Vai trò của Nhân dân Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng kháng chiến (giai đoạn 1954 – 1975)

The role of the people of Southern Vietnam in building and defending revolutionary resistance bases during the 1954–1975 period

ThS. Trần Thị Huyền
NCS của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ vừa là hậu phương trực tiếp, vừa là không gian tồn tại và phát triển của chiến tranh nhân dân. Trên cơ sở phân tích các nguồn tư liệu lịch sử, bài viết làm rõ vai trò của Nhân dân Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa trên ba phương diện chủ yếu: bảo đảm nền tảng vật chất; xây dựng hệ thống cơ sở chính trị; trực tiếp tham gia đấu tranh quân sự, an ninh, binh vận. Nhân dân không chỉ là lực lượng tham gia đông đảo mà còn giữ vai trò chủ thể trong việc hình thành, củng cố và phát huy “thế trận lòng dân”, yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và khả năng phát triển của căn cứ địa cách mạng trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Từ khóa: Nhân dân Nam Bộ; giai đoạn 1954 – 1975; chống Mỹ, cứu nước; căn cứ địa; chiến tranh nhân dân.

Abstract: During the resistance war against American imperialists (1954 – 1975), the revolutionary bases in Southern Vietnam served as both a direct rear area and a vital space for the existence and expansion of the people’s war. Based on an analysis of historical documents, this article elucidates the role of the Southern people in constructing and defending these bases across three primary dimensions: ensuring the material foundation, building the grassroots political system, and directly engaging in military, security, and proselytizing struggles. The findings demonstrate that the people were not merely a large participating force but held a central, subjective role in forming, consolidating, and promoting the “people’s heartland”. This factor was decisive for the survival and development of revolutionary bases amidst the exigencies of fierce warfare.

Keywords: Southern Vietnamese people; 1954 – 1975; revolutionary bases; people’s war.

1. Đặt vấn đề

Trong lý luận và thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), căn cứ địa cách mạng không chỉ là nơi đứng chân của lực lượng vũ trang mà còn là “hậu phương tại chỗ”, giữ vai trò cung cấp sức người, sức của, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của chiến tranh nhân dân ở miền Nam. Tại Nam Bộ, hệ thống căn cứ địa vừa là không gian sinh tồn của lực lượng cách mạng, vừa là bàn đạp chiến lược để triển khai các hoạt động quân sự, chính trị, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường. Đặc biệt, từ sau năm 1969, khi Mỹ và chính quyền tay sai đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, các căn cứ địa trở thành mục tiêu đánh phá trọng điểm. Các chiến dịch “bình định” quy mô lớn, kết hợp với kế hoạch “Phượng hoàng”, nhằm triệt phá cơ sở cách mạng và tách lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng, tức là phá vỡ nền tảng của chiến tranh nhân dân. Trong bối cảnh đó, sự tồn tại của căn cứ địa không chỉ phụ thuộc vào yếu tố quân sự mà trước hết gắn liền với mức độ gắn bó giữa cách mạng và nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, trước những thách thức gay gắt, Nhân dân Nam Bộ đã giữ vai trò chủ thể trực tiếp trong việc xây dựng, bảo vệ và duy trì căn cứ địa trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị và quân sự. Chính sự tham gia rộng khắp, bền bỉ và có tổ chức của quần chúng đã tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc, bảo đảm cho căn cứ địa không bị cô lập mà vẫn đứng vững và phát triển trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của Nhân dân Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa không chỉ góp phần làm rõ cơ sở xã hội của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà còn giúp nhận diện sâu sắc hơn quy luật vận động và sức mạnh nội sinh của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

2. Vai trò của Nhân dân Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa – nhìn từ chiến tranh nhân dân

Một là, Nhân dân Nam Bộ là lực lượng quyết định bảo đảm nền tảng vật chất của căn cứ địa.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), bảo đảm hậu cần tại chỗ luôn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với các căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ. Do đặc điểm chiến trường thường xuyên bị phong tỏa, chia cắt và chịu sức ép lớn từ các chiến dịch “bình định” quy mô của đối phương, việc liên hệ với hậu phương lớn miền Bắc gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khả năng tự cung tự cấp về lương thực, thực phẩm và vật tư không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn phản ánh mức độ vững chắc của từng vùng căn cứ. Trong hoàn cảnh đó, chính Nhân dân đã chủ động đảm nhận vai trò này bằng nhiều cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế.

Ngay sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, dù lực lượng cách mạng bị tổn thất và địa bàn thu hẹp, Nhân dân Nam Bộ vẫn kiên trì bám đất, khôi phục sản xuất, duy trì nguồn lực tại chỗ. Bước sang thập niên 1960, hoạt động sản xuất không chỉ dừng ở tự túc mà được tổ chức chặt chẽ hơn, gắn trực tiếp với yêu cầu của chiến tranh, hình thành các mô hình sản xuất phù hợp với vùng giải phóng và khu vực tranh chấp. Nhờ đó, nhiều vùng căn cứ từng bước hình thành được nền kinh tế kháng chiến tương đối ổn định. Thực tiễn chiến trường B2 cho thấy mức độ tự chủ hậu cần ngày càng tăng. Tiêu biểu như ở Cà Mau, “trong 3 năm địch “bình định” ác liệt (đến cuối năm 1971), Nhân dân Cà Mau vẫn đóng góp cho cách mạng 2.031.885 giạ lúa”1. Đến vụ mùa năm 1973, mặc dù địch dùng mọi thủ đoạn phong tỏa kinh tế vùng giải phóng, diện tích sản xuất mùa vụ của tỉnh vẫn đạt gần 100.000 ha, gấp hai lần diện tích của năm 19722. Ở Bình Phước, đến đầu tháng 6/1973, “đã gieo cấy được 6.669 ha rẫy và 475 ha ruộng (đạt 82,2% kế hoạch vụ mùa); trồng được 6.739.600 gốc mì; tỉa 9.362 lít giống bắp; khoai lang đạt 5 mét bình quân đầu người”3. Những kết quả này cho thấy không chỉ quy mô đóng góp lớn mà còn phản ánh sự hình thành của một cơ chế hậu cần tương đối vững chắc ngay trong lòng dân. Bên cạnh sản xuất, các phong trào tự nguyện như “hũ gạo nuôi quân”, “nuôi quân tại chỗ” phát triển rộng khắp, huy động nguồn lực lớn từ trong dân.

Ở nhiều địa phương, như tại Cà Mau, Hội mẹ chiến sĩ và Hội phụ nữ giải phóng đã tổ chức các phong trào sản xuất và tiết kiệm nổi bật như “Hũ gạo nuôi quân”, “con gà chống Mỹ” nhằm tạo nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho bộ đội4. Ở Bình Dương, đến cuối năm 1973, khu vực Bắc Bến Cát đã thu hoạch được 30.595 giạ lúa, trồng 536.500 gốc mì, 27.800 mét khoai lang; các cơ quan dân chính đảng tự túc được 1.880 giạ lúa và trên 50.000 gốc mì5. Vào vụ mùa năm 1974, để chống lại chiến dịch cướp lúa của địch, nông dân đã giấu lúa và đóng góp cho cách mạng trên 10.000 giạ lúa6.

Các đóng góp chủ yếu xuất phát từ ý thức tự giác và sự gắn bó với lợi ích giữa cá nhân với cách mạng, chứ không mang tính ép buộc. Bên cạnh đó, Nhân dân còn kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và bảo vệ thành quả lao động. Không chỉ làm ra của cải, bà con còn trực tiếp tham gia vận chuyển, cất giấu và phân phối vật tư cho lực lượng vũ trang. Nhờ đó, đã hình thành một hệ thống “hậu cần nhân dân” với đặc điểm phân tán, linh hoạt nhưng rất bền vững, khiến đối phương khó có thể triệt phá hoàn toàn dù áp dụng nhiều biện pháp quân sự và kinh tế. Trong giai đoạn 1954 – 1975, nhân dân Nam Bộ không chỉ là nguồn cung vật chất mà còn là chủ thể tổ chức và duy trì nền kinh tế kháng chiến. Nền tảng vật chất của căn cứ địa gắn chặt với sức sản xuất và khả năng huy động, tổ chức của quần chúng. Đây chính là yếu tố then chốt giúp các căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ đứng vững, phục hồi và phát triển trong điều kiện chiến tranh kéo dài, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Hai là, Nhân dân Nam Bộ giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng và duy trì hệ thống cơ sở chính trị của căn cứ địa.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, sức sống của các căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên hay tiềm lực vật chất, mà trước hết được bảo đảm bởi một hệ thống chính trị bám sâu trong lòng quần chúng. Đặc trưng nổi bật của chiến tranh nhân dân ở đây là các tổ chức chính trị không tồn tại tách biệt, mà được hình thành, nuôi dưỡng và vận hành ngay trong đời sống xã hội, với Nhân dân giữ vai trò trung tâm. Vì vậy, quá trình xây dựng căn cứ địa về thực chất cũng là quá trình giác ngộ, tổ chức và huy động sức mạnh chính trị của quần chúng.

Sau năm 1954, trong bối cảnh phong trào cách mạng bị khủng bố, phải chuyển vào hoạt động bí mật, chính Nhân dân Nam Bộ đã trở thành chỗ dựa để bảo vệ và khôi phục hệ thống tổ chức Đảng, đoàn thể ở cơ sở. Dù nhiều cơ sở bị đánh phá, sự che chở và tinh thần kiên định của quần chúng đã giúp giữ vững hạt nhân lãnh đạo, từng bước khôi phục phong trào, như ở Bà Rịa – Vũng Tàu, năm 1956, tại nội ô Vũng Tàu, Ban cán sự đã móc nối và gây dựng được 54 cơ sở quần chúng ở khu vực Thắng Nhì7.

Bước sang thập niên 60, Thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của chiến tranh, hệ thống chính trị cơ sở không chỉ được củng cố mà còn mở rộng về quy mô, hình thành mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa vùng căn cứ, vùng giải phóng và cả khu vực tranh chấp, mức độ tham gia của quần chúng vào các tổ chức chính trị – xã hội rất cao. Nhiều địa phương chú trọng đào tạo cán bộ từ cơ sở, đặc biệt là cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ hoạt động bí mật, qua đó không ngừng bổ sung lực lượng lãnh đạo tại chỗ. Như Tỉnh ủy Bến Tre chủ trương “tích cực đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ không lộ (cán bộ mật) để tăng cường kiện toàn bộ máy chuyên môn các cấp, đủ sức lãnh đạo phong trào đấu tranh ở xã, ấp”8. Nhờ đó, đến cuối năm 1970, “toàn tỉnh phát triển được 1.097 đảng viên mới thì có tới gần một nửa là đảng viên mật”9. Điều này không chỉ phản ánh kết quả của công tác tổ chức mà còn minh chứng cho sự gắn kết máu thịt giữa Nhân dân với lý tưởng cách mạng. Lúc này, các tổ chức chính trị đã thực sự trở thành tiếng nói đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của đa số quần chúng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ nòng cốt tại địa phương, vốn trưởng thành từ chính các phong trào cơ sở, đã đóng vai trò chỉ đạo trực tiếp mọi hoạt động tại chỗ. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1974, ở Bến Tre, tổ chức hội phụ nữ cơ sở phát triển cực kỳ mạnh mẽ với 152 hội viên phụ nữ mới được kết nạp, nâng tổng số toàn tỉnh lên 10.997 hội viên phụ nữ (làm nòng cốt chính trị ở cơ sở)10.

Một nội dung quan trọng khác chính là vai trò của Nhân dân trong việc bảo vệ hệ thống chính trị trước các chiến dịch “bình định” và càn quét liên tục của địch. Từ việc nuôi giấu cán bộ, bảo vệ chi bộ đến việc duy trì các tuyến liên lạc bí mật ngay trong vùng địch kiểm soát, tất cả đều dựa vào sự tham gia chủ động của quần chúng. Nhờ đó, hàng nghìn cơ sở cách mạng vẫn được giữ vững, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục của Đảng trong mọi tình huống. Như ở Bình Phước, qua phong trào giữ đất, giành dân, ngày 08/3/1974, Hội Phụ nữ tổ chức biểu dương thành tích xuất sắc của chị em trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Từ những hạt nhân xuất sắc bảo vệ vùng giải phóng và đấu tranh chính trị, nhiều chị em phụ nữ đã được bồi dưỡng kết nạp vào tổ chức Đoàn và tổ chức Đảng, trở thành những cơ sở nòng cốt lãnh đạo phong trào11.

Bên cạnh đó, Nhân dân Nam Bộ còn góp phần “xã hội hóa” các thiết chế cách mạng. Sự tham gia tự nguyện và rộng rãi của quần chúng đã khiến các tổ chức Đảng, đoàn thể trở thành một bộ phận tự nhiên, không thể tách rời khỏi đời sống cộng đồng. Điều này tạo nên một sức đề kháng đặc biệt, đối phương có thể phá vỡ một tổ chức cụ thể, nhưng không thể triệt tiêu được nền tảng xã hội của nó. Như vậy, trong suốt giai đoạn 1954 – 1975, Nhân dân Nam Bộ không chỉ là lực lượng hỗ trợ mà chính là chủ thể trực tiếp xây dựng, duy trì và bảo vệ hệ thống cơ sở chính trị của căn cứ địa. Vai trò này giữ ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho hệ thống chính trị cách mạng không những đứng vững trước sự đánh phá ác liệt mà còn không ngừng phát triển, tạo nền tảng cho sự vận hành hiệu quả của thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam.

Ba là, Nhân dân Nam Bộ giữ vai trò quyết định trong xây dựng thế trận chính trị quần chúng – “thế trận lòng dân”.

Trong toàn bộ tiến trình chiến tranh nhân dân giai đoạn 1954 – 1975, “thế trận lòng dân” không chỉ là yếu tố hỗ trợ mà thực chất là nền tảng quyết định sức mạnh, khả năng tồn tại và phát triển của phong trào cách mạng. Ở Nam Bộ, thế trận này được hình thành từ quá trình giác ngộ, tổ chức và huy động quần chúng một cách kiên trì, liên tục và có hệ thống. Nhân dân vì thế vừa là đối tượng của công tác vận động, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia kiến tạo và củng cố nền tảng chính trị – xã hội của cuộc kháng chiến.

Ngay sau năm 1954, trong bối cảnh bị kiểm soát và đàn áp gay gắt, Nhân dân Nam Bộ vẫn kiên trì duy trì các hình thức đấu tranh linh hoạt. Từ việc bảo vệ cơ sở bí mật, che chở cán bộ đến đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, các hoạt động này đã góp phần giữ vững mối liên hệ giữa cách mạng với quần chúng, bảo toàn lực lượng và duy trì thế đứng chân của phong trào. Bước sang đầu những năm 60, khi chiến tranh phát triển, phong trào quần chúng chuyển biến mạnh mẽ cả về quy mô lẫn hình thức. Các phương thức đấu tranh được vận dụng linh hoạt, kết hợp giữa đấu tranh bí mật với công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, tạo ra sức ép chính trị thường xuyên đối với chính quyền Sài Gòn. Tại Thị ủy Vũng Tàu, để phát triển cơ sở bí mật nội ô thị xã Vũng Tàu, Thị ủy đã tăng cường nhiều nữ cán bộ, đảng viên kiên trung bám trụ, như các đồng chí Võ Thị Dậu, Nguyễn Lan, Ngô Thị Bảy, Cái Thị Liên12. Sự biến hóa đa dạng này đã tạo ra một sức ép chính trị thường trực, làm tê liệt và suy giảm đáng kể hiệu lực kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trên nhiều địa bàn trọng điểm. Đến giai đoạn 1969 – 1972, phong trào quần chúng đạt tới quy mô lớn, với sự tham gia rộng khắp của các tầng lớp nhân dân, trong đó phụ nữ giữ vai trò nòng cốt. Ở nhiều vùng tranh chấp, đa số hộ gia đình trực tiếp tham gia hoặc trở thành chỗ dựa tin cậy cho cách mạng.

Các hình thức đấu tranh như bãi thị, biểu tình, chống thu thuế, chống cưỡng ép… diễn ra rộng khắp, không chỉ làm suy giảm hiệu lực kiểm soát của đối phương mà còn khẳng định vai trò chủ động của quần chúng trong đời sống chính trị, như trong năm 1973, tại nội ô thị xã Thủ Dầu Một, hàng trăm chị em nữ tiểu thương đã đồng loạt bãi thị, đấu tranh quyết liệt chống thu thuế giá trị gia tăng, chống chiếm chỗ, làm náo loạn cả thị xã, buộc tỉnh trưởng ngụy phải đích thân xoa dịu và chấp nhận yêu sách13.

Tại Bình Phước, thế trận đấu tranh không ngừng nghỉ. Từ tháng 4–6/1969, Bình Long tổ chức 26 cuộc đấu tranh (8.594 lượt người); Phước Long tổ chức 17 cuộc (5.720 lượt người). Cuối năm 1973, tỉnh kết nạp được 146 đảng viên mới (có 9 nữ, 24 người dân tộc thiểu số), nâng tổng số đảng viên vùng giải phóng lên 575 đồng chí trong 51 chi bộ. Năm 1974, tại các vùng yếu, ta lập Đảng bộ ở 10 xã, chi bộ ở 7 xã và kết nạp 23 đảng viên mới ngay trong các ấp chiến lược14.

Vai trò quyết định của Nhân dân còn thể hiện ở khả năng biến sự ủng hộ thành sức mạnh tổ chức. Thông qua công tác vận động, quần chúng được liên kết thành các mạng lưới rộng khắp, gắn bó chặt chẽ với hệ thống cơ sở Đảng và đoàn thể. Nhờ đó, “thế trận lòng dân” không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành một cấu trúc xã hội cụ thể, có khả năng huy động lực lượng, tạo sức ép chính trị và hỗ trợ hiệu quả cho các mặt trận quân sự và binh vận. Đặc biệt, khi đối phương triển khai các chiến lược “bình định” nhằm chia cắt mối quan hệ giữa cách mạng và Nhân dân, chính “thế trận lòng dân” này đã phát huy vai trò bảo vệ then chốt. Sự gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân với tổ chức cách mạng đã làm thất bại âm mưu cô lập cách mạng, giúp các căn cứ địa không chỉ đứng vững mà còn từng bước mở rộng ảnh hưởng, kể cả ở những vùng bị kiểm soát chặt chẽ. Như vậy, trong suốt hai thập kỷ kháng chiến, Nhân dân Nam Bộ không chỉ là chỗ dựa xã hội mà còn là lực lượng trực tiếp xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, nhân tố quyết định bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của căn cứ địa cách mạng. Vai trò này khẳng định sâu sắc bản chất của chiến tranh nhân dân Việt Nam và giá trị thực tiễn của nguyên lý “lấy dân làm gốc” trong điều kiện chiến tranh hiện đại.

Bốn là, Nhân dân Nam Bộ trực tiếp tham gia bảo vệ căn cứ địa trên các phương diện quân sự, an ninh và binh vận.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, việc bảo vệ căn cứ địa không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang mà còn trở thành công việc chung của toàn dân. Ở Nam Bộ,  chiến tranh nhân dân thể hiện rõ ở sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu, khiến việc bảo vệ căn cứ địa thấm sâu vào đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, Nhân dân không chỉ là “hậu phương” mà còn là lực lượng tại chỗ, giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và duy trì thế trận phòng thủ trên cả ba phương diện quân sự, an ninh và binh vận.

Ngay từ sau năm 1954, khi phong trào cách mạng phải hoạt động trong điều kiện bị đàn áp gắt gao, quần chúng đã chủ động xây dựng các hình thức tự vệ, bảo vệ cơ sở và che giấu cán bộ. Từ đầu thập niên 60, khi chiến tranh lan rộng, các lực lượng này được tổ chức ngày càng chặt chẽ, trở thành một bộ phận quan trọng của thế trận tại chỗ, có khả năng phối hợp linh hoạt với bộ đội chủ lực và địa phương. Trên phương diện quân sự, nhân dân là nguồn bổ sung chủ yếu cho lực lượng dân quân du kích, lực lượng trực tiếp bám đất, giữ làng. Với sự tham gia rộng rãi, kể cả phụ nữ, lực lượng này đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ như canh gác, phục kích, chống càn quét và bảo vệ làng xã. Nhờ đó, một thế trận phòng thủ phân tán nhưng liên hoàn được hình thành, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa giữ vững địa bàn, tạo điều kiện cho chủ lực cơ động chiến đấu.

Ở nhiều địa phương, Nhân dân còn trực tiếp tham gia xây dựng công sự, cải tạo địa hình, tổ chức các hình thức đánh địch bằng vũ khí thô sơ, góp phần làm thất bại các chiến thuật cơ động của đối phương. Như tại Bến Tre, nhân dân cùng du kích đắp bờ thành, xây dựng công sự, ổ ụ chiến đấu, phát triển “đội quân ong vò vẽ”, sử dụng vũ khí thô sơ, cắm sào, cắm chông ở các bãi đồng trống để chống máy bay trực thăng “nhảy giò” của địch. Dọc các tuyến đường liên xã, đồng bào tự đào hầm hố tránh phi pháo, cải tạo địa hình tạo thế liên hoàn bảo vệ vùng giải phóng15.

Trên lĩnh vực an ninh và bảo đảm thông tin, vai trò của Nhân dân càng trở nên nổi bật. Mạng lưới cơ sở quần chúng rộng khắp đã tạo nên hệ thống “tai mắt” tại chỗ, giúp phát hiện sớm hoạt động của địch và bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt. Như tại Cà Mau trong những năm 1955–1956, khi địch đẩy mạnh “tố cộng, diệt cộng”, Nhân dân đã sáng tạo ra các đội “dân canh chống cướp”. Khi phát hiện biệt kích địch ập vào bắt cán bộ, quần chúng lập tức đánh trống, gõ mõ báo động, dùng dao mác, gậy gộc kéo đến bao vây, tạo áp lực buộc địch phải thả người. Có trận, tiếng mõ truyền từ xóm này qua xóm khác vang xa 30 km, huy động hàng ngàn người cầm đuốc vây chặt quân địch để giải thoát cán bộ 16.

Việc Nhân dân kiên trì xây dựng hàng nghìn cơ sở bí mật, nuôi giấu an toàn cho hàng chục nghìn lượt cán bộ, tiêu biểu như Má Tám ở Phước Hải (Long Đất), đã làm hầm bí mật xây bằng xi măng ngay trong nhà để thường xuyên nuôi giấu cán bộ. Má Năm Tơ ở phường Thống Nhất (Biên Hòa) làm nhà gỗ vách đôi nuôi cán bộ; khi địch phát hiện, đánh đập tra tấn chết đi sống lại, má vẫn kiên quyết không khai báo17 đã góp phần giữ vững sự chỉ đạo liên tục của tổ chức cách mạng, kể cả trong những vùng bị kiểm soát chặt chẽ. Nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt, như báo động, bao vây, gây sức ép khi địch càn quét, cho thấy vai trò chủ động của quần chúng trong việc bảo vệ lực lượng cách mạng ngay trong lòng địch.

Đặc biệt, trên mặt trận binh vận, Nhân dân Nam Bộ đã phát huy hiệu quả các hình thức vận động linh hoạt nhằm phân hóa, làm suy yếu lực lượng đối phương. Thông qua tuyên truyền, vận động gia đình binh sĩ, phát truyền đơn, thư kêu gọi, quần chúng đã góp phần làm tan rã hàng ngũ địch, thúc đẩy nhiều binh lính rã ngũ hoặc quay về với cách mạng. Tiêu biểu như ở Bến Tre, có “chị Hoàng Nhu vận động em trai đưa lính trong đồn Vĩnh Hiệp (Vĩnh Thành – Chợ Lách) ra hàng Quân giải phóng”18. Tại Bình Phước, “đồng bào đã tuyên truyền giải thích chính sách khoan hồng của cách mạng cho trên 350 gia đình binh sĩ ngụy, vận động họ kêu gọi con em bỏ hàng ngũ địch quay về với Nhân dân và gia đình, phát trên 5.000 truyền đơn, 65 thư tay cho binh sĩ, nhiều nơi đồng bào đem truyền đơn thư tay lên tận đồn bót trao cho binh lính địch”19. Hoạt động này không chỉ làm suy giảm sức chiến đấu của đối phương mà còn thể hiện rõ tính chất “phi đối xứng” của chiến tranh nhân dân, trong đó yếu tố chính trị – tinh thần giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Chỉ tính riêng đợt Xuân – Hè năm 1972, các tỉnh Rạch Giá, Trà Vinh, Cần Thơ, phụ nữ đã “vận động rã ngũ trên 2.000 quân chủ lực ngụy, hàng ngàn lính bảo an và đại bộ phận phòng vệ dân sự đem súng về với cách mạng”20. Có thể thấy, sự tham gia trực tiếp và toàn diện của Nhân dân đã tạo nên một hệ thống bảo vệ căn cứ địa nhiều tầng, kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, an ninh và binh vận. Chính cơ chế này đã giúp căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ giữ vững thế đứng, duy trì thế chủ động và không ngừng phát triển, ngay cả trong điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt.

3. Kết luận

Từ góc độ chiến tranh nhân dân, có thể thấy vai trò của Nhân dân Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa giai đoạn 1954 – 1975 mang tính toàn diện, liên tục và có ý nghĩa quyết định trên cả ba phương diện kinh tế, chính trị và quân sự. Nhân dân không chỉ tham gia mà còn trực tiếp giữ vai trò trung tâm trong việc tạo dựng nền tảng vật chất, xây dựng hệ thống cơ sở chính trị và hình thành “thế trận lòng dân”, yếu tố cốt lõi bảo đảm sức sống của căn cứ địa cách mạng. Thực tiễn cho thấy, chính sự tham gia rộng khắp, bền bỉ và ngày càng được tổ chức chặt chẽ của quần chúng đã giúp các căn cứ địa ở Nam Bộ đứng vững trước sự bao vây, đánh phá ác liệt của đối phương, đặc biệt trong các giai đoạn đẩy mạnh chiến lược chiến tranh và “bình định”. Không chỉ được giữ vững, các căn cứ địa còn từng bước phục hồi, mở rộng và phát triển, trở thành chỗ dựa trực tiếp và vững chắc của chiến tranh nhân dân ở miền Nam. Như vậy, trong suốt hai thập kỷ kháng chiến, Nhân dân Nam Bộ giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống căn cứ địa cách mạng. Điều này không chỉ khẳng định giá trị thực tiễn của nguyên lý “lấy dân làm gốc”, mà còn làm nổi bật sức mạnh nội sinh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975.

Chú thích:
1, 2, 4, 16. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau (2007). Lịch sử 30 năm kháng chiến của quân và dân tỉnh Cà Mau (1945 – 1975). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 285, 310, 285 – 286, 113 – 114.
3, 11, 14, 19. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước (2020). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Phước (1930 – 2020). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 283, 286, 238 – 293, 238 – 293.
5, 6, 13. Tỉnh ủy Bình Dương (2014). Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 – 1975). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 629, 639, 621.
7, 12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2000). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tập II (1954 – 1975). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 31, 329.
8, 9, 10, 15, 18. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre (2017). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930 – 2015). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 304, 305, 343, 247, 319.
17. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (1986). Đồng Nai 30 năm chiến tranh giải phóng. NXB Đồng Nai, tr. 264.
20. Tổ Sử phụ nữ Nam Bộ (1989). Truyền thống cách mạng của phụ nữ Nam Bộ thành đồng.  NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh, tr. 423.