Organizing the structure of public non-profit organizations to promote autonomy in out-of-school education for children and adolescents in Vietnam
ThS. Lê Anh Quân
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Từ kết quả khảo sát thực tế, nghiên cứu phân tích thực trạng tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường ở Việt Nam, kết quả cho thấy, hệ thống đã hình thành khá đầy đủ và duy trì hoạt động ổn định, nhưng còn tồn tại khoảng cách giữa thiết kế thể chế và vận hành thực tiễn, thể hiện ở tính thiếu thống nhất, mức độ tự chủ hạn chế và hiệu quả quản trị chưa cao. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hoàn thiện tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tăng tính linh hoạt và mở rộng tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Từ khóa: Đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức bộ máy; giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường; tự chủ; quản trị công.
Abstract: Based on the results of a field survey and an analysis of the current state of the organizational structure of public non-school educational institutions for children and adolescents in Vietnam, the findings indicate that the system has been established fairly comprehensively and operates stably; however, there remains a gap between institutional design and practical implementation, manifested in a lack of consistency, limited autonomy, and low management efficiency. Based on this, the article proposes streamlining the organizational structure, increasing flexibility, and expanding accountability-linked autonomy to enhance operational effectiveness.
Keywords: Public service units; organizational structure; out-of-school youth education; autonomy; public governance.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường giữ vai trò bổ trợ quan trọng cho giáo dục chính quy, góp phần phát triển kỹ năng sống và năng lực xã hội của trẻ em. Tại Việt Nam, quy mô thanh thiếu nhi khá lớn trong giai đoạn dân số vàng, theo tổng điều tra dân số năm 2019, nhóm tuổi từ 10 – 24 khoảng 20,4 triệu người, chiếm hơn 21% dân số và dự báo duy trì đến năm 20391. Điều này đặt ra nhu cầu đáng kể đối với các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.
Các đơn vị sự nghiệp công lập, như cung thiếu nhi, nhà thiếu nhi và trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng và phát triển năng khiếu. Năm 2024, có hơn 5 triệu thiếu nhi tham gia các hoạt động quy mô lớn, từ đó, cho thấy, nhu cầu xã hội cao, song mức độ tham gia và khả năng tiếp cận vẫn chịu ảnh hưởng của điều kiện gia đình và môi trường xã hội, trong khi hệ thống cung ứng chưa đáp ứng tương xứng2.
2. Thực trạng hoạt động và tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường ở Việt Nam
2.1. Thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường với nòng cốt là hệ thống cung thiếu nhi, nhà thiếu nhi vẫn giữ vai trò quan trọng trong tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng, phát triển năng khiếu, trải nghiệm và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đội.
Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống diễn ra trong bối cảnh mạng lưới tổ chức biến động mạnh theo hướng tinh gọn. Năm 2017, toàn quốc có 209 đơn vị (46 cấp tỉnh, 163 cấp huyện)3, đến năm 2020 giảm còn 126 đơn vị4. Giai đoạn từ năm 2021 – 2022 hệ thống ổn định ở mức 122 đơn vị, sau đó tiếp tục điều chỉnh và đến tháng 8/2025 chỉ còn 8 đơn vị cấp tỉnh, 101 đơn vị cấp huyện được sáp nhập vào trung tâm cung ứng dịch vụ tổng hợp và 5 đơn vị chuyển về cấp xã quản lý5. Sự thu hẹp này cho thấy, quá trình tinh gọn bộ máy đã tác động trực tiếp đến cấu trúc mạng lưới và khả năng duy trì các thiết chế chuyên biệt cho thanh thiếu nhi.
Mặc dù quy mô tổ chức giảm, khối lượng hoạt động vẫn duy trì ở mức cao và có xu hướng phục hồi sau giai đoạn gián đoạn từ 2020 – 2021. Giai đoạn 2017 – 2019, số lớp kỹ năng và năng khiếu tăng từ trên 8.000 lên 11.716 lớp, số lượt tham gia tăng từ hơn 215.000 lên trên 356.000 lượt6. Từ năm 2022, hoạt động phục hồi với trên 9.000 lớp và hơn 317.000 lượt tham gia7, đến năm 2024, đạt 15.482 lớp8 và năm 2025 duy trì 15.363 lớp9. Các hoạt động trải nghiệm và kỹ năng sống cũng duy trì quy mô lớn, với trên 200 trại hè và trên 400 lớp kỹ năng mỗi năm giai đoạn 2022 – 2024, tăng lên hơn 300 trại hè và 936 lớp kỹ năng vào năm 202510. Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đội phục hồi rõ nét trong các năm từ 2023 – 2024. Những số liệu này cho thấy, hệ thống vẫn thực hiện tương đối đầy đủ chức năng, nhiệm vụ cốt lõi, song áp lực tổ chức ngày càng gia tăng khi đầu mối giảm nhưng yêu cầu hoạt động không giảm tương ứng.
Chất lượng hoạt động nhìn chung được duy trì nhưng chưa đồng đều và chịu ảnh hưởng đáng kể từ điều kiện tổ chức. Hiệu quả hoạt động bộc lộ những giới hạn đáng chú ý. Giai đoạn 2023 – 2025, số lớp tăng mạnh nhưng số lượt tham gia chỉ đạt trên 96.000 lượt năm 2023 và trên 116.000 lượt trong các năm từ 2024 – 2025, thấp hơn đáng kể so với mức trên 317.000 lượt năm 2022 và trên 356.000 lượt năm 201911. Điều này cho thấy, sự gia tăng về số lượng chưa đi kèm với mở rộng thực chất mức độ thụ hưởng, phản ánh xu hướng phát triển theo chiều rộng.
Thu hút sự tham gia vẫn là điểm mạnh nổi bật của hệ thống. Từ sau năm 2021, mỗi năm thu hút trên 6 triệu lượt thiếu nhi tham gia, đạt khoảng 7 triệu lượt năm 2023 và vượt 7,8 triệu lượt năm 2025. Riêng năm 2024, Ngày hội “Thiếu nhi vui khỏe” đã thu hút hơn 5 triệu học sinh tiểu học tại hơn 12.000 điểm trường trên toàn quốc12. Việc duy trì trên 15.000 lớp năng khiếu, kỹ năng mỗi năm cùng nhiều mô hình câu lạc bộ đã góp phần tạo môi trường sinh hoạt thường xuyên và phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ em13.
Tuy nhiên, quyền tham gia của trẻ em chưa được bảo đảm đồng đều. Khả năng tham gia không chỉ phụ thuộc vào số lượng hoạt động mà còn gắn với điều kiện tiếp cận, sự ổn định của không gian sinh hoạt và tính chuyên biệt của thiết chế. Quá trình sắp xếp tổ chức, đặc biệt là xu hướng sáp nhập vào các mô hình đa chức năng, làm gia tăng nguy cơ thu hẹp không gian hoạt động riêng cho trẻ em. Thực tiễn cho thấy, quy mô huy động lớn chưa đồng nghĩa với bảo đảm quyền tham gia theo nghĩa thực chất; đồng thời, đặt ra yêu cầu phải gắn việc hoàn thiện tổ chức bộ máy với việc duy trì tính chuyên biệt và khả năng tiếp cận của các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ.
2.2. Thực trạng tổ chức bộ máy đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường theo hướng tự chủ
Tổ chức bộ máy của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường được xem xét trên cơ sở dữ liệu khảo sát 623 phiếu hợp lệ, phản ánh ý kiến của các nhóm chủ thể gồm cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể giám sát xã hội, lực lượng điều phối, lãnh đạo đơn vị và đội ngũ cán bộ, viên chức trực tiếp thực thi. Trên cơ sở đó, các nội dung của tổ chức bộ máy được phân tích theo các cấu phần gồm tên gọi, địa vị pháp lý, nguyên tắc tổ chức, chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động và nhân sự.
Một là, về tên gọi (xem Hình 1).

Kết quả tổng hợp phản ánh sự phân hóa trong đánh giá về tên gọi giữa các nhóm chủ thể, gắn với khác biệt về vị trí quản trị và mức độ tham gia vận hành. Điểm trung bình dao động quanh mức 3, cho thấy, tên gọi hiện nay chỉ đáp ứng yêu cầu ở mức trung bình và chưa tạo được sự đồng thuận cao trong hệ thống.
Nhóm lãnh đạo Nhà thiếu nhi đánh giá tích cực và ổn định nhất, với điểm trung bình từ 3,29 – 3,70, trong đó tiêu chí phản ánh đúng chức năng, nhiệm vụ đạt cao nhất (3,70), song các tiêu chí còn lại chỉ quanh 3,5 – 3,6, cho thấy, mức độ phù hợp chưa thực sự nổi trội. Nhóm lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nội vụ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có mức điểm từ 3,0 – 3,47, thể hiện cách nhìn thận trọng hơn, đặc biệt ở các tiêu chí về chuẩn hóa và khả năng nhận diện hệ thống. Nhóm Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh có mức đánh giá thấp nhất (2,72 – 3,48), nhất là ở tính thống nhất và mức độ phù hợp với mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, phản ánh những bất cập trong nhận diện khi phối hợp liên ngành.
Đội ngũ cán bộ tại các cung, nhà thiếu nhi và trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi có điểm trung bình từ 3,02 – 3,35, thấp hơn nhóm lãnh đạo đơn vị và tiệm cận với nhóm quản lý nhà nước, cho thấy những vướng mắc trong thực thi khi tên gọi chưa đủ rõ để định hướng hoạt động. Nhìn chung, không có tiêu chí nào đạt đồng thuận cao, cho thấy tên gọi chưa phát huy đầy đủ vai trò nhận diện và định hướng tổ chức. Vì vậy, trong bối cảnh đổi mới bộ máy và tăng cường tự chủ, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện tên gọi theo hướng gắn với chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức nhằm nâng cao tính rõ ràng và hiệu quả quản lý.
Hai là, về địa vị pháp lý (xem Hình 2).

Kết quả tổng hợp cho thấy địa vị pháp lý được đánh giá ở mức trung bình khá. Hệ thống quy định đã bước đầu tạo lập nền tảng pháp lý cho hoạt động, nhưng chưa đạt sự thống nhất trong cách hiểu và vận dụng giữa các nhóm chủ thể, các tiêu chí chủ yếu dao động quanh mức trung bình, phản ánh tính rõ ràng và nhất quán của khuôn khổ pháp lý còn hạn chế trong thực tiễn.
Xét theo từng tiêu chí, ở nội dung địa vị pháp lý rõ ràng, lãnh đạo Nhà thiếu nhi đạt cao nhất (3,66), tiếp theo là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh (3,41) và lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nội vụ (3,29), trong khi cán bộ Nhà thiếu nhi đạt 3,23 và thấp nhất là Tỉnh Đoàn, Hội đồng Đội tỉnh (2,98). Xu hướng này tiếp tục xuất hiện ở tiêu chí cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động (3,51; 3,25; 3,15; 3,17; 2,84). Ở tiêu chí thuận lợi cho quản lý nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đạt cao nhất (3,56), so với lãnh đạo Nhà thiếu nhi (3,19), lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Nội vụ (3,13), cán bộ Nhà thiếu nhi (3,10) và thấp nhất là Tỉnh Đoàn (2,87). Tương tự, tiêu chí bảo đảm quyền và thẩm quyền ghi nhận các mức 3,43; 3,38; 3,21; 3,03 và 2,80. Đáng chú ý, tiêu chí cơ sở pháp lý cho cơ chế tự chủ có mức thấp nhất và phân hóa rõ (3,32; 3,10; 3,08; 2,92; 2,71), cho thấy nội dung này còn nhiều vướng mắc trong nhận thức và triển khai.
Sự chênh lệch điểm giữa các nhóm phản ánh cảm nhận không đồng đều về tính rõ ràng của địa vị pháp lý. Nhóm lãnh đạo và các chủ thể gần với quản lý nhà nước có xu hướng đánh giá tích cực hơn, trong khi các chủ thể phối hợp và thực thi thận trọng hơn, cho thấy sự lệch pha giữa thiết kế pháp lý và vận hành thực tiễn, đặc biệt trong phân cấp, thủ tục và phối hợp liên ngành. Việc tiêu chí về cơ chế tự chủ có mức thấp nhất tiếp tục khẳng định những nội dung cần tính cụ thể và ổn định cao đang gặp khó khăn trong triển khai, dẫn đến khác biệt trong cách hiểu và thực hiện giữa các địa phương.
Ba là, về nguyên tắc tổ chức bộ máy (xem Hình 3).

Kết quả tổng hợp cho thấy, đánh giá về các nguyên tắc tổ chức bộ máy có sự phân hóa giữa các nhóm chủ thể, gắn với khác biệt về vị trí, vai trò và mức độ tham gia trong quản lý và vận hành. Nhìn chung, các tiêu chí đạt mức trung bình khá, với điểm số từ 2,8 đến trên 3,4, cho thấy bộ máy đã hình thành nền tảng vận hành nhưng chưa tạo được sự đồng thuận cao.
Xét theo nhóm chủ thể, lãnh đạo Nhà thiếu nhi có xu hướng đánh giá tích cực hơn ở hầu hết các tiêu chí, đặc biệt ở các nội dung liên quan đến tính thống nhất gắn với linh hoạt và mức độ phù hợp với nhu cầu thanh thiếu nhi, phản ánh góc nhìn điều hành thực tiễn. Ngược lại, nhóm Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh thận trọng hơn, nhất là ở các tiêu chí liên quan đến đổi mới và cơ chế tự chủ, cho thấy những băn khoăn về khả năng thích ứng của bộ máy trước yêu cầu cải cách. Trong khi đó, lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nội vụ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh duy trì mức đánh giá ổn định, thể hiện cách tiếp cận quản lý vĩ mô, ưu tiên tính thống nhất và ổn định thể chế.
Mặc dù mức chênh lệch giữa các nhóm không lớn, kết quả cho thấy tổ chức bộ máy hiện nay mới đáp ứng yêu cầu ở mức tối thiểu, chưa hình thành sự đồng thuận rõ rệt. Trong bối cảnh đổi mới quản trị công và mở rộng tự chủ, những hạn chế về tính linh hoạt, hiệu quả và khả năng thích ứng tiếp tục là vấn đề cần được hoàn thiện.
Bốn là, về chức năng và nhiệm vụ (xem Hình 4).

Kết quả tổng hợp theo nhóm chủ thể cho thấy, đánh giá về chức năng, nhiệm vụ phản ánh rõ khoảng cách giữa thiết kế thể chế và vận hành thực tiễn. Nhìn chung, các tiêu chí đạt mức trung bình khá, nhưng sự phân tán điểm số cho thấy chưa hình thành nhận thức thống nhất trong toàn hệ thống.
Ở tiêu chí xác định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng và phù hợp với thực tiễn, điểm trung bình dao động từ 3,09 – 3,62, với lãnh đạo Nhà thiếu nhi cao nhất (3,62) và Tỉnh Đoàn, Hội đồng Đội tỉnh thấp nhất (3,09), các nhóm còn lại khoảng 3,16 – 3,23. Sự phân hóa rõ hơn ở tiêu chí phân định chức năng, nhiệm vụ (2,91 – 3,26), trong đó Tỉnh Đoàn tiếp tục thấp nhất (2,91), cho thấy hạn chế trong xác định ranh giới trách nhiệm. Ở tiêu chí hiệu quả thực hiện, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đạt cao nhất (3,56), trong khi lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Nội vụ thấp hơn (3,03), các nhóm khác khoảng 3,16 – 3,20, phản ánh hiệu quả đã được ghi nhận nhưng chưa tạo đồng thuận rõ ràng.
Ngược lại, tiêu chí đáp ứng nhu cầu giáo dục, vui chơi và phát triển của thanh thiếu nhi có mức đánh giá cao và ổn định hơn (3,12 – 3,70), với lãnh đạo Nhà thiếu nhi tiếp tục cao nhất (3,70), cho thấy hiệu quả thực tiễn tương đối rõ. Tuy nhiên, tiêu chí tạo điều kiện cho chủ động và thực hiện tự chủ chỉ đạt 3,07 – 3,44, với chênh lệch giữa nhóm Mặt trận Tổ quốc (3,44) và các nhóm thực thi (khoảng 3,1), phản ánh khoảng cách giữa kỳ vọng chính sách và khả năng thực hiện. Tổng thể, chức năng, nhiệm vụ đã hình thành nền tảng hoạt động, nhưng hạn chế tập trung ở phân định chức năng và mức độ chủ động trong thực thi, đặt ra yêu cầu hoàn thiện theo hướng gắn với vị trí việc làm và tăng cường tự chủ phù hợp với quản trị hiện đại.
Năm là, về cơ cấu tổ chức (xem Hình 5).

Kết quả tổng hợp cho thấy, tồn tại sự khác biệt rõ giữa các nhóm chủ thể trong đánh giá thiết kế cơ cấu tổ chức tập trung ở các tiêu chí về phân công, phối hợp, hỗ trợ quản lý và khả năng đáp ứng yêu cầu tự chủ. Sự phân hóa này phản ánh sự không đồng nhất trong trải nghiệm và cách tiếp cận giữa các cấp độ trong hệ thống.
Ở tiêu chí phân công, phân cấp và xác định trách nhiệm, lãnh đạo Nhà thiếu nhi đánh giá cao nhất (3,34), trong khi Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh thấp nhất (2,86), cán bộ Nhà thiếu nhi ở mức trung bình (3,09), cho thấy khác biệt trong nhận thức về mức độ rõ ràng của phân định chức năng. Đối với tiêu chí phối hợp, điểm trung bình dao động từ 2,92 – 3,41, với mức cao nhất thuộc về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh (3,41) và thấp nhất là Tỉnh Đoàn (2,92), phản ánh cơ chế phối hợp đã hình thành nhưng hiệu quả chưa đồng đều. Ở tiêu chí hỗ trợ quản lý và chuyên môn, lãnh đạo Nhà thiếu nhi tiếp tục cao nhất (3,42), trong khi lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nội vụ (3,07) và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (3,03) ở mức trung bình khá, cho thấy cơ cấu hiện hành đáp ứng vận hành nội bộ nhưng chưa thực sự hiệu quả ở cấp hệ thống.
Đáng chú ý, tiêu chí đáp ứng yêu cầu tự chủ có mức phân hóa lớn nhất, với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh cao nhất (3,50), trong khi Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh (2,77) và cán bộ Nhà thiếu nhi thấp nhất (2,50), các nhóm còn lại khoảng 3,09 – 3,15. Điều này cho thấy sự lệch pha giữa kỳ vọng chính sách và khả năng triển khai thực tế, khi tự chủ được nhìn nhận tích cực ở cấp vĩ mô nhưng gặp hạn chế ở cấp cơ sở do ràng buộc về phân quyền, nguồn lực và cấu trúc tổ chức. Tổng thể, sự khác biệt trong đánh giá phản ánh những hạn chế mang tính cấu trúc của cơ cấu tổ chức, đặc biệt trong phân định trách nhiệm và triển khai tự chủ, làm giảm vai trò của bộ máy như một công cụ quản trị hiệu quả trong bối cảnh đổi mới quản lý công.
Sáu là, về cơ chế hoạt động (xem Hình 6).

Kết quả tổng hợp cho thấy, các nội dung phản ánh cơ chế hoạt động dao động từ 2,92 – 3,68, chủ yếu ở mức trung bình khá. Điều này cho thấy cơ chế hoạt động đã được thiết lập và vận hành, nhưng mức độ đồng thuận giữa các nhóm chủ thể còn hạn chế, phản ánh sự khác biệt giữa các cấp độ hoạch định, điều hành và thực thi.
Xét theo từng tiêu chí, nội dung quy định rõ ràng và phù hợp với yêu cầu tổ chức, quản lý được đánh giá tương đối tích cực (3,12 – 3,55), với nhóm lãnh đạo và quản lý cao hơn đội ngũ thực thi, cho thấy khuôn khổ chính sách tương đối đầy đủ nhưng còn khoảng cách trong triển khai. Sự phân hóa rõ hơn ở tiêu chí công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, khi Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh đánh giá thấp hơn, phản ánh hạn chế trong thực hiện minh bạch, đặc biệt trong phối hợp và giám sát. Ngược lại, tiêu chí phối hợp liên ngành đạt mức cao nhất, cho thấy cơ chế phối hợp đã hình thành nhưng hiệu quả chưa đồng đều và thiếu tính liên thông giữa các đơn vị, địa phương.
Ở các tiêu chí liên quan đến hiệu quả vận hành, cơ chế hỗ trợ quản lý và hoạt động chuyên môn chỉ đạt mức khá, cho thấy chưa phát huy đầy đủ vai trò công cụ quản trị. Đáng chú ý, tiêu chí tạo điều kiện cho chủ động và thực hiện tự chủ bộc lộ rõ khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, khi lãnh đạo đánh giá cao hơn trong khi cán bộ trực tiếp thực thi thấp hơn, phản ánh các ràng buộc về tài chính, nhân sự và quy trình. Tổng thể, cơ chế hoạt động đã hình thành nền tảng vận hành nhưng thiếu đồng bộ giữa thiết kế và thực thi; vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng minh bạch, liên thông và gắn với kết quả nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị trong bối cảnh mở rộng tự chủ.
Bảy là, về nhân sự (xem Hình 7).

Kết quả tổng hợp cho thấy, đánh giá về nhân sự tập trung ở mức trung bình khá, nhưng có sự phân hóa rõ giữa các tiêu chí và nhóm chủ thể. Các nội dung nền tảng như vị trí việc làm, tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng có xu hướng được đánh giá thận trọng hơn, trong khi các yếu tố gắn với vai trò cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu, lại được ghi nhận ở mức cao.
Ở tiêu chí đội ngũ cán bộ, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, điểm trung bình dao động từ 2,99 – 3,24, với lãnh đạo Nhà thiếu nhi đánh giá tích cực hơn, trong khi Tỉnh Đoàn, Hội đồng Đội tỉnh và cán bộ trực tiếp thực thi thận trọng hơn, phản ánh khác biệt trong trải nghiệm vận hành. Sự phân hóa rõ hơn ở tiêu chí vị trí việc làm, khi Tỉnh Đoàn và Hội đồng Đội tỉnh đánh giá rất cao (4,09), trong khi lãnh đạo và cán bộ Nhà thiếu nhi chỉ ở mức 2,94 – 2,98, cho thấy khoảng cách giữa thiết kế và thực thi. Ở tiêu chí tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng, điểm trung bình từ 2,73 đến 3,50, với lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Nội vụ cao hơn, trong khi Tỉnh Đoàn thấp nhất, phản ánh sự lệch pha giữa quản lý theo quy trình và yêu cầu thực tiễn về chất lượng nhân lực.
Ngược lại, tiêu chí vai trò người đứng đầu được đánh giá cao nhất ở tất cả các nhóm (3,04 – 4,18), cho thấy, hiệu quả vận hành phụ thuộc lớn vào năng lực cá nhân. Trong khi đó, tiêu chí tự chủ về nhân sự chỉ đạt mức trung bình (3,02 – 3,24), phản ánh những ràng buộc về biên chế, tuyển dụng và chính sách tiền lương. Tổng thể, cơ cấu nhân sự còn thiếu cân đối khi vai trò lãnh đạo phải bù đắp cho hạn chế của các công cụ quản trị, khiến hiệu quả hoạt động phụ thuộc nhiều vào con người hơn là thể chế. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện quản trị nhân sự theo hướng chuẩn hóa vị trí việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng tự chủ nhằm bảo đảm tính bền vững trong vận hành.
3. Những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập
3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập đã được hình thành tương đối đầy đủ và tạo nền tảng cho vận hành hệ thống. Các cấu phần như tên gọi, địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động cơ bản được thiết lập, bước đầu bảo đảm tính ổn định trong tổ chức và quản lý.
Thứ hai, hệ thống vẫn duy trì được chức năng, nhiệm vụ cốt lõi và khả năng thu hút đối tượng phục vụ. Các hoạt động giáo dục kỹ năng, phát triển năng khiếu và tổ chức sân chơi cho thanh thiếu nhi được triển khai thường xuyên, góp phần đáp ứng nhu cầu xã hội và tạo môi trường giáo dục ngoài nhà trường có sức hấp dẫn.
Thứ ba, bộ máy thể hiện khả năng thích ứng trong bối cảnh tinh gọn tổ chức. Mặc dù số lượng đơn vị giảm, khối lượng và quy mô hoạt động vẫn được duy trì, cho thấy hệ thống có năng lực điều chỉnh nhất định trước yêu cầu sắp xếp tổ chức.
Thứ tư, một số yếu tố quản trị đã bước đầu tiếp cận yêu cầu tự chủ. Cơ chế phối hợp liên ngành dần được hình thành, vai trò của người đứng đầu được tăng cường, chức năng và nhiệm vụ của đơn vị ngày càng gắn với nhu cầu thực tiễn của thanh thiếu nhi.
3.2. Những hạn chế, bất cập
Tổ chức bộ máy còn thiếu tính rõ ràng và thống nhất. Sự khác biệt trong nhận thức và vận dụng giữa các nhóm chủ thể và giữa các địa phương cho thấy các cấu phần của bộ máy chưa được chuẩn hóa đầy đủ.
Còn tồn tại khoảng cách giữa thiết kế thể chế và vận hành thực tiễn. Hạn chế này thể hiện rõ ở phân định chức năng, phân cấp thẩm quyền và hiệu quả phối hợp liên ngành, làm giảm hiệu lực tổ chức và điều hành.
Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động còn mang tính hành chính, mức độ tự chủ hạn chế. Không gian tự chủ về tài chính, nhân sự và tổ chức chưa được mở rộng thực chất, làm giảm tính linh hoạt và chủ động của đơn vị.
Quản trị nhân sự và hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với yêu cầu. Các bất cập về vị trí việc làm, tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng vẫn tồn tại, trong khi hiệu quả hoạt động còn phụ thuộc nhiều vào cá nhân người đứng đầu và chưa phản ánh đầy đủ quy mô tổ chức.
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện và thiếu tính cụ thể. Các quy định về phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình chưa theo kịp yêu cầu đổi mới quản trị, dẫn đến khác biệt trong cách hiểu và triển khai.
Mô hình tổ chức còn chịu ảnh hưởng của tư duy quản lý hành chính truyền thống. Việc chuyển đổi sang mô hình quản trị linh hoạt, lấy hiệu quả làm trung tâm còn chậm và chưa đồng bộ.
Nguồn lực bảo đảm còn hạn chế. Thiếu hụt về nhân sự, tài chính và cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận hành và chất lượng hoạt động của đơn vị.
Cơ chế phối hợp và năng lực quản trị chưa đáp ứng yêu cầu. Sự thiếu liên thông giữa các cơ quan, cùng với năng lực quản trị không đồng đều và công cụ quản lý còn yếu, làm giảm hiệu quả triển khai cơ chế tự chủ trong thực tiễn.
4. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ
Thứ nhất, đề xuất mô hình tổ chức bộ máy theo hướng tự chủ.
Trên cơ sở những hạn chế về thiếu thống nhất trong nhận diện, chưa rõ ràng trong phân định chức năng, mức độ tự chủ còn hạn chế và cơ cấu tổ chức chưa phù hợp, mô hình tổ chức bộ máy cần được thiết kế lại theo hướng tinh gọn, linh hoạt và tăng cường năng lực quản trị. Chuyển từ cấu trúc hành chính sang cấu trúc quản trị theo chức năng. Bộ máy cần phân định rõ ba nhóm chức năng cốt lõi như: quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động giáo dục thanh thiếu nhi, hỗ trợ và phát triển dịch vụ. Cách tiếp cận này giúp khắc phục chồng chéo, nâng cao hiệu quả phối hợp và định hướng hoạt động theo nhu cầu của thanh thiếu nhi.
Thiết kế bộ máy theo hướng phân cấp rõ ràng, giảm tầng nấc trung gian và tăng tính linh hoạt. Cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào định hướng, kiểm tra và giám sát, trong khi đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền chủ động hơn trong tổ chức hoạt động, sử dụng nguồn lực và bố trí nhân sự. Đồng thời, cần tinh gọn cơ cấu nội bộ, tăng phối hợp ngang và hạn chế phân mảnh chức năng.
Bổ sung các bộ phận chức năng phù hợp với yêu cầu tự chủ. Cần hình thành hoặc kiện toàn các bộ phận như phát triển dịch vụ, truyền thông, hợp tác xã hội và quản trị chất lượng nhằm mở rộng nguồn lực, nâng cao khả năng kết nối và cải thiện chất lượng hoạt động, nhưng vẫn bảo đảm tính linh hoạt theo điều kiện từng địa phương.
Bảo đảm tính mở và khả năng thích ứng của mô hình tổ chức. Bộ máy cần cho phép điều chỉnh linh hoạt theo đặc thù địa phương và nhu cầu của thanh thiếu nhi, đồng thời tăng cường vai trò người đứng đầu gắn với trách nhiệm giải trình và thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm minh bạch, hiệu quả trong quản trị.
Thứ hai, đề xuất hoàn thiện tổ chức bộ máy theo hướng tự chủ.
Xuất phát từ các hạn chế và nguyên nhân đã phân tích, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ trên các phương diện thể chế, tổ chức, nhân sự và cơ chế vận hành.
(1) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Cần cụ thể hóa địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi trong thực thi, đồng thời giảm sự khác biệt trong cách hiểu và vận dụng giữa các địa phương.
(2) Đổi mới tổ chức và cơ chế vận hành theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức cần gắn với nâng cao chất lượng phân công, phân cấp và phối hợp, tăng cường liên kết giữa các bộ phận và giữa đơn vị với các chủ thể liên quan, đồng thời chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị dựa trên kết quả và chất lượng dịch vụ.
(3) Mở rộng tự chủ gắn với phát triển nguồn nhân lực. Cần tăng quyền chủ động cho đơn vị trong tài chính, tổ chức và nhân sự, đồng thời hoàn thiện vị trí việc làm, đổi mới tuyển dụng, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng cơ chế đãi ngộ phù hợp nhằm nâng cao năng lực và tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức.
(4) Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cần chuẩn hóa quy trình quản lý, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên kết quả đầu ra, qua đó nâng cao hiệu lực quản trị và bảo đảm tính bền vững trong vận hành của các đơn vị.
5. Kết luận
Nghiên cứu cho thấy tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục thanh thiếu nhi ngoài nhà trường đang vận hành trong trạng thái chuyển đổi, khi khuôn khổ thể chế từng bước được thiết lập nhưng chưa đồng bộ với yêu cầu vận hành theo cơ chế tự chủ. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc thiếu cấu trúc tổ chức, mà ở mức độ phù hợp và khả năng thích ứng của bộ máy trước các yêu cầu quản trị mới. Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy cần được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc toàn diện, không chỉ dừng ở điều chỉnh hình thức tổ chức mà phải gắn với đổi mới thể chế, cơ chế vận hành và quản trị nhân sự. Trọng tâm là bảo đảm sự tương thích giữa thiết kế tổ chức và điều kiện thực thi, qua đó, nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả và khả năng tự chủ của hệ thống.
Chú thích:
1. Can Vietnam’s youth lead the digital revolution? https://vietnamnet.vn/en/vietnam-s-digital-youth-leading-change-or-chasing-trends-2424143.html?utm.
2. Trên 5 triệu thiếu nhi cả nước tham gia đồng diễn xác lập kỷ lục Việt Nam. https://baotintuc.vn/xa-hoi/tren-5-trieu-thieu-nhi-ca-nuoc-tham-gia-dong-dien-xac-lap-ky-luc-viet-nam-20240318135423074.htm.
3. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2017). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2017.
4. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2021). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2020.
5, 9, 10. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2025.
6. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2017, 2018, 2019). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2017, 2018, 2019.
7. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2022). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2022.
8, 12, 13. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2024). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024.
11. Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2020, 2021, 2022, 2023, 2024). Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2020, 2021, 2022, 2023, 2024.



