Phản biện chính sách công – hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực thi dân chủ

Public policy scrutiny: a mechanism for checking state power and promoting democracy

TS. Cao Tiến Sỹ
Học viện Phụ nữ Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Phản biện chính sách công là sự đánh giá, thẩm định, bày tỏ chính kiến, kiến nghị… của các cá nhân, cộng đồng, tổ chức xã hội đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách công của Nnước nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và kiểm soát chính sách. Qua đó, Nhà nước được hỗ trợ kiểm soát quyền lực và thực hành quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động quản trị quốc gia. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, bài viết luận giải tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước, những ưu điểm và hạn chế của các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước truyền thống. Làm rõ vị trí, vai trò của phản biện chính sách công với tư cách là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực hành dân chủ của xã hội dân chủ hiện đại. Qua đó, khẳng định giá trị của phản biện chính sách công với tư cách là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực hành dân chủ, đồng thời là cơ chế cân bằng nội tại giữa 3 thành tố cấu thành nền dân chủ là nền kinh tế thị trường, xã hội công dân và nhà nước pháp quyền.

Từ khóa: Phản biện chính sách công; kiểm soát quyền lực nhà nước; hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước; hình thức thực thi dân chủ.

Abstract: Social policy review is the assessment, appraisal, and expression of opinions and recommendations by individuals, communities, and social organizations on the process of developing and implementing state public policies to improve the quality of policy planning, implementation, and control. Thereby, supporting the state in exercising control and practicing people’s mastery in national governance activities. The article uses retrospective methods and descriptive statistics to discuss the necessity of state power control and the advantages and limitations of traditional forms of it. Clarifying the position and role of public policy review as a form of state power control and democratic practice in modern democratic societies. Thereby, affirming the value of public policy review as a form of control over state power and democratic practice, and simultaneously as an internal balancing mechanism between the three components of democracy: market economy, civil society, and the rule of law.

Keywords: Public policy scrutiny; checks on state power; forms of checks on state power; form of democratic governance.

1. Đặt vấn đề

Trong lịch sử nhân loại, quyền lực công của xã hội được tổ chức và thực hiện dưới hình thức quyền lực nhà nước. Theo J. Locke (1632-1704), con người sống thành xã hội chính trị, “ở đó – và chỉ ở đó, là xã hội chính trị, nơi mà mỗi một thành viên của nó đã rời bỏ quyền lực tự nhiên của mình và trao vào tay của cộng đồng”1. Thực chất quyền lực nhà nước là quyền lực của tất cả các cá nhân trong xã hội, Nhà nước là sự ủy quyền của các công dân. Do đó, Nhà nước là bộ máy công quyền để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân và duy trì các mối quan hệ của mỗi cá nhân. Bảo đảm ai cũng có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc nhưng không được xâm phạm đến quyền tự do của người khác cũng như quyền và lợi ích chung của xã hội.

2. Sự cần thiết của kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực của Nhân dân được ủy thác cho Nhà nước, nhưng Nhà nước lại là một thiết chế đại diện do một nhóm nhỏ người nắm giữ. Do đó, nguy cơ lộng quyền, lạm quyền hay tình trạng không sử dụng quyền lực nhà nước để bảo vệ Nhân dân; tệ tham nhũng, thói quan liêu, bảo thủ, độc đoán, chuyên quyền, thờ ơ vô trách nhiệm và những hình thức tha hóa quyền lực nhà nước khác là căn bệnh đi kèm của tất cả các thiết chế dân chủ đại diện. Vì thế, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực ấy trong sạch, vững mạnh, thực sự là quyền lực của Nhân dân là mối quan tâm của mọi nền dân chủ.

Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, xuất phát từ đặc trưng cơ bản nhất của quyền lực nhà nước là quyền lực ủy quyền. Vì Nhân dân không trực tiếp thực thi quyền lực mà ủy quyền cho Nhà nước thực thi quyền lực của mình, nên Nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực ủy thác đó được sử dụng như thế nào. Do tính chất ủy thác, việc thực hiện quyền lực nhà nước gián tiếp thông qua các đại diện có khả năng là sai lệch mục đích, giảm hiệu quả bởi các yếu tố, như: thông tin bất đối xứng giữa chủ thể quyền lực (Nhân dân) và người thực thi (Nhà nước); những người thực thi cụ thể không hiểu rõ mục tiêu; Nhà nước không nắm bắt đúng nguyện vọng, lợi ích, mục đích của Nhân dân; khả năng những người thực thi quyền lực không sử dụng quyền lực một cách hợp lý và đúng đắn; khả năng các chủ thể đại diện vì lợi ích riêng mà làm tổn hại đến lợi ích, mục tiêu chung.

Thứ hai, thực thi quyền lực nhà nước là một quá trình khó khăn, phức tạp. Do bị chi phối bởi những tính chất của quyền lực nhà nước, như: tính khách quan và chủ quan, tính trừu tượng và cụ thể, trực tiếp và gián tiếp, gián đoạn và liên tục… nên việc thể chế hóa quyền lực nhà nước thành những quy định, luật lệ, thiết chế để quyền lực này được thực hiện một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người cầm quyền đòi hỏi phải có sự phản hồi, kiểm soát, điều chỉnh để đi đúng mục tiêu. Tính gián đoạn (do Nhân dân không tự mình thực hiện mà ủy quyền cho các đại diện) và tính liên tục của quyền lực nhà nước (quyền lực được ủy thác cho các cá nhân) tạo cho cá nhân, những người lãnh đạo, một không gian rộng lớn để áp đặt ý chí cá nhân của mình lên ý chí chung hoặc dưới danh nghĩa ý chí chung. Nghịch lý này, cộng với tính độc quyền cưỡng chế của Nhà nước và tình trạng thông tin bất đối xứng trong xã hội đã tạo cơ hội cho tham nhũng. Vì vậy, quá trình thể chế hóa và thực thi quyền lực nhà nước đòi hỏi phải có sự kiểm soát.

Thứ ba, Nhà nước mang bản tính của con người và được điều khiển bởi tham vọng, trong đó có tham vọng về quyền lực. Tham vọng quyền lực là mục tiêu, đồng thời là phương tiện để đạt được các tham vọng khác. Sự xung đột về lợi ích và cuộc đấu tranh giành quyền lực để thực hiện lợi ích đó giữa các cá nhân, nhóm xã hội sẽ phản ánh vào Nhà nước, biến Nhà nước thành một thực thể đầy mâu thuẫn về lợi ích, phản ánh tính vị kỷ, chủ quan và tùy tiện của những người cầm quyền. Cho nên, không thể khẳng định những người được ủy quyền luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của cộng đồng và cộng đồng phải có những cách thức để kiểm soát những người được ủy thác quyền lực.

Thứ tư, sự hữu hạn của trí tuệ con người. Sự hữu hạn này dẫn đến những hạn chế của con người trong lĩnh vực nhận thức lý tính, như việc nhận thức tính khoa học, hợp lý trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Từ đó dẫn tới khả năng có sai lệch trong nhận thức về mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp thực thi các quyết sách chính trị cũng như việc sử dụng quyền lực còn thiếu hiệu quả có thể xảy ra. Thêm vào đó, con người còn bị chi phối bởi tình cảm, dục vọng, thói quen và những mối quan hệ xã hội khác. Khi những nhân tố này lấn át lý trí thì khả năng sai lầm trong các quyết sách của các chủ thể cầm quyền càng lớn hơn. Do đó, kiểm soát quyền lực nhà nước, nhất là kiểm soát bằng trí tuệ của cả cộng đồng xã hội thông qua các hình thức phê bình/phê phán/phản biện xã hội là cần thiết để tiết chế, phòng ngừa sự sai lầm trong sử dụng quyền lực nhà nước.

Mục đích của kiểm soát là bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích; được thực hiện một cách có hiệu lực và hiệu quả, tạo điều kiện cho các chủ thể quyền lực hoạt động tốt. Đồng thời, góp phần khắc phục những nan giải của các chính phủ đại diện. Trong xã hội hiện đại, quan hệ giữa Nhân dân với Nhà nước là quan hệ ủy quyền, đại diện. Cách thức này tận dụng được những lợi ích, ưu thế của chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội ngày càng cao, mặt khác, khắc phục được những bất cập của hoạt động tập thể trong hình thức dân chủ trực tiếp như: phản ứng chậm chạp, tốn thời gian, công sức, thiếu chuyên nghiệp và việc ban hành các quyết sách mang tính trung dung…

Kiểm soát quyền lực nhà nước là yêu cầu nội tại của mọi thể chế dân chủ. Kiểm soát quyền lực nhà nước tập trung vào các phương diện sau: thứ nhất, kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước; thứ hai, kiểm soát quá trình thông qua và ban hành pháp luật; thứ ba, kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước; thứ tư, kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trên các nội dung: (1) Kiểm soát sự tuân thủ pháp luật của bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm khả năng vận hành hiệu quả trên thực tế. (2) Kiểm soát hoạt động hoạch định chính sách của Nhà nước, bảo đảm quy trình ban hành chính sách tuân thủ quy định của pháp luật, phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả của hoạt động chính sách. (3) Kiểm soát các chính sách, quy định của Nhà nước nhằm ngăn chặn, điều chỉnh, loại bỏ những quy định, chính sách không còn phù hợp, gây phương hại đến quyền và lợi ích của công dân; các chính sách thiếu khả thi hoặc hiệu quả kém. Kiểm soát hoạt động thực thi chính sách của Nhà nước để bảo đảm hoạt động này tuân thủ đúng pháp luật, qua đó phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ những hành vi sai trái hoặc kém hiệu quả.

3. Phản biện chính sách công là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực thi dân chủ

Có nhiều phương cách để kiểm soát quyền lực nhà nước đã được nêu ra và thực hành trong lịch sử, tùy góc độ tiếp cận nghiên cứu có thể chia ra như: kiểm soát bên trong và kiểm soát bên ngoài đối với quyền lực nhà nước; kiểm soát liên tục và không liên tục; kiểm soát trực tiếp và gián tiếp… Để giảm chi phí về nhân lực và tài chính, tránh bớt những khó khăn khi xây dựng thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước thường xuyên, ở hầu hết các nước, đều không thành lập một cơ quan có nhiệm vụ kiểm soát liên tục, trực tiếp đối với mọi hoạt động của nhà nước. Cơ chế kiểm soát thường được thiết kế kết hợp giữa kiểm soát không liên tục, như: hạn chế phạm vi quyền lực, bầu cử theo nhiệm kỳ, với sự kiểm soát liên tục của nhà nước như thông qua cơ chế kiềm chế đối trọng và kiểm soát của các cơ quan chức năng và kiểm soát của bên ngoài thông qua hoạt động giám sát, phản biện của các tổ chức xã hội. Qua đó, có thể liệt kê một số phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước cơ bản sau:

(1) Kiểm soát bằng hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước

Phương thức này bao gồm các giải pháp cụ thể, như dùng Hiến pháp để giới hạn phạm vi quyền lực nhà nước, quy định các quyền và tự do cơ bản của công dân và hạn chế các mục tiêu của Nhà nước. Xuất phát từ quan điểm của tư tưởng pháp quyền tự nhiên, xem Hiến pháp là bản khế ước xã hội giữa nhân dân (người chủ) với Nhà nước (người đại diện) và Nhà nước chỉ có quyền lực được giới hạn trong phạm vi bản khế ước đó. Quan điểm này vạch ra một ranh giới tương đối giữa Nhà nước và xã hội công dân. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng các cam kết đó.

Trên thực tế, việc hạn chế quyền lực nhà nước bằng các ràng buộc của Hiến pháp bị chi phối bởi nhiều yếu tố, như: sự hữu hạn của trí tuệ con người, tính chất không đầy đủ và hoàn thiện của Hiến pháp, sự thay đổi và giải thích Hiến pháp có thể làm sai lệch ý tưởng ban đầu của Hiến pháp hay sự không tuân thủ Hiến pháp trên thực tế. Điều đó lý giải vì sao có những quốc gia sở hữu những bản hiến pháp rất tốt nhưng lại là những thể chế thiếu dân chủ hoặc độc tài.

(2) Phương thức kiểm soát bên trong của Nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong bao gồm 3 nội dung lớn là: sự phân quyền chức năng để tách bạch các lĩnh vực của quyền lực nhà nước; thực hiện cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực; và sử dụng các thể chế trách nhiệm.

Tư tưởng phân quyền đã có mầm mống từ thời cổ đại, được các nhà tư tưởng kiệt xuất như J. Locke, J.J.Rousseau, Montesquieu xây dựng thành học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ XVII–XVIII. Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để bảo đảm các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực mà là phân chia nó ra.

Quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể thống nhất mà là sự phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau theo nguyên tắc “kiềm chế và đối trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền. Quyền lực chỉ có thể được kiểm soát bằng quyền lực và sự phân lập rành mạch giữa các quyền. Sự phân lập quyền lực là một phương thức hữu hiệu để hạn chế, kiểm soát quyền lực.

Theo Montesquieu, sự không phân lập quyền lực sẽ dẫn đến nguy cơ độc quyền, độc tài và đó là tai họa cho tự do của xã hội “khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng, chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”2.

Tiếp nối Montesquieu, J.J.Rousseau (1712 – 1778) với tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Ông chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao, tức là toàn thể công dân trong xã hội. Nhưng đồng thời, ông lại chỉ ra rằng, phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và Chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để bảo đảm sự hoạt động có hiệu quả cho Nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền.

Ngoài ra, Rousseau còn đề cao vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm cho sự hoạt động ổn định của Nhà nước cũng như sự cân bằng giữa cơ quan quyền lực tối cao, Chính phủ và Nhân dân. Như vậy, tư tưởng phân quyền của Rousseau có điểm khác với Locke và Montesquieu, ông cho rằng “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó”3 mà thôi. Học thuyết phân quyền sau này được Thomas Jefferson (1743–1826, là Tổng thống thứ 3 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) bổ sung, làm rõ thêm sự phân quyền không đơn thuần chỉ diễn ra ở một chiều ngang mà còn cần thiết ở cả chiều dọc và ở bất cứ lĩnh vực nào của Nhà nước.

Sự phân chia các quyền lực sao cho chức năng của một nhánh chính quyền trong một vấn đề cụ thể sẽ bị giới hạn bởi chức năng của một nhánh khác có thẩm quyền về cùng vấn đề ấy hoặc về một vấn đề khác có liên quan. Cơ chế kiểm soát này được gọi là “các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực lẫn nhau” – “Checks and Balances”. Đây là một hệ thống kiểm tra, giám sát bên trong nằm ngay bên trong Nhà nước nhằm tạo ra một cơ chế mặc nhiên là chủ thể nào nắm và được phân công sử dụng quyền lực nhà nước cũng phải bị kiểm soát theo nguyên tắc phòng ngừa từ bên trong, còn cơ chế kiểm tra được tiến hành từ bên ngoài hầu như chỉ được tiến hành một khi đã có hậu quả xảy ra.

Hạn chế của kiểm soát bằng thể chế là ngoài việc phòng ngừa người đại diện làm việc sai trái, nó còn có khả năng ngăn cản họ làm những việc đáng làm. Mặt khác, cơ chế kiềm chế và đối trọng được sử dụng với mục đích bảo đảm quyền lực nhà nước không bị lạm dụng, thực hiện đúng mục đích chứ không vì mục tiêu hiệu lực, hiệu quả, hoạt động thông suốt và phản ứng linh hoạt của bộ máy nhà nước. Do vậy, để khắc phục mâu thuẫn giữa chống lạm dụng quyền lực với yêu cầu của các mục tiêu phục vụ của Nhà nước, giải pháp hay được các xã hội hiện đại sử dụng là: phân quyền mềm dẻo, áp đặt kiềm chế và đối trọng một cách hợp lý song song với việc tăng cường sự kiểm soát bên ngoài của Nhân dân và xã hội đối với quyền lực nhà nước.

(3) Kiểm soát của công dân và tổ chức xã hội đối với quyền lực nhà nước thông qua phản biện chính sách công

Phản biện xã hội đối với chính sách công là thuộc tính phản ánh tự nhiên của xã hội công dân, là sự biểu đạt nguyện vọng, lợi ích chính đáng và đa dạng của các tầng lớp nhân dân đối với Nhà nước. Phản biện chính sách công của tổ chức xã hội và công dân là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, ngăn chặn những khiếm khuyết của kinh tế thị trường và là yếu tố liên kết để tạo sự phát triển cân đối giữa 3 bộ phận cấu thành thể chế kinh tế chính trị quốc gia.

Sự giám sát của Nhân dân, thông tin đại chúng và công luận cũng là mắt xích quan trọng của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy không mang tính quyền lực nhà nước, nhưng có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước khác. Thông qua hoạt động phản biện của các chủ thể này, các cơ quan quyền lực nhà nước có được những thông tin, phản hồi cần thiết từ phía Nhân dân để đưa ra những quyết định hợp lý. Một mặt, tự điều chỉnh, kiểm soát quyền lực của mình; mặt khác, trước áp lực của công luận về những vấn đề được phản ánh, điều chỉnh việc kiểm soát quyền lực của mình một cách khách quan hơn.

Một lợi thế của phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, thông qua các quyền dân chủ trực tiếp của công dân, thông tin đại chúng và công luận là chi phí thấp. Xem xét từ quan điểm chi phí – hiệu quả của quản lý công thì những người bị ảnh hưởng trực tiếp từ các chính sách của Nhà nước sẽ có động cơ để theo dõi và tác động đến chúng. Từ đó, xuất hiện cơ hội để kiểm soát chính sách công với chi phí thấp và độ tin cậy cao hơn so với các thể chế chịu trách nhiệm trong bộ máy nhà nước.

Phương pháp giám sát theo kiểu “cảnh sát tuần tra”, tức là hoạt động kiểm tra thường xuyên của các thể chế chịu trách nhiệm đối với hoạt động của các cơ quan ban hành và thực thi chính sách sẽ trở nên không có giá trị khi mà “cảnh sát” đã bị mua chuộc. Trong tình huống này, người chủ có thể tìm kiếm thông tin từ nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách đó, phương cách này được gọi dưới cái tên là “chuông cứu hỏa”. Phản biện trực tiếp của các nhóm chịu ảnh hưởng của chính sách và công luận xã hội sẽ gióng hồi chuông cứu hỏa đối với những vấn đề kinh tế – xã hội bất bình thường, những chính sách thiên lệch của Nhà nước. Phương thức này có ưu điểm là chi phí thấp do những người chịu ảnh hưởng trực tiếp chi trả; do không có sự tương thích về lợi ích với đối tượng giám sát nên thông tin thu được khách quan hơn, hoạt động giám sát có tính độc lập, hiệu quả cao hơn.

Hiệu quả của phản biện chính sách công trong phương thức này thường được thực hiện thông qua cá nhân hoặc tổ chức. Hoạt động phản biện, giám sát của tổ chức thường được cho là quan trọng và hiệu quả hơn. Song trong thực tế, các tổ chức lại bị chi phối bởi các quan hệ chính trị, lợi ích kinh tế với Nhà nước nên hiệu quả của phương thức “chuông cứu hỏa” phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: nhân tố đại diện trong bộ máy nhà nước, tính độc lập của các tổ chức xã hội… cho nên, nhiều vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc được người dân phản ánh đã trở thành hồi chuông lạc điệu trên nghị trường chính sách.

Thông tin đại chúng, dư luận xã hội có khả năng kết nối, tạo ra trung tâm dư luận công cộng có thể gây sức ép với Nhà nước trong nhiều vấn đề quan trọng. Đây là sự giám sát và phản biện thường xuyên của cộng đồng xã hội đối với Nhà nước. Thông tin là chìa khóa của sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của nền hành chính nhà nước với công dân của mình. Để loại bỏ tình trạng thông tin bất đối xứng giữa người dân và các cơ quan công quyền, thì Nhân dân phải có quyền tiếp cận thông tin. Đây là quyền cơ bản của công dân trong xã hội hiện đại và là một thước đo quan trọng của nền dân chủ. Đây là điều kiện tiên quyết cho việc kiểm soát của xã hội đối với quyền lực nhà nước nói chung, hoạt động hoạch định và thực thi chính sách công của các cơ quan công quyền nói riêng. Hạn chế truyền thông và quyền tiếp cận thông tin của người dân sẽ làm tăng chi phí điều tra, phát hiện, xử lý sự lẩn trốn trách nhiệm, hối lộ, tham nhũng và những khuyết tật cố hữu khác của bộ máy công quyền.

4. Kết luận

Phản biện chính sách công một là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, có giá trị dân chủ và hiệu quả cao. Về bản chất, nó là sự phản hồi tự nhiên của tổ chức xã hội và công dân đối với Nhà nước thông qua việc phê bình/ phê phán/ tranh luận của cộng đồng xã hội đối với các quyết sách chính trị của Nhà nước; là sự kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ, tri thức của cộng đồng – một hình thức kiểm soát quyền lực thể hiện trình độ văn minh của xã hội, bổ sung cho các phương thức kiểm soát quyền lực truyền thống khác.

Phản biện chính sách là sự khẳng định địa vị bình đẳng thực sự của mỗi cá nhân và tổ chức xã hội với Nhà nước; đồng thời, cũng là sợi dây liên lạc giữa nền kinh tế thị trường, xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền góp phần tạo ra sự cân bằng, tương thích giữa 3 yếu tố cấu thành nền dân chủ. Mặt khác, phản biện chính sách công cũng là công cụ để kiểm soát có hiệu quả quá trình hoạch định và thực thi chính sách công, giúp giảm chi phí, nâng cao tính khả thi, điều hòa lợi ích xã hội trong mục tiêu chính sách. Với ý nghĩa nhiều mặt như vậy, phản biện chính sách được xem là một hình thức quan trọng và hiệu quả cao trong kiểm soát quyền lực nhà nước và thực thi dân chủ.

Chú thích:
1. John Locke (2007). Khảo luận thứ hai về chính quyền, Lê Tuấn Huy dịch. H. NXB Tri thức, tr. 125.
2. Montesquieu (2004). Bàn về tinh thần pháp luật. H. NXB Lý luận chính trị, tr. 106.
3. G.W.F. Hegel (2010). Các nguyên lý của triết học pháp quyền. H. NXB Tri thức.
Tài liệu tham khảo:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011) Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Nguyễn Đăng Dung (2010). Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước. H. NXB Tư pháp.
6. Jean-Jacques Rousseau (tái bản 2004). Bàn về khế ước xã hội. H. NXB Lý luận chính trị.
7. Abraham Lincoln (1863). Diễn văn Gettysburg. https://vi.wikipedia.org/wiki/Gettysburg.
8. James Madison (1778). The Structure of the Government Must Furnish the Proper Checks and Balances Between the Different Departments. The Federalist Papers: No.51, Lillian Goldman Law Library. https://avalon.law.yale.edu/18th_century/fed51.asp.