 30%.
(2) Phát triển hạ tầng số và năng lượng tái tạo, như: xây dựng trung tâm dữ liệu tại Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh để hỗ trợ chuyển đổi số, thu hút FDI công nghệ cao từ Công ty Samsung và Panasonic. Giảm chi phí logistics xuống dưới 10% chi phí sản xuất vào năm 2030, theo dõi qua báo cáo hằng năm của UNCTAD và GSO.
(3) Khuyến khích hợp tác công – tư (PPP) với doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc để đầu tư hạ tầng xanh, như: hệ thống năng lượng mặt trời cho khu công nghiệp. Tăng tỷ lệ dự án FDI công nghệ cao từ 15% hiện nay lên 30%, giảm rủi ro chuỗi cung ứng hậu Covid-19 và nâng cao vị thế cạnh tranh so với các nước ASEAN, như: Indonesia hay Thái Lan.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực (F3) có tác động thuận chiều với β = 0,090 (p < 0,05), nhưng tỷ lệ lao động bậc cao chưa đáp ứng nhu cầu FDI thế hệ mới. Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc đánh giá cao lực lượng lao động trẻ nhưng cần tập trung vào:
(1) Mở rộng chương trình đào tạo liên kết với doanh nghiệp, như: hợp tác với JETRO và KOTRA để xây dựng trung tâm đào tạo kỹ thuật cao tại TP. Hồ Chí Minh, tập trung vào AI, tự động hóa và ngôn ngữ Nhật, Hàn.
(2) Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 50,3% – 70% vào năm 2030, qua các chương trình học bổng JDS (Nhật Bản) và tương đương từ Hàn Quốc, nhấn mạnh kỹ năng R&D để thu hút trung tâm nghiên cứu từ các tập đoàn, như: Toyota hay LG.
(3) Khuyến khích chính sách giữ chân nhân tài, như: ưu đãi thuế thu nhập cho chuyên gia nước ngoài và lao động cao cấp.
Bốn là, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường lan tỏa FDI, giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Để khắc phục tác động nghịch chiều từ lợi thế môi trường đầu tư (F5, β = -0,131) và tiềm năng thị trường (F1, β = -0,225), cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa, chuyển FDI từ định hướng xuất khẩu sang tích hợp sâu hơn với kinh tế nội địa với các giải pháp, như:
(1) Xây dựng chuỗi cung ứng địa phương qua chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) kết nối với FDI, như mô hình “matching” giữa nhà cung cấp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc.
(2) Ưu đãi thuế và đất đai cho dự án công nghiệp hỗ trợ, tập trung vào linh kiện điện tử và cơ khí chính xác nhằm giảm nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc.
(3) Tăng cường an ninh môi trường sống cho chuyên gia nước ngoài, như: cải thiện an toàn giao thông và giảm ô nhiễm, kết hợp chính sách sở hữu nhà ở linh hoạt.
5. Kết luận
Môi trường đầu tư của vùng Đông Nam Bộ đang ở giai đoạn chuyển đổi từ lợi thế tĩnh dựa trên chi phí sang lợi thế động dựa trên chất lượng thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để vùng tái cấu trúc chiến lược thu hút FDI theo hướng bền vững và giá trị gia tăng cao hơn. Vùng Đông Nam Bộ được doanh nghiệp FDI Nhật Bản và Hàn Quốc đánh giá tích cực về hạ tầng và nhân lực, nhưng cần cải thiện chính sách minh bạch và giảm chi phí để thu hút FDI chất lượng cao.
Chú thích:
1. Thu hút vốn FDI 8 tháng năm 2025 tăng 27,3% so với cùng kỳ. https://nhandan.vn/thu-hut-von-fdi-tam-thang-nam-2025-tang-273-so-voi-cung-ky-post906477.html
2. Việt Nam – Hàn Quốc: Vốn FDI khủng, thương mại hướng tới 150 tỷ USD năm 2030. https://danviet.vn/viet-nam–han-quoc-von-fdi-khung-thuong-mai-huong-toi-150-ty-usd-nam-2030-d1354394.html?utm_source=chatgpt.com;
3, 4, 5. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo FDI Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Kiều Anh (2023). Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Luận án Tiến sĩ, Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Phan Tuấn Anh (2023). Thực trạng lao động chuyên môn kỹ thuật và những thách thức trong phát triển bền vững ngành công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, H. NXB Khoa học xã hội.
3. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
4. Trần Hồng Quang (2024). Tiềm năng, lợi thế và một số định hướng lớn phát triển vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 03.
5. Đỗ Hữu Tịnh (2023). Phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ: Tiềm năng, lợi thế và một số đề xuất trong thời gian tới. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 26.
6. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2022). Số liệu kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2022.
7. Chính sách cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thu hút đầu tư cho tăng trưởng xanh của quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/31/chinh-sach-cai-thien-moi-truong-kinh-doanh-nham-thu-hut-dau-tu-cho-tang-truong-xanh-cua-quoc-te-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam/
8. Dunning, J. H. (2001). The Eclectic (OLI) Paradigm of International Production: Past, Present and Future. International Journal of the Economics of Business, 8(2), 173 – 190.
9. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press.
10. Krugman, P. (1991). Increasing Returns and Economic Geography. Journal of Political Economy, 99(3), 483 – 499.
11. Reuters (2025). US phone imports from Samsung hub Vietnam hit lowest level since 2020.



