An toàn tài chính các công ty cổ phần than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và một số khuyến nghị

Financial safety of coal joint-stock companies under the Vietnam Coal and Mineral Industry Group and some recommendations

TS. Lưu Thị Thu Hà
Trường Đại học Mỏ – Địa chất

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập, an toàn tài chính không chỉ góp phần quan trọng trong việc duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp mà còn duy trì sự ổn định của nền kinh tế quốc gia. Đặc biệt, đối với các công ty cổ phần, vấn đề này càng trở nên cấp thiết do sự tác động mạnh mẽ từ các yếu tố thị trường và yêu cầu về minh bạch tài chính. Hiện nay, các công ty cổ phần than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) hầu hết đều được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Đây không chỉ là những đơn vị có sản lượng khai thác than lớn của TKV mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung cũng như tình hình tài chính của cả tập đoàn. Do vậy, nghiên cứu về an toàn tài chính của các công ty cổ phần than TKV không chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp trong việc cải thiện sức khỏe tài chính mà còn đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định chung của ngành công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu ngày càng biến động như hiện nay.

Từ khóa: An toàn tài chính, khả năng thanh toán, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, Công ty Cổ phần Than, TKV, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.

Abstract: Financial security is not only crucial for the sustainable development of businesses in general, but also a mandatory requirement for joint-stock companies in particular, given global economic integration and the demand for financial transparency. Most of the coal companies under the Vietnam Coal and Mineral Industry Group (Vinacomin) are listed on the Hanoi Stock Exchange (HNX). These are not only units with large coal mining outputs for Vinacomin, but they also affect the overall business performance and financial situation of the entire Group. Therefore, ensuring financial security not only improves the financial capacity of these enterprises but also is significant for the stability and sustainable development of Vietnam’s coal and mineral industry in the context of the current volatile global economy.

Keywords: financial safety, solvency, debt-to-equity ratio, Vinacomin Coal Joint Stock Company, Vinacomin

1. Đặt vấn đề

Các công ty cổ phần Than TKV đều có nguồn gốc từ những doanh nghiệp nhà nước hoạt động lâu năm trong lĩnh vực khai thác than. Phần lớn các công ty được thành lập từ thời bao cấp hoặc giai đoạn đầu đổi mới, sau đó được tổ chức lại dưới sự quản lý trực tiếp của TKV. Các đơn vị này đều trải qua quá trình cổ phần hóa theo chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn 2005–2010. Sau cổ phần hóa, nhiều công ty đã chính thức niêm yết cổ phiếu trên các sàn giao dịch chứng khoán như HNX hoặc UPCoM. Tuy nhiên, TKV vẫn nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối tại các đơn vị để bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa công ty mẹ Tập đoàn và các công ty con nhằm thực hiện chiến lược phát triển chung của toàn Tập đoàn.

Hiện nay, các công ty cổ phần Than TKV là lực lượng nòng cốt trực tiếp thực hiện hoạt động khai thác và cung ứng than cho nền kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực khai thác than lộ thiên và hầm lò, tập trung tại vùng than Quảng Ninh. Trong đó, nhóm công ty cổ phần khai thác than hầm lò, như: Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC), Công ty Cổ phần Than Vàng Danh – Vinacomin (TVD), Công ty Cổ phần Than Mông Dương (MDC), Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin (NBC), đảm nhiệm khai thác các mỏ hầm lò có điều kiện địa chất phức tạp, đòi hỏi trình độ công nghệ cao và yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.

Nhóm công ty cổ phần khai thác than lộ thiên gồm: Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – Cọc Sáu – Vinacomin (TD6), Công ty Cổ phần Than Cao Sơn – TKV (CST), Công ty Cổ phần Than Hà Tu – Vinacomin (THT), tập trung khai thác các mỏ lộ thiên quy mô lớn, đóng góp sản lượng đáng kể cho toàn Tập đoàn. Các công ty cổ phần than TKV đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ đặc thù của ngành công nghiệp khai khoáng, như: chi phí sản xuất cao, điều kiện làm việc khắc nghiệt, rủi ro môi trường và yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Tuy vậy, với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ TKV cùng việc áp dụng công nghệ khai thác hiện đại, các đơn vị này đang từng bước nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của phát triển bền vững.

2. Hiện trạng an toàn tài chính tại các công ty cổ phần than TKV

Đảm bảo an toàn tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần than TKV nói riêng. Khi nói đến mất an toàn tài chính của doanh nghiệp, người ta thường nghĩ tới doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ, các khoản nợ phải trả lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, đồng thời, lúc này, lượng vốn chủ sở hữu không đủ để bảo đảm cho các khoản nợ mà doanh nghiệp đang sử dụng. Do đó, để đánh giá an toàn tài chính của một doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến khả năng thanh toán, chỉ tiêu hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu để biết mối tương quan giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp huy động để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động của mình.Mức độ an toàn tài chính tại các công ty cổ phần than TKV được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau:

2.1. Về khả năng thanh toán ngắn hạn

Đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần than TKV giai đoạn 2020-2025 cho thấy, một số đơn vị bảo đảm được khả năng thanh toán trong ngắn hạn khá tốt như Công ty Cổ phần Than Vàng Danh – Vinacomin (TVD), Công ty Cổ phần Than Cao Sơn – TKV (CST) (> 1). Còn lại các đơn vị khác, hệ số này tương đối thấp, thậm chí có những đơn vị hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn bình quân giai đoạn chỉ đạt trên 0,5, cho thấy tình hình thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn của các đơn vị gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù, các đơn vị nỗ lực cải thiện hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn nhưng nhiều đơn vị vẫn chưa đạt mức hệ số lý tưởng (bằng 1) và tồn tại rủi ro thanh toán nợ ngắn hạn, như: Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin (NBC bình quân giai đoạn chỉ đạt 0,56), Công ty Cổ phần Than Mông Dương – Vinacomin (MDC đạt 0,66), Công ty Cổ phần Than Hà Lầm Vinacomin (NBC đạt 0,75). Đây là thực tế chung của các đơn vị ngành than, bởi các công ty thường gánh những khoản nợ ngắn hạn rất cao, trong khi lượng tài sản ngắn hạn để bảo đảm thanh toán nợ tương đối nhỏ, do đó tình trạng này thường xuyên diễn ra.

Bảng 1: Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của các Công ty Cổ phần Than TKV giai đoạn 2020 2025

STTCông ty202020212022202320242025Bình quân
1TVD0,750,721,171,261,141,031,01
2MDC0,550,510,880,680,690,630,66
3HLC0,910,700,650,960,600,710,75
4THT1,240,810,830,720,790,950,89
5NBC0,640,520,60,510,560,520,56
6CST0,810,771,061,351,131,161,05
7TD60,540,650,790,931,000,920,80
(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty cổ phần than TKV)

2.2. Về khả năng thanh toán nhanh

Để phản ánh chính xác khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản dễ chuyển đổi như tiền và các khoản phải thu, không bao gồm hàng tồn kho của các công ty cổ phần than TKV giai đoạn 2020-2025, nhiều đơn vị có khả năng thanh toán bình quân từ 0,46-0,75, như: Công ty Cổ phần Than Vàng Danh – Vinacomin (TVD đạt 0,75); Công ty cổ phần than Cao Sơn – TKV (CST đạt 0,67); Công ty Cổ phần Than Mông Dương – Vinacomin (MDC đạt 0,57); Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC đạt 0,46), cho thấy khả năng thanh toán nhanh của các đơn vị này đạt gần ngưỡng bình thường và tốt (0,5-1). Tuy nhiên, một số đơn vị có hệ số khả năng thanh toán trong giai đoạn khá thấp, như: Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – Cọc 6 – Vinacomin (TD6 bình quân giai đoạn chỉ đạt 0,22, trong đó cuối năm 2025 hệ số này chỉ còn 0,17); Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin (NBC bình quân đạt 0,33). Với đặc thù sản xuất – kinh doanh than, các doanh nghiệp thường có lượng hàng tồn kho khá lớn, nên sau khi loại trừ ảnh hưởng của hàng tồn kho tới khả năng thanh toán thì có thể thấy khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản nhanh chóng chuyển đổi thành tiền như tiền và tương đương tiền, phải thu khách hàng của các công ty cổ phần than TKV tương đối hạn chế.

Bảng 2: Hệ số khả năng thanh toán nhanh của các Công ty Cổ phần than TKV
giai đoạn 2020 – 2025

TTCông ty202020212022202320242025Bình quân
1TVD0,420,350,911,010,980,830,75
2MDC0,510,460,800,600,580,450,57
3HLC0,500,380,600,820,350,090,46
4THT0,750,320,460,380,230,300,41
5NBC0,110,130,500,470,440,320,33
6CST0,780,430,820,950,670,350,67
7TD60,100,130,390,170,370,170,22
(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty cổ phần than TKV)

Số liệu trong 3 năm gần đây (2023, 2024, 2025) cho thấy, hệ số thanh toán nhanh của các công ty cổ phần than TKV đều sụt giảm, thậm chí đối với Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC), cuối năm 2025 chỉ đạt 0,09. Đây là tín hiệu không khả quan, báo hiệu những rủi ro về thanh khoản trong ngắn hạn của các đơn vị này.

2.3. Về khả thanh toán tức thời

Trong giai đoạn 2020 – 2025, các công ty cổ phần than TKV đều có hệ số thanh toán tức thời rất thấp, cho thấy mức thanh khoản rất yếu ở khía cạnh tài sản tức thời. Trong 7 doanh nghiệp thì chỉ có Công ty Cổ phần Than Vàng Danh – Vinacomin (TVD) là đơn vị có khả năng thanh toán tức thời, có khả quan hơn so với các đơn vị khác. Trong suốt giai đoạn từ 2020 đến 2025, có thể nhận thấy rằng TVD là công ty duy nhất có sự cải thiện rõ rệt về hệ số thanh toán tức thời, từ 0,010 (cuối năm 2020) lên 0,025 (cuối năm 2025), mặc dù mức này vẫn rất xa ngưỡng an toàn (0,5-1,0). Cá biệt, có những đơn vị có khả năng thanh toán tức thời rất thấp, như: Công ty Cổ phần Than Cao Sơn – TKV (CST), trung bình chỉ có 0,0007 đồng tiền và tương đương tiền để thanh toán một đồng nợ ngắn hạn.

Bảng 3: Hệ số khả năng thanh toán tức thời của các Công ty Cổ phân Than TKV giai đoạn 2020 – 2025


TT
Công ty202020212022202320242025Bình quân
1TVD0,0100,0120,0090,0550,0280,0250,023
2MDC0,0040,0070,0050,0050,0040,0030,005
3HLC0,0030,0040,0030,0050,0150,0090,007
4THT0,0100,0080,0060,0050,0040,0090,007
5NBC0,0030,0020,0010,0020,0030,0030,002
6CST0,00020,00040,00060,00060,00060,00180,0007
7TD60,0020,0010,0020,0010,0080,0070,003
(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty cổ phần than TKV)

Thực tế cho thấy, các công ty cổ phần than TKV có lượng tiền và tương đương tiền rất hạn chế để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Điều này làm tăng nguy cơ mất an toàn tài chính, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp. Việc hệ số thanh toán tức thời duy trì ở mức rất thấp phản ánh tình trạng thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản có thể chuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn của các đơn vị. Đây là dấu hiệu của rủi ro thanh khoản, đặc biệt trong điều kiện thị trường biến động hoặc dòng tiền yếu.

2.4. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu giúp đánh giá mức độ rủi ro tài chính và khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao cho thấy, doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào nguồn vốn vay, từ đó tiềm ẩn rủi ro về lãi vay và khả năng thanh toán. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp than, khoáng sản có đặc thù hoạt động sản xuất – kinh doanh phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vòng quay vốn dài và rủi ro cao như TKV.

Bảng 4: Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của các Công ty Cổ phần Than TKV giai đoạn 2020 – 2025

TTCông ty202020212022202320242025Bình quân
1TVD4,183,283,072,02,652,913,01
2MDC4,73,553,592,252,512,623,20
3HLC10,227,916,684,332,802,725,78
4THT3,983,787,665,883,253,744,71
5NBC6,526,245,93,573,893,584,95
6CST3,153,131,851,181,481,432,04
7TD64,113,913,282,352,212,813,11
(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty cổ phần than TKV)

Theo quy định hiện hành, để bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 3 lần đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Giai đoạn 2020-2025, một số công ty cổ phần than TKV có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân vượt quá tỷ lệ 3/1 khá cao như Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (5,78); Công ty Cổ phần Than Hà Tu – Vinacomin (4,71); Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin (4,95). Những đơn vị này đã nỗ lực giảm hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu để bảo đảm an toàn tài chính theo đúng quy định trong những năm gần đây, ví dụ như Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC) có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu đạt 10,22 (năm 2020), giảm xuống còn 2,72 (năm 2025); Công ty Cổ phần Than Mông Dương – Vinacomin (MDC) từ 4,7 (năm 2020) giảm xuống 2,62 (năm 2025). Tuy nhiên, vẫn còn những đơn vị có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá quy định vào cuối năm 2025 như Công ty Cổ phần Than Hà Tu – Vinacomin (3,74), Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin (3,58), cho thấy các đơn vị vẫn còn nhiều áp lực về nợ vay, phụ thuộc lớn vào nguồn vốn nợ và gia tăng rủi ro tài chính cho doanh nghiệp.

3. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh xử lý nợ phải trả. Đối với các đơn vị có nợ vay đã gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, để tránh tình trạng mất cân đối nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro tài chính, các đơn vị cần chủ động trong việc tạo nguồn trả nợ, như thu hồi công nợ để trả nợ; tìm biện pháp thích hợp để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp về dòng tiền trả nợ. Bản thân các công ty khi đưa ra quyết định đầu tư cần nghiên cứu điều chỉnh thời hạn vay phù hợp với vòng đời của dự án đầu tư nhằm tránh tình trạng không có khả năng trả nợ, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính.

Thứ hai, tái cấu trúc nguồn vốn theo hướng nâng cao tỷ trọng vốn chủ sở hữu và đa dạng hóa kênh huy động vốn. Các công ty cổ phần than TKV có thể thông qua phát hành thêm cổ phiếu và thực hiện chính sách cổ tức hợp lý để giữ lại lợi nhuận tái đầu tư nhằm bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu. Đồng thời, đa dạng hóa nguồn vốn huy động để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng truyền thống bằng cách chủ động tiếp cận các nguồn vốn chi phí thấp và bền vững như tín dụng xanh, phát hành trái phiếu doanh nghiệp hoặc các nguồn tài chính gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính của TKV hướng tới mục tiêu phát thải ròng về “0” đến năm 2050, việc tiếp cận các nguồn vốn xanh không chỉ giúp giảm chi phí sử dụng vốn mà còn nâng cao hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp.

Thứ ba, các đơn vị cần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn kinh doanh, bảo đảm cơ cấu vốn hợp lý với các ngành, lĩnh vực kinh doanh; bố trí sử dụng vốn đúng nguyên tắc và có hiệu quả, ổn định lượng tiền mặt cần thiết cho cán cân thanh toán; bảo đảm cân đối hệ số vốn vay trên vốn chủ sở hữu không vượt quá trung bình của ngành.

Thứ tư, tập trung giải phóng hàng tồn kho. Trong năm 2025, các công ty cổ phần than TKV phải đối mặt với áp lực tồn kho than cao làm cho vốn lưu động chậm luân chuyển và dòng tiền cho sản xuất kinh doanh khan hiếm, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh toán cũng như tình hình tài chính của các đơn vị. Do đó, các công ty cần có biện pháp tích cực đẩy mạnh tiêu thụ để xử lý hàng tồn kho. Trên cơ sở mục tiêu kế hoạch tiêu thụ của Tập đoàn trong những năm tới, cần bám sát diễn biến thị trường để chỉ đạo điều hành sản xuất kịp thời, giữ tồn kho ở mức hợp lý; tập trung nâng cao chất lượng than, linh hoạt cơ cấu sản phẩm để đáp ứng các loại than cho nhu cầu tiêu thụ.

Thứ năm, xử lý hàng hóa, vật tư tồn kho. Với những hàng hóa tồn kho kém, mất phẩm chất, ứ đọng, chậm luân chuyển các đơn vị cần chủ động xử lý ngay để thu hồi vốn; thực hiện kịp thời việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định đã hư hỏng, lạc hậu kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng hoặc không sử dụng được để thu hồi vốn theo nguyên tắc công khai, minh bạch, bảo toàn vốn và gia tăng lượng tiền mặt nhằm cải thiện khả năng thanh toán tức thời.

4. Kết luận

Trong điều kiện kinh tế thị trường đang ngày càng mở rộng và hội nhập, các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần than TKV nói riêng không chỉ đối mặt với áp lực sản xuất – kinh doanh ngày càng khó khăn mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố kinh tế vĩ mô, biến động thị trường, giá cả đầu vào và thay đổi trong chính sách quản lý của Nhà nước. Trong bối cảnh đó, bảo đảm an toàn tài chính được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để doanh nghiệp có thể duy trì sự ổn định, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Việc nhận diện được những khó khăn, tồn tại tác động đến an toàn tài chính của các công ty cổ phần than TKV là rất quan trọng để từ đó triển khai các giải pháp góp phần tăng cường tiềm lực tài chính, nâng cao an toàn tài chính, góp phần phát triển bền vững các đơn vị trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2025). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2025.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 245/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
3. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1689/QĐ-TTg ngày 26/12/2023 phê duyệt Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm giai đoạn 2021-2025 của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.
4. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1263/QĐ-TTg ngày 27/10/2023 phê duyệt cơ cấu lại Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đến năm 2025.
5. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 625/QĐ-TTg ngày 17/3/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
8. Công ty Cổ phần Than Vàng Danh – Vinacomin. https://finance.vietstock.vn/tvd/tai-tai-lieu.htm
9. Công ty cổ phần Than Cọc Sáu – Vinacomin. https://cafef.vn/du-lieu/hastc/TC6-bao-cao-tai-chinh.chn
10. Công ty Cổ phần Than Núi Béo – Vinacomin. https://hnx.vn/cophieu-etfs/chi-tiet-chung-khoan-ny-NBC.html?