The transfer of selected public administrative services to the social sector in contemporary Vietnam
TS. Hà Quang Trường
Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật công nghiệp, Bộ Công Thương
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, bài viết phân tích tính tất yếu khách quan và thực trạng chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội ở Việt Nam thời gian qua. Từ việc làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế, điểm nghẽn về chất lượng, rủi ro chi phí và lỗ hổng quản lý, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả quá trình chuyển giao một số dịch vụ hành chính công cho xã hội trong thời gian tới.
Từ khóa: Chuyển giao; cải cách hành chính; dịch vụ hành chính công; quản trị quốc gia; xã hội hóa.
Abstract: In the context of modernizing national governance for greater efficiency, this article analyzes the objective necessity and the current reality of transferring public administrative services to society in Vietnam. By highlighting the achieved results alongside quality bottlenecks, cost-related risks, and management loopholes, the paper proposes a comprehensive set of solutions to effectively implement the transfer of specific public administrative services to society in the coming time.
Keywords: Transfer; administrative reform; public administrative services; national governance; socialization.
1. Sự cần thiết của việc chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội ở Việt Nam hiện nay
Dịch vụ hành chính công là hoạt động thực thi pháp luật mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền thực hiện, nhằm đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của tổ chức, công dân thông qua các thủ tục hành chính; kết quả của dịch vụ là các quyết định, giấy tờ có giá trị pháp lý hoặc sự công nhận của Nhà nước, được cung ứng trên nguyên tắc bình đẳng, không vụ lợi và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước.
Chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội là quá trình cơ quan nhà nước bàn giao một phần hoặc toàn bộ hoạt động cung cấp một dịch vụ hành chính công cụ thể cho các tổ chức có tư cách pháp nhân, có đủ năng lực bên ngoài bộ máy nhà nước thực hiện (như: doanh nghiệp, tổ chức xã hội…). Đây là xu hướng cải cách đã và đang diễn ra mạnh mẽ và mang tính tất yếu của khu vực công.
Việc bộ máy nhà nước phải gánh vác quá nhiều công việc trong bối cảnh tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao hiệu lực quản lý, giảm bớt các khâu thực thi trực tiếp là cách duy nhất để cơ quan hành chính tập trung nguồn lực vào việc hoạch định chính sách và kiểm soát chất lượng dịch vụ. Chuyển giao dịch vụ hành chính công cũng xuất phát từ áp lực phải thay đổi để thích ứng với kỷ nguyên số và nền kinh tế thị trường; đồng thời, với trình độ dân trí ngày càng cao, yêu cầu, đòi hỏi chất lượng, sự phục vụ và khối lượng dịch vụ cần cung ứng cũng ngày càng tăng tương ứng. Việc chuyển giao dịch vụ hành chính công không phải là việc Nhà nước “đẩy” trách nhiệm cho xã hội, mà là một sự phân công lao động thông minh nhằm tạo ra một hệ thống quản trị linh hoạt, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm. Chính vì lý do đó, xã hội hóa dịch vụ công và chuyển giao dịch vụ hành chính công đã là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước trong tiến trình đổi mới.
Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, nhiệm vụ “chuyển giao những công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận”.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 ban hành kèm theo Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ tiếp tục yêu cầu rà soát “công việc cần chuyển giao cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm; trên cơ sở đó thiết kế, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính phù hợp ở Trung ương và địa phương” và “tiếp tục thí điểm chuyển giao một số nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm”.
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc “đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh, hiệu quả”. Kết luận số 50-KL/TW ngày 28/02/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) nêu rõ việc phải kiên quyết chuyển cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm những nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục yêu cầu “Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng”1.
2. Thực tiễn chuyển giao các dịch vụ hành chính công cho xã hội ở Việt Nam
Hầu hết các tỉnh, thành phố (trước giai đoạn hợp nhất đơn vị hành chính 2025) đã ban hành các Kế hoạch hoặc Đề án để triển khai Quyết định số 468/QĐ-TTg. Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển giao các loại dịch vụ và quy trình khác trên tổng số dịch vụ hành chính công đang thực hiện thấp2.
2.1. Chuyển giao dịch vụ hành chính công cấp các loại giấy phép, giấy đăng ký, chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề
Các dịch vụ hành chính công trong cấp phép, cấp đăng ký và cấp chứng chỉ chuyên môn hiện đang được chuyển giao theo nhiều mức độ khác nhau. Qua nghiên cứu, rà soát, đối với loại hình cấp giấy phép trên hệ thống Cổng Dịch vụ công Quốc gia, các dịch vụ cấp phép hiện nay được chia thành hai cấp độ thực hiện để bảo đảm tính pháp lý: (1) Dịch vụ công trực tuyến toàn trình (chiếm khoảng 55%) áp dụng cho các loại giấy phép không yêu cầu kiểm tra thực địa hoặc đối chiếu bản gốc trực tiếp. Toàn bộ quy trình từ nộp hồ sơ, thanh toán lệ phí đến nhận kết quả (giấy phép điện tử có mã QR) đều được thực hiện trên mạng. (2) Dịch vụ công trực tuyến một phần (khoảng 45%) áp dụng cho các loại giấy phép đặc thù cần có sự can thiệp trực tiếp (kiểm tra hạ tầng kỹ thuật, xác minh hiện trường…). Ví dụ: cấp giấy phép xây dựng – cần thẩm định bản vẽ kỹ thuật phức tạp, cấp giấy phép kinh doanh karaoke – cần kiểm tra phòng cháy chữa cháy thực tế… Với loại hình cấp giấy phép, ở thời điểm hiện tại chưa có một dịch vụ hành chính công nào được Nhà nước chuyển giao về thẩm quyền hành chính mà chỉ có việc chuyển giao một số khâu về mặt kỹ thuật trong quy trình hành chính và chuyển giao thực hiện tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính.
Đối với dịch vụ hành chính công cấp giấy đăng ký kinh doanh, đăng ký kinh doanh hộ cá thể thực hiện trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công, do Nhà nước nắm giữ và không chuyển giao thẩm quyền này cho xã hội. Nội dung đã chuyển giao là việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại nhà.
Với nhóm dịch vụ hành chính công cấp chứng chỉ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề. Cụ thể là với các chứng chỉ năng lực xây dựng (Hạng II, III) đã chuyển giao toàn bộ thẩm quyền cấp phép cho các hội nghề nghiệp chuyên ngành (Hiệp hội Tư vấn Xây dựng Việt Nam, Tổng hội Xây dựng Việt Nam được Bộ Xây dựng ủy quyền)3. Chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản đã chuyển giao một phần khâu tổ chức sát hạch cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo được Sở Xây dựng ủy quyền4. Các chứng chỉ, giấy phép ngành giao thông vận tải, như sát hạch giấy phép lái tàu, đã chuyển giao khâu đánh giá năng lực cho các doanh nghiệp đường sắt (Hanoi Metro, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam). Chứng nhận chuyên môn đường thủy (thuyền trưởng, máy trưởng) và chứng chỉ thẩm tra viên an toàn giao thông đã chuyển giao toàn phần (thi, cấp, đổi) cho các doanh nghiệp có cơ sở đào tạo đủ điều kiện5. Chứng chỉ hành nghề kế toán/kiểm toán đã chuyển giao một phần (tiếp nhận, rà soát hồ sơ, kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán) cho Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)6. Trong quản lý hành nghề luật sư đã chuyển giao việc cấp thẻ luật sư và kiểm tra tập sự luật sư cho Liên đoàn Luật sư Việt Nam7…
2.2. Chuyển giao dịch vụ hành chính công, cấp giấy xác nhận, chứng thực
Việc chuyển giao thẩm quyền cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực đang được phân loại và thực hiện theo nhiều mức độ khác nhau. Với lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, xác định nhân thân và đăng ký tài sản (đất đai, ô tô, phương tiện), Nhà nước không chuyển giao, chưa chuyển giao thẩm quyền mà chỉ ủy quyền khâu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính.
Việc chuyển giao thẩm quyền cung cấp dịch vụ diễn ra mạnh mẽ và rõ nét nhất ở nhóm dịch vụ công chứng8, thừa phát lại9 và đăng kiểm xe cơ giới. Tính đến cuối năm 2024, lĩnh vực bổ trợ tư pháp ghi nhận sự áp đảo của khu vực ngoài nhà nước với khoảng 1.200 văn phòng công chứng tư nhân10 và 224 văn phòng thừa phát lại hoạt động hiệu quả trên toàn quốc11. Tương tự, đối với dịch vụ đăng kiểm, từ định hướng thí điểm ban đầu (năm 2005) đến việc chuyển sang quản lý theo điều kiện kinh doanh (từ 2019), phần lớn các trung tâm đăng kiểm hiện nay là xã hội hóa12. Quá trình này đã hiện thực hóa nguyên tắc cốt lõi: tách bạch giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị trực tiếp cung cấp dịch vụ.
Về cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), Bộ Công Thương đã ủy quyền cho Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cấp các loại C/O mẫu A, B và C/O không ưu đãi trong giai đoạn từ năm 2018. Từ ngày 05/5/2025, mọi hồ sơ xin cấp mới cho các loại C/O nộp về Bộ Công Thương qua hệ thống eCoSys theo Quyết định số 1103/QĐ-BCT ngày 21/4/202513.
Chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy nông nghiệp (VietGAP, Organic), Nhà nước đã giao toàn bộ thẩm quyền cho các tổ chức chứng nhận độc lập (bên thứ ba) đánh giá và cấp giấy chứng nhận. Cá nhân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục công bố với cơ quan nhà nước.
Trong lĩnh vực tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng, cơ quan nhà nước đã chỉ định các tổ chức kiểm định (kể cả tư nhân) thực hiện việc đánh giá kỹ thuật, từ đó lấy kết quả làm căn cứ để thông quan hoặc công bố hợp quy14. Tương tự, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ đã chuyển giao khâu tư vấn và thiết lập hồ sơ cho các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp. Trong hoạt động thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, các tổ chức giám định tư nhân cũng được phép tham gia cung cấp dịch vụ giám định, giúp hỗ trợ đắc lực cho cơ quan chức năng trong việc xử lý vi phạm (như hàng giả, hàng nhái)15.
2.3. Chuyển giao dịch vụ hành chính công thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của Nhà nước
Hiện nay, gần như 100% các khoản thu ngân sách nhà nước (thuế, phí, lệ phí) đã được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại thay vì nộp tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước như trước đây. Quy định về ủy nhiệm cho ngân hàng thương mại thu hộ được thực hiện theo các Thông tư số 84/2016/TT-BTC ngày 17/6/2016 của Bộ Tài chính; Thông tư số 13/2017/TT-BTC ngày 15/2/2017 của Bộ Tài chính quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước; Thông tư số 19/2021/TT-BTC hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế. Bên cạnh đó, Nhà nước đã cấp phép cho các đơn vị tư nhân hoạt động dưới hình thức đại lý thuế. Các đơn vị này thực hiện các thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế thay cho người nộp thuế theo Luật Quản lý thuế năm 2019.
Hoạt động thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là mảng dịch vụ có sự tham gia sâu rộng của các tổ chức xã hội và doanh nghiệp dịch vụ. Không chỉ thu, các tổ chức xã hội này còn đảm nhận luôn việc chi trả lương hưu và trợ cấp xã hội. Đối với các quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách, như: Quỹ Phòng, chống thiên tai, Quỹ vaccine, hoặc các quỹ mang tính chất từ thiện xã hội có mức độ huy động xã hội hóa cao. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo khung pháp lý, còn việc thu nộp thường được ủy quyền cho các ban quản lý, UBND cấp xã hoặc các tổ chức, doanh nghiệp, đoàn thể… Nền tảng công nghệ, chuyển giao việc vận hành kỹ thuật cho các doanh nghiệp viễn thông (ví dụ: nhắn tin ủng hộ qua các đầu số).
2.4. Chuyển giao các dịch vụ hành chính công giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính gắn liền với quyền lực nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước. Mặc dù giữ nguyên quyền ra quyết định, Nhà nước đã từng bước chuyển giao các dịch vụ bổ trợ kỹ thuật và thực thi cho các chủ thể ngoài nhà nước. Điển hình là việc cơ quan chức năng có thể ký hợp đồng thuê các đơn vị tư nhân đảm nhận dịch vụ thu nộp tiền phạt, cẩu kéo và trông giữ phương tiện vi phạm. Đồng thời, trong nhiều vụ việc phức tạp thuộc lĩnh vực môi trường hay xây dựng, Nhà nước chủ động trưng cầu kết quả từ các trung tâm kiểm định độc lập để làm căn cứ pháp lý vững chắc trước khi ra quyết định xử phạt. Không dừng lại ở đó, pháp luật hiện hành đã mở rộng hành lang cho phép thành lập các cơ sở cai nghiện ngoài công lập, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc huy động nguồn lực xã hội hóa cùng tham gia quản lý an ninh, trật tự.
2.5. Đánh giá chung về kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế
Một số dịch vụ công đã được chuyển giao và đạt hiệu quả cao. Các doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia thực hiện các dịch vụ được chuyển giao gia tăng, khẳng định rằng các dịch vụ đó đã được các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện, bảo đảm chất lượng và được xã hội chấp nhận.
Số lượng các điểm cung ứng một số dịch vụ tăng. Thay vì phải chờ đợi tại các cơ quan nhà nước, người dân có thể thực hiện dịch vụ tại các văn phòng tư nhân, các đại lý hoặc các tổ chức xã hội với thời gian linh hoạt (thậm chí ngoài giờ hành chính), giúp đưa dịch vụ hành chính công đến gần người dân hơn, giảm bớt tâm lý “xin-cho” và tiết kiệm thời gian đi lại. Quá trình chuyển giao đã phát huy được năng lực chuyên môn, tính sáng tạo và sự linh hoạt của khu vực ngoài nhà nước.
Thái độ, kỹ năng giao tiếp và quy trình làm việc được cải thiện do áp lực cạnh tranh giữa các đơn vị tư nhân buộc họ phải cải thiện chất lượng để giữ chân khách hàng. Sự quan liêu giảm đáng kể so với khu vực công truyền thống. Việc giao cho các hội nghề nghiệp thực hiện đánh giá năng lực hành nghề đã góp phần chuẩn hóa đội ngũ, nâng cao uy tín và sự minh bạch của ngành theo chuẩn mực quốc tế.
Nhà nước giảm bớt được biên chế và chi phí duy trì bộ máy, tập trung nguồn lực vào việc quản lý, hoạch định chính sách và kiểm tra, giám sát. Các đơn vị tư nhân thường năng động hơn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ và quy trình nghiệp vụ, giúp rút ngắn thời gian xử lý. Sự tham gia của nguồn lực xã hội (tài chính, công nghệ) giúp hiện đại hóa quy trình nhanh hơn so với bộ máy hành chính nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực như kiểm định, khảo nghiệm, công chứng.
Về tổng thể, số lượng dịch vụ hành chính công được chuyển giao chiếm tỷ lệ thấp; mức độ chuyển giao, số lượng dịch vụ hành chính công được chuyển giao toàn phần hạn chế. Chất lượng một số dịch vụ được chuyển giao yếu kém. Điển hình, như: hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam của VCCI theo ủy quyền của Bộ Công Thương đã được báo chí phản ánh với việc “thiếu hậu kiểm” chặt chẽ, tạo kẽ hở cho gian lận xuất xứ (hàng nước ngoài mượn đường Việt Nam để xuất đi Mỹ/EU)16. Nguy cơ phát sinh chi phí xã hội cao hơn. Một số dịch vụ sau chuyển giao vận hành theo cơ chế tự chủ tài chính nên có thể thu thêm phí dịch vụ, phát sinh “phí chồng phí”, tăng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Một số đơn vị tư nhân vì mục tiêu doanh thu, chạy theo lợi nhuận có thể nới lỏng các quy chuẩn pháp lý (ví dụ: công chứng “treo”, ký khống hoặc thiếu kiểm tra kỹ giấy tờ giả). Rủi ro pháp lý đè lên người dân. Khi xảy ra sai sót hoặc tranh chấp, việc giải quyết bồi thường tại các đơn vị tư nhân nhiều khi phức tạp và kéo dài hơn so với việc khiếu nại tại cơ quan nhà nước.
Dịch vụ được chuyển giao phát triển mạnh ở các đô thị lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), nơi có thu được nhiều phí, nhưng lại rất thưa thớt ở vùng sâu, vùng xa. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người dân.
Nguyên nhân của những hạn chế, là:
Một là, xuất phát từ việc thiếu các tiêu chí và nguyên tắc chuyển giao, dẫn đến việc chuyển giao chưa hợp lý, làm suy giảm chất lượng dịch vụ. Điển hình như việc chuyển giao toàn bộ thẩm quyền cấp một số loại C/O đặc thù cho VCCI thuộc phạm vi các dịch vụ hành chính công độc quyền, cốt lõi của nhà nước, liên quan đến hình ảnh, uy tín, cam kết của quốc gia; dịch vụ có nhu cầu cao từ xã hội, nhưng lại được giao độc quyền cho một tổ chức và không thể chuyển giao cho nhiều tổ chức, doanh nghiệp khác thực hiện để tăng tính cạnh tranh về chất lượng và chống lạm quyền. Việc chuyển giao này mới chỉ dừng lại ở việc thay đổi chủ thể cung cấp mang tính độc quyền (từ nhà nước sang một tổ chức duy nhất), dẫn đến thiếu động lực cải thiện chất lượng. Xung đột giữa “Phục vụ” và “Quản lý”: VCCI là tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, nhưng lại nắm quyền cấp phép (quyền của người quản lý), điều này tạo ra rủi ro về sự thiếu khách quan.
Hai là, trong công tác quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến lúng túng trong việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các đơn vị ngoài nhà nước hoạt động trong lĩnh vực được chuyển giao. Bên cạnh đó là tình trạng cơ quan nhà nước buông lỏng quản lý. Lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước nhận hối lộ từ các đơn vị được ủy quyền cung ứng dịch vụ hành chính công. Điển hình như vụ án tại Cục Đăng kiểm Việt Nam.
Ba là, các quy định về các khoản phí và lệ phí, cũng như quy trình chuyển giao nói chung chưa được bảo đảm về mặt pháp lý. Người dân và doanh nghiệp không nắm rõ đâu là phần dịch vụ hành chính công do Nhà nước quy định, đâu là phần dịch vụ gia tăng do đơn vị cung cấp thu thêm. Thay vì xóa bỏ cơ chế “xin-cho”, việc chuyển giao thiếu kiểm soát có thể biến tướng thành sự độc quyền của đơn vị tư nhân hoặc tổ chức xã hội, dẫn đến tham nhũng vặt hoặc lãng phí. Đơn vị tư nhân thường hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, trong khi dịch vụ hành chính công mang tính phục vụ và phi lợi nhuận (hoặc có mức phí thấp theo quy định). Mâu thuẫn này, nếu không được quản lý bằng các tiêu chí chất lượng khắt khe, sẽ dẫn đến việc đơn vị cung cấp cắt bớt quy trình hoặc thu thêm phí trái quy định để tối đa hóa lợi nhuận.
Bốn là, năng lực thực hiện của bên nhận chuyển giao. Do năng lực của các tổ chức xã hội còn hạn chế và không đồng đều, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả của dịch vụ trên phạm vi rộng vẫn là một thách thức lớn. Một số tổ chức xã hội hoặc doanh nghiệp sau khi nhận chuyển giao nhiệm vụ lại thiếu năng lực thực hiện (về nhân sự, quy trình, tài chính). Điều này dẫn đến chất lượng đầu ra không bảo đảm, gây tốn kém thời gian và chi phí khắc phục cho xã hội.
3. Giải pháp chuyển giao hiệu quả một số dịch vụ hành chính công cho xã hội
Thứ nhất, xây dựng, bổ sung các quy định pháp luật cụ thể về việc chuyển giao dịch vụ hành chính cho xã hội. Việt Nam chưa có một bộ luật về dịch vụ công nói chung và dịch vụ hành chính công nói riêng. Để việc chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội một cách đồng bộ, hiệu quả, hiệu lực và khả thi, Chính phủ cần xem xét, xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật về dịch vụ công. Đây là bước đi quan trọng để phân định, xác định rõ dịch vụ hành chính công nào Nhà nước bắt buộc phải làm, dịch vụ nào được phép chuyển giao hoàn toàn hoặc một phần. Quy định địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp khi tham gia cung ứng dịch vụ hành chính công. Đặc biệt, luật phải thể hiện tư duy quản trị rõ ràng, đó là không chuyển giao chung chung mà phải đi cụ thể vào từng dịch vụ, vào từng vị trí việc làm. Quy định rà soát tổng thể công việc hàng năm của cơ quan hành chính nhà nước, để xác định công chức đang làm những công việc gì và những công việc này có thuộc phạm vi, nằm trong danh mục, tiêu chí nhà nước phải trực tiếp thực hiện toàn bộ hay một phần hay không, để xác định những việc tiếp tục có thể chuyển giao.
Thứ hai, xây dựng,hoàn thiện các tiêu chí, nguyên tắc lựa chọn dịch vụ hành chính công để chuyển giao. Việc chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội cần dựa trên hệ thống các tiêu chí cốt lõi nhằm bảo đảm vai trò quản trị của Nhà nước. (1) Tiêu chí phân định rõ bản chất quyền lực công, những dịch vụ hành chính công, nội dung công việc trong dịch vụ hành chính công mang tính “quyền lực nhà nước không thể ủy quyền” với những nội dung có thể ủy quyền và các công việc là “quy trình kỹ thuật”. (2) Tiêu chí về tính thiết yếu, phổ quát và bảo đảm công bằng xã hội, không gây phân hóa khả năng tiếp cận. (3) Tiêu chí về hiệu quả kinh tế – kỹ thuật và khả năng vận hành xã hội hóa (tức là dịch vụ mà nhiều tổ chức có thể tham gia thực hiện được để tránh độc quyền và có cạnh tranh). (4) Tiêu chí về khả năng điều phối liên ngành, liên cấp và tính liên thông của dịch vụ. Việc xã hội hóa chỉ được đặt ra khi hệ thống kết nối liên thông và quy trình dịch vụ thống nhất toàn quốc đã sẵn sàng.
Ban hành quy định về các tiêu chí đánh giá hiệu quả, hiệu lực của việc chuyển giao. Việc đánh giá dựa trên ba trụ cột chính: hiệu quả (tối ưu ngân sách, nâng cao chất lượng, sự hài lòng và huy động nguồn lực xã hội); hiệu lực (tuân thủ pháp luật, minh bạch giải trình, bảo mật thông tin và khả năng giám sát của Nhà nước); cơ chế đánh giá đa chiều thông qua mô hình “3 bên đồng giám sát” bao gồm Nhà nước, đơn vị cung ứng và cộng đồng xã hội17.
Ban hànhcác quy định về tiêu chí năng lực tiếp nhận; bên tiếp nhận phải chứng minh đủ năng lực pháp lý, nhân sự và tài chính. Tiêu chí về khả năng kiểm soát, duy trì quyền giám sát, kiểm soát rủi ro và bảo mật thông tin cá nhân. Năng lực giám sát và can thiệp kịp thời của Nhà nước chính là điều kiện tiên quyết sau khi chuyển giao dịch vụ. Chỉ những lĩnh vực đã được quy chuẩn hóa bằng hợp đồng mẫu, chỉ tiêu chất lượng định lượng và cơ chế chế tài minh bạch mới đủ điều kiện chuyển giao.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện các luật chuyên ngành và văn bản dưới luật có liên quan. Các bộ, ngành cần khẩn trương rà soát và ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ công làm cơ sở ban hành đơn giá và giá dịch vụ. Xây dựng quy định về miễn giảm thuế, ưu đãi về đất đai và hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia nhận chuyển giao dịch vụ hành chính công. Sửa đổi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, mở rộng sang mô hình “hợp tác phi lợi nhuận” hoặc “ủy thác quản lý”, tạo cơ chế cho các doanh nghiệp xã hội và tổ chức phi chính phủ tiếp nhận dịch vụ mà không nhất thiết phải dựa trên mô hình đầu tư thu hồi vốn thuần túy. Hoàn thiện quy định về Hội nhằm khẳng định tư cách pháp lý, quyền tự quản và trách nhiệm giải trình của các tổ chức xã hội.
Để số hóa và hiện đại hóa dịch vụ công, cần hoàn thiện khung pháp lý về bảo mật dữ liệu, công nhận giao dịch điện tử và đưa VNeID thành công cụ định danh duy nhất. Đồng thời, Nhà nước cần ban hành các nghị định chi tiết về đấu thầu, đặt hàng và định giá dịch vụ. Các quy định này sẽ giúp chuẩn hóa quy trình lựa chọn đơn vị thực hiện dựa trên uy tín và năng lực, qua đó kiểm soát chặt chẽ chi phí, bảo đảm công bằng và không làm tăng gánh nặng tài chính cho người dân.
Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị và tổ chức là yếu tố cốt lõi, giúp các tổ chức xã hội như các hội nghề nghiệp, hiệp hội có thể nhận được và bảo đảm thực hiện được các dịch vụ hành chính công do Nhà nước chuyển giao. Các tổ chức xã hội thường mạnh về chuyên môn nhưng hạn chế về quản trị hành chính. Nâng cao năng lực quản trị và tổ chức là yếu tố cốt lõi, giúp các tổ chức xã hội như các hội nghề nghiệp, hiệp hội có thể nhận được và bảo đảm thực hiện được các dịch vụ hành chính công do Nhà nước chuyển giao. Xây dựng quy trình chuẩn, thiết lập các quy trình xử lý công việc theo tiêu chuẩn ISO hoặc các chuẩn mực quốc tế để bảo đảm sự đồng nhất trong cung cấp dịch vụ.
Năm là, xây dựng cơ chế tài chính để cấp kinh phí đối với dịch vụ được chuyển giao. Cơ chế chuyển giao dịch vụ công cần dựa trên tài chính theo kết quả đầu ra và đấu thầu minh bạch. Chất lượng được kiểm soát chặt chẽ qua bộ KPIs và giám sát công nghệ đa tầng. Hệ thống thưởng phạt nghiêm minh giúp gắn kết lợi nhuận doanh nghiệp với hiệu quả phục vụ, bảo đảm tính công bằng và minh bạch.
4. Kết luận
Chuyển giao dịch vụ hành chính công cho xã hội là bước đột phá, mang tính tất yếu khách quan trong tiến trình hiện đại hóa nền quản trị quốc gia. Dù thực tiễn tại Việt Nam thời gian qua đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực, quá trình này vẫn đang đối mặt với những thách thức. Để chuyển giao hiệu quả các dịch vụ hành chính công trong thời gian tới, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, đặc biệt là cơ chế đặt hàng, đấu thầu và bộ tiêu chí giám sát dựa trên kết quả đầu ra; xác định rõ lộ trình, danh mục dịch vụ cùng sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ” của cơ quan nhà nước sẽ là chìa khóa để xây dựng một nền hành chính hiện đại, kiến tạo, phục vụ Nhân dân.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 203.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 236.
3, 6. Bộ Giao thông Vận tải (2018). Quyết định số 2932/QĐ-BGTVT ngày 28/12/2018 phê duyệt Đề án Chuyển giao cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội có đủ năng lực đảm nhiệm một số nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà các cơ quan hành chính nhà nước không nhất thiết phải thực hiện trong lĩnh vực giao thông vận tải.
4. Quốc hội (2014, 2025). Luật Xây dựng năm 2014, 2025.
5. Chính phủ (2024). Nghị định số 96/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản về quy trình, thủ tục sát hạch.
7. Bộ Tài chính (2005). Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC ngày 14/7/2005 về việc chuyển giao cho VACPA thực hiện các công việc quản lý hành nghề kiểm toán.
8. Bộ Tư pháp (2022). Quyết định số 856/QĐ-BTP ngày 19/7/2022 của Bộ Tư pháp phê duyệt Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
9. Chính phủ (2025). Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Công chứng năm 2024.
10. Quốc hội (2015). Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại.
11. Số lượng công chứng viên tăng mạnh. https://vneconomy.vn/so-luong-cong-chung-vien-o-viet-nam-ngay-cang-phat-trien-manh.htm và Thông cáo báo chí về kết quả tổng kết công tác năm 2024 và triển khai kế hoạch hoạt động năm 2025 của Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam https://moj.gov.vn/cttk/thongtinbaochi/Pages/thongcaohangthang.aspx?ItemID=18
12. Thi hành án dân sự 2025: Vượt chỉ tiêu dù khối lượng công việc tăng đột biến. https://baochinhphu.vn/thi-hanh-an-dan-su-2025-vuot-chi-tieu-du-khoi-luong-cong-viec-tang-dot-bien-102251209120208905.htm
13. Chính phủ (2024). Nghị định số 166/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới, kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy.
14. Quốc hội (2017). Điều 34. Luật Quản lý ngoại thương năm 2017.
15. Quốc hội (2011). Luật Đo lường năm 2011.
16. Chính phủ (2023). Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện và giám định sở hữu trí tuệ.
17. Thu hồi quyền cấp C/O từ VCCI: siết chặt quy trình, tránh rủi ro gian lận xuất xứ. https://vneconomy.vn/thu-hoi-quyen-cap-c-o-tu-vcci-siet-chat-quy-trinh-tranh-rui-ro-gian-lan-xuat-xu.htm.



