(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 22/5/2026, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thành lập trung tâm thực tế giả định trong quản trị và chính sách công tại cơ sở giáo dục đại học”. Tọa đàm thuộc Đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm “Nghiên cứu xây dựng Trung tâm thực tế giả định trong quản trị và chính sách công (Virtual Lab for Governance and Policy – VL4Gop)”. TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện, chủ trì Tọa đàm. Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các Phân hiệu của Học viện.

Tọa đàm nhận được sự tham gia của PGS. TS. Phạm Văn Hồng, Hiệu trưởng Đại học Phenikaa; PGS. TS. Đỗ Hữu Hải, Trưởng khoa Sau Đại học, Trường Đại học Công nghiệp Việt Hung; ThS. Nguyễn Đức Long, Tổng Giám đốc Học viện Công nghệ AIUNI; TS. Nguyễn Quốc Việt, Viện trưởng Viện Khoa học Quản lý và sáng tạo ứng dụng; PGS.TS. Trần Nhuận Kiên, Giám đốc Trung tâm tri thức số, Đại học Thái Nguyên; PGS.TS. Nguyễn Văn Lượng, Trường Đại học Đại Nam; ThS. Thân Trung Kiên, Tỉnh uỷ viên, Trưởng Ban Văn hoá – Xã hội, HĐND tỉnh Bắc Ninh; cùng các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài Học viện; các thành viên nhóm đề tài cấp Bộ; cán bộ, giảng viên và sinh viên Khoa Quản trị nhân lực Học viện Hành chính và Quản trị công.

Phát biểu đề dẫn Tọa đàm, TS. Bùi Phương Đình, nhấn mạnh, nền hành chính quốc gia đang đứng trước nhiều sức ép chưa từng có trong bối cảnh chuyển đổi số, tinh gọn bộ máy và xây dựng nhà nước số. Theo đó, phương thức quản lý dựa trên kinh nghiệm chủ quan, thụ động đã bộc lộ giới hạn và không còn phù hợp, đòi hỏi phải chuyển sang mô hình quản trị thực chứng dựa trên dữ liệu, mô phỏng và dự báo chính sách. TS. Bùi Phương Đình khẳng định, việc nghiên cứu xây dựng Trung tâm thực tế giả định trong quản trị và chính sách công (VL4GoP) là nhiệm vụ mang tính tiên phong và chiến lược nhằm tạo lập môi trường mô phỏng, dự báo và đánh giá tác động chính sách trên cơ sở dữ liệu thực chứng. VL4GoP không chỉ phục vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học mà còn hỗ trợ hoạch định chính sách và nâng cao năng lực ra quyết định cho bộ máy quản trị quốc gia trước những biến động phức tạp trong tương lai.
Tại Tọa đàm, ông mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học tập trung trao đổi sâu 3 vấn đề cốt lõi: (1) Làm rõ cơ sở lý luận của sự chuyển dịch từ hành chính truyền thống sang quản trị thực chứng dựa trên bằng chứng số; (2) Phân tích sự tương thích của mô hình VL4GoP với chủ trương, chính sách của Đảng và hành lang pháp lý hiện hành, đặc biệt là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox), quyền tự chủ học thuật và cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho hoạt động nghiên cứu; (3) Chắt lọc kinh nghiệm quốc tế để vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam.

Tại Tọa đàm, TS. Đoàn Văn Tình nhấn mạnh, việc thành lập Trung tâm thực tế giả định trong quản trị và chính sách công (VL4GoP) tại Học viện Hành chính và Quản trị công được xây dựng trên nền tảng cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý vững chắc: (1) Cơ sở chính trị: dựa trên định hướng của các Nghị quyết (Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cùng định hướng của Văn kiện Đại hội XIV).
Các chủ trương, nghị quyết đã nhấn mạnh yêu cầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuyển đổi số vào quản trị, xây dựng pháp luật và nâng cao vai trò của cơ sở giáo dục đại học trong đổi mới sáng tạo, qua đó, tạo nền tảng chính trị và khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng VL4GoP; (2) Về cơ sở pháp lý, dựa trên 3 trụ cột luật, gồm: Luật Giáo dục đại học năm 2025, Luật Dữ liệu số năm 2024, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025. Các Luật này tạo hành lang pháp lý cho tự chủ đại học, phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo, khai thác và chia sẻ dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đồng thời, thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox) nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm chính sách. Nhờ đó, VL4GoP có đủ điều kiện pháp lý để trở thành môi trường mô phỏng, dự báo và đánh giá tác động chính sách dựa trên bằng chứng, phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng cán bộ và tham mưu chính sách cho Đảng, Nhà nước.
Ông Tình cũng cho rằng, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng không gian tự chủ đại học và pháp điển hóa quản trị công nghệ, song, thực tiễn lập quy vẫn bộc lộ những rào cản nhất định. Vấn đề cốt lõi là cơ chế tài chính truyền thống và sự thiếu vắng cơ chế miễn trừ trách nhiệm cụ thể vẫn đang kìm hãm sự sáng tạo của đội ngũ chuyên gia. Khoảng trống thể chế này dẫn đến đòi hỏi phải thiết lập một cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” chuyên biệt.

Về cơ chế phối hợp nguồn lực, chuyển giao công nghệ và mô hình vận hành bền vững cho các trung tâm nghiên cứu chính sách dựa trên dữ liệu tại Việt Nam, TS. Chử Đức Hoàng nhấn mạnh, việc xây dựng Trung tâm nghiên cứu chính sách dựa trên dữ liệu (VL4GoP) không chỉ là yêu cầu đổi mới quản trị và hoạch định chính sách trong kỷ nguyên số mà còn cần được bảo đảm bằng cơ chế pháp lý đột phá, nguồn lực tài chính linh hoạt và mô hình vận hành tự chủ, bền vững. Ông Hoàng cho rằng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và mô phỏng chính sách phải trở thành nền tảng cho quản trị hiện đại, thay thế tư duy quản lý truyền thống. Vì vậy, cần xây dựng “hàng rào bảo vệ đổi mới sáng tạo” thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro khoa học – công nghệ và hành lang pháp lý đặc thù để tạo điều kiện cho nghiên cứu, thử nghiệm mô hình chính sách mới dựa trên dữ liệu và AI. Đồng thời, đây là cơ sở nhằm bảo vệ nhà khoa học, khuyến khích đổi mới và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Ông cũng cho rằng, việc vận hành hiệu quả trung tâm nghiên cứu chính sách dữ liệu đòi hỏi cơ chế huy động đa nguồn lực, bao gồm: ngân sách nhà nước, hợp tác công – tư (PPP), quỹ khoa học công nghệ của doanh nghiệp, cùng các công cụ hỗ trợ tài chính, như: cấp bù lãi suất và voucher công nghệ để đầu tư hạ tầng dữ liệu, phần mềm, AI và hệ thống mô phỏng. Bên cạnh đó, cần mở rộng cơ chế mua quyền truy cập dữ liệu, thuê chuyên gia và thúc đẩy chuyển giao tri thức nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên ngành. Trên cơ sở đó, ông đề xuất mô hình phát triển VL4GoP theo lộ trình ba giai đoạn: (1) Thiết lập nền tảng và kích hoạt cơ chế thử nghiệm; (2) Tích hợp, tăng tốc thông qua dữ liệu lớn, AI và nguồn lực xã hội hóa; (3) Vận hành tự chủ, mở rộng và thương mại hóa sản phẩm dự báo, tham mưu chính sách; đồng thời, chuyển từ cơ chế quản lý “xin – cho” sang đánh giá hiệu quả theo KPI, gắn mức độ tự chủ và nguồn lực với kết quả nghiên cứu, tác động chính sách và năng lực ứng dụng thực tiễn. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng trung tâm nghiên cứu chính sách dữ liệu có khả năng hỗ trợ hoạch định chính sách hiện đại, bền vững và tạo ra giá trị thực tiễn cho quản trị quốc gia.

Chia sẻ các kinh nghiệm quốc tế về các mô hình trung tâm thực tế giả định, TS. Nguyễn Văn Trúc cho rằng, quản trị công hiện đại trên thế giới đang dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình hành chính truyền thống (tuyến tính, dựa trên kinh nghiệm và dữ liệu quá khứ) sang mô hình linh hoạt (Agile), mở và chủ động. Kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến tập trung vào các trụ cột chính, như: (1) Quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ mô phỏng (Digital Twin). Các chính phủ tiên tiến, như: Singapore, Estonia, EU không còn ra chính sách dựa trên suy đoán mà sử dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và đặc biệt là công nghệ bản sao số (Digital Twin) để xây dựng các “trung tâm thực tế giả định”.
Singapore, Estonia, EU đã mô phỏng toàn bộ hạ tầng đô thị, dòng chảy giao thông, dự báo thiên tai hoặc các tác động kinh tế – xã hội của một sắc thuế mới trên không gian số trước khi ban hành. Điều này giúp chính phủ chuyển từ trạng thái quản lý phản ứng (chờ sự cố xảy ra mới xử lý) sang quản trị dự báo và chủ động; (2) Mô hình “Phòng thí nghiệm chính sách” (Policy Lab) và Quản trị thử nghiệm. Ông Trúc cho rằng, nước Anh là một trong những nước tiên phong xây dựng Policy Lab đặt trong Văn phòng Nội các, cho phép tham gia trực tiếp vào quy trình hoạch định chính sách cấp quốc gia; hay các nước OECD phát triển Policy Lab theo mô hình mạng lưới, liên kết giữa nhiều cơ quan, tổ chức nghiên cứu và khu vực tư nhân. Mô hình này có tính linh hoạt cao, thúc đẩy chia sẻ tri thức và đổi mới sáng tạo trong khu vực công.
Từ kinh nghiệm của các nước, ông Trúc đã đưa ra những gợi mở quan trọng cho Việt Nam, như: cần tận dụng và nâng cấp hệ thống Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cùng Đề án 06 hiện có thành các trung tâm mô phỏng kịch bản giả định để chuyển từ quản trị phản ứng sang dự báo chủ động; Việt Nam cần thí điểm thành lập Policy Lab Quốc gia, ban hành khung thể chế thử nghiệm (Sandbox) cho đổi mới sáng tạo, và tập trung đào tạo đội ngũ “công chức số” có năng lực liên ngành; đổi mới quản trị công không chỉ dừng lại ở việc mua sắm công nghệ mà quan trọng hơn là đổi mới tư duy quản trị, phương thức hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu và tăng cường cơ chế phối hợp giữa Nhà nước với toàn xã hội.
Từ thực tiễn kinh nghiệm của Đại học Phenikaa, PGS.TS. Phạm Văn Hồng, cho rằng, Đại học Phenikaa là minh chứng điển hình cho sự thành công trong việc kết hợp giữa cơ chế tài chính linh hoạt và tự chủ đại học. Hệ sinh thái Phenikaa được xây dựng dựa trên ba trụ cột vững chắc là đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, lấy hoạt động khởi nghiệp của sinh viên làm động lực trung tâm để chuyển hóa tri thức thành các sản phẩm thương mại thực tiễn. Ông khẳng định, để thúc đẩy sự cách tân giáo dục, các trường đại học không chỉ cần nguồn lực tài chính mạnh mẽ mà còn phải thay đổi tư duy của đội ngũ giảng viên và thiết lập những cơ chế vận hành hiệu quả nhằm thực hiện hóa các công nghệ đột phá.


Xoay quanh chủ đề “Cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thành lập trung tâm thực tế giả định trong quản trị và chính sách công tại cơ sở giáo dục đại học”, Tọa đàm cũng nhận được nhiều ý kiến chia sẻ của các chuyên gia, nhà khoa học, trong đó các chuyên gia, nhà khoa học đều khẳng định tính tất yếu của chuyển đổi mô hình quản trị truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, AI và mô phỏng nhằm đáp ứng yêu cầu của bối cảnh chuyển đổi số và sự gia tăng tính phức tạp trong quản trị công; thống nhất về vai trò của công nghệ mô phỏng, bản sao số (Digital Twin), AI và dữ liệu lớn trong việc nâng cao năng lực hoạch định, thử nghiệm, dự báo và đánh giá tác động chính sách trước khi triển khai thực tế, qua đó giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản trị; khẳng định nhu cầu đổi mới phương thức đào tạo nguồn nhân lực, chuyển từ truyền thụ kiến thức lý thuyết sang học tập trải nghiệm, mô phỏng thực tiễn và xử lý tình huống quản trị phức hợp nhằm hình thành đội ngũ cán bộ có tư duy dự báo, phân tích dữ liệu và năng lực thích ứng.
Các nhà khoa học đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng dữ liệu và tăng cường liên kết giữa Nhà nước – cơ sở giáo dục đại học – doanh nghiệp, coi đây là điều kiện nền tảng để triển khai hiệu quả mô hình quản trị số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; năng lực tham mưu và hoạch định chính sách ở địa phương cần được nâng cao, đặc biệt trong bối cảnh thay đổi mô hình tổ chức bộ máy và gia tăng áp lực quản trị sau sắp xếp đơn vị hành chính; chú trọng hơn vào ứng dụng mô phỏng trong đào tạo và quản trị công, đặc biệt là xây dựng VL4GoP như một môi trường học tập, thử nghiệm và nâng cao năng lực thực hành cho người học và đội ngũ quản lý; tập trung vào thực tiễn quản trị địa phương, chỉ ra những khó khăn phát sinh sau sắp xếp đơn vị hành chính, sự khác biệt trong điều kiện phát triển giữa các địa phương và hạn chế trong năng lực tham mưu chính sách, từ đó đặt ra yêu cầu xây dựng công cụ hỗ trợ dự báo và thiết kế chính sách phù hợp hơn với đặc thù từng địa phương.
Kết luận Tọa đàm, TS. Bùi Phương Đình trân trọng cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học đã có nhiều chia sẻ, góp ý thẳng thắn, đóng góp các luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho đề tài. Những ý kiến này sẽ là cơ sở quan trọng để hoàn thiện Đề án thành lập Trung tâm VL4GoP, hướng tới xây dựng một thiết chế hỗ trợ đổi mới quản trị công và phát triển nền hành chính hiện đại, thích ứng với kỷ nguyên số.

Lê Thị Thanh Hương



