Trends and inequalities in child malnutrition across provinces and cities in Vietnam, 2020–2024
ThS. Trịnh Thị Thu Trang
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng và mức độ bất bình đẳng trong suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh, thành phố tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024. Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hệ số Gini coefficient, Theil index và Concentration Index để đánh giá bất bình đẳng về suy dinh dưỡng trẻ em. Kết quả cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng có sự khác biệt rõ giữa các tỉnh, trong đó các đô thị lớn có xu hướng cải thiện tốt hơn so với các tỉnh miền núi và vùng khó khăn. Các chỉ số Gini và Theil đều gia tăng qua thời gian, phản ánh bất bình đẳng liên tỉnh ngày càng rõ nét. Chỉ số tập trung mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê cho thấy, suy dinh dưỡng tập trung nhiều hơn ở các tỉnh có điều kiện kinh tế – xã hội thấp. Kết quả nhấn mạnh sự cần thiết của các chính sách dinh dưỡng theo hướng ưu tiên vùng khó khăn.
Từ khóa: Suy dinh dưỡng trẻ em; bất bình đẳng y tế; chỉ số tập trung; giai đoạn 2020 – 2024; Việt Nam.
Abstract: This article analyzes the current status and extent of inequality in child malnutrition across provinces and cities in Vietnam during the 2020–2024 period. The article uses descriptive statistics, the Gini coefficient, the Theil index, and the Concentration Index to assess inequality in child malnutrition. The results show that malnutrition rates vary significantly across provinces, with large urban areas tending to show greater improvement compared to mountainous provinces and disadvantaged regions. Both the Gini and Theil indices increased over time, reflecting increasingly pronounced inter-provincial inequality. The Concentration Index, which is negative and statistically significant, indicates that malnutrition is more concentrated in provinces with lower socioeconomic conditions. The results underscore the need for nutrition policies that prioritize disadvantaged regions.
Keywords: Child malnutrition; health inequality; concentration index; 2020–2024 period; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Suy dinh dưỡng ở trẻ em là một trong những thách thức y tế công cộng quan trọng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Theo ước tính của UNICEF, WHO và World Bank (WB), năm 2022 trên phạm vi toàn cầu vẫn có khoảng 148 triệu trẻ em bị thấp còi, 45 triệu trẻ em bị gầy còm và 37 triệu trẻ em bị thừa cân1. Những con số này cho thấy tiến bộ về dinh dưỡng trẻ em vẫn diễn ra chậm và tồn tại những khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như các nhóm dân cư có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau. Tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, suy dinh dưỡng ở trẻ em thường tập trung nhiều hơn ở nhóm nghèo, khu vực nông thôn, miền núi hoặc các vùng khó khăn, phản ánh tác động tổng hợp của thu nhập, điều kiện sống, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và an ninh lương thực.
Tại Việt Nam, mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, sự chênh lệch giữa các tỉnh, thành phố vẫn còn khá lớn. Tình trạng suy dinh dưỡng có xu hướng tập trung nhiều hơn ở các nhóm dân cư có điều kiện kinh tế – xã hội thấp, đặc biệt là những hộ gia đình thiếu hụt về giáo dục, điều kiện sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này cho thấy, ngoài yếu tố tăng trưởng kinh tế chung, sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các địa phương có thể tạo ra bất bình đẳng đáng kể trong kết quả dinh dưỡng trẻ em.
Bài viết tập trung mô tả: (1) mô tả xu hướng suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh, thành Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024; (2) đo lường mức độ bất bình đẳng giữa các địa phương; (3) đánh giá mức độ tập trung của suy dinh dưỡng theo điều kiện kinh tế – xã hội.
2. Tổng quan nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, suy dinh dưỡng trẻ em có xu hướng tập trung ở nhóm dân cư nghèo và các khu vực kém phát triển. Nghiên cứu của Van de Poel và cộng sự (2008)2 thực hiện trên nhiều quốc gia đang phát triển cho thấy, suy dinh dưỡng trẻ em có xu hướng tập trung nhiều hơn ở nhóm dân cư có điều kiện kinh tế – xã hội thấp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo có nguy cơ thấp còi và gầy còm cao hơn đáng kể so với nhóm có điều kiện kinh tế tốt hơn, phản ánh sự bất bình đẳng trong tiếp cận dinh dưỡng, dịch vụ y tế và điều kiện sống. Tương tự, nghiên cứu của Robert E. Black và cộng sự (2013)3 khẳng định, suy dinh dưỡng trẻ em không chỉ là vấn đề y tế mà còn gắn chặt với các yếu tố kinh tế – xã hội, bao gồm thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn của mẹ, điều kiện vệ sinh môi trường và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Những yếu tố này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng thể chất, phát triển nhận thức và nguy cơ bệnh tật của trẻ em.
Ở góc độ bất bình đẳng y tế, Wagstaff et al. (2003) và Van de Poel et al. (2008) cho thấy, suy dinh dưỡng có xu hướng tập trung nhiều hơn ở các nhóm dân cư có điều kiện kinh tế thấp, đồng thời bất bình đẳng dinh dưỡng có thể được đo lường hiệu quả thông qua chỉ số tập trung (Concentration Index – CI)4. Ngoài ra, các chỉ số như Gini coefficient và Theil index được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ chênh lệch phân bố giữa các đơn vị lãnh thổ.
Ở góc độ không gian, Anselin (1995) cho thấy, các hiện tượng kinh tế – xã hội thường có xu hướng hình thành cụm địa lý, phản ánh sự lan tỏa hoặc tập trung không gian giữa các khu vực lân cận5. Trong lĩnh vực y tế, nhiều nghiên cứu đã xác nhận rằng các địa phương có điều kiện kinh tế, năng lực y tế và chi phí sinh hoạt tương đồng thường có kết quả dinh dưỡng tương tự.
Tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu trước đây6 tập trung vào trẻ em ở cấp hộ gia đình hoặc vùng kinh tế; trong khi bằng chứng về bất bình đẳng dinh dưỡng ở cấp tỉnh trong giai đoạn sau đại dịch Covid-19 vẫn còn hạn chế.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng về các chỉ tiêu suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (gồm tỷ lệ thấp còi, tỷ lệ nhẹ cân và tỷ lệ gầy còm) tại các tỉnh, thành phố Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2024 được tổng hợp từ các nguồn chính thức của Tổng cục thống kê, Bộ Y tế và các báo cáo kinh tế – xã hội cấp tỉnh năm 2024.
3.2. Phương pháp phân tích
(1) Thống kê mô tả và phân tích xu hướng. Các chỉ tiêu trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất được sử dụng để mô tả đặc điểm phân bố của các biến nghiên cứu giữa các tỉnh, đồng thời theo dõi xu hướng thay đổi qua thời gian.
(2) Đo lường bất bình đẳng về suy dinh dưỡng giữa các tỉnh thành. Nghiên cứu sử dụng hệ số Gini và chỉ số Theil nhằm phản ánh mức độ phân tán của tỷ lệ suy dinh dưỡng theo không gian (GW Reinbold, 2011)7.
(3) Đo lường bất bình đẳng theo điều kiện kinh tế – xã hội: nghiên cứu sử dụng chỉ số tập trung, để đánh giá mức độ suy dinh dưỡng tập trung ở các tỉnh có điều kiện kinh tế cao hay thấp (Nicolai Petry và cộng sự, 2025)8.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thống kê mô tả và xu hướng biến động theo tỉnh
Kết quả thống kê mô tả cho bộ dữ liệu bảng của các tỉnh, thành phố tại Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2024 cho thấy, sự khác biệt đáng kể giữa các địa phương về tình trạng dinh dưỡng trẻ em, điều kiện kinh tế – xã hội và năng lực hệ thống y tế (Xem Bảng 1).
Bảng 1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu giai đoạn 2020 – 2024
| Biến nghiên cứu | Số quan sát | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| Tỷ lệ thấp còi (%) | 306 | 20,52 | 5,24 | 2,6 | 30,8 |
| Tỷ lệ gầy còm (%) | 305 | 5,53 | 1,52 | 1,5 | 12,7 |
| Tỷ lệ nhẹ cân (%) | 306 | 11,62 | 3,98 | 3,2 | 24,6 |
| Tỷ lệ nghèo đa chiều (%) | 315 | 6,25 | 7,48 | 0 | 36,7 |
| GRDP bình quân/người (triệu đồng/năm) | 315 | 81,94 | 47,01 | 29,8 | 372,1 |
Đối với nhóm biến kết quả, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi có giá trị trung bình là 20,61% (SD = 5,15), dao động từ 5,8% – 30,8% với 306 quan sát. Mức chênh lệch khá lớn này cho thấy, tình trạng suy dinh dưỡng mạn tính vẫn tồn tại không đồng đều giữa các tỉnh, phản ánh sự khác biệt đáng kể về điều kiện sống và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em. Tương tự, tỷ lệ trẻ gầy còm có giá trị trung bình 5,53% (SD = 1,52), biến động từ 1,5% đến 12,7%, cho thấy suy dinh dưỡng cấp tính xuất hiện ở nhiều địa phương nhưng mức độ phân tán thấp hơn so với thấp còi. Trong khi đó, tỷ lệ trẻ nhẹ cân đạt trung bình 11,62% (SD = 3,98), với khoảng dao động từ 3,2% đến 24,6%, phản ánh sự khác biệt tương đối rõ giữa các tỉnh về tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng tổng hợp.
Đối với các yếu tố kinh tế – xã hội, tỷ lệ nghèo đa chiều có giá trị trung bình 6,25% nhưng độ lệch chuẩn khá cao (7,48), với mức thấp nhất bằng 0% và cao nhất lên tới 36,7%. Kết quả này cho thấy, sự phân hóa mạnh về điều kiện sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản giữa các địa phương. GRDP bình quân đầu người đạt trung bình 81,94 triệu đồng/người/năm (SD = 47,01), dao động từ 29,8 triệu đồng đến 372,1 triệu đồng, phản ánh khoảng cách phát triển kinh tế rất lớn giữa các tỉnh. Điều này cho thấy, mức sống và khả năng đầu tư cho chăm sóc sức khỏe trẻ em có thể khác biệt đáng kể giữa các địa phương.
4.2. Xu hướng suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh thành phố
Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm địa phương phát triển và nhóm địa phương miền núi, vùng khó khan (Xem Bảng 2).
Bảng 2. Biến động tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở các tỉnh thành phố có tỷ lệ cao nhất và thấp nhất giai đoạn 2020 – 2024
| Địa phương | Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân | Suy dinh dưỡng thể thấp còi | Suy dinh dưỡng thể gầy còm | |||
| Năm 2020 | Năm 2024 | Năm 2020 | Năm 2024 | Năm 2020 | Năm 2024 | |
| Hà Nội | 4,9 | 4,8 | 12,6 | 8,8 | 2,7 | 4,6 |
| Bắc Ninh | 9,7 | 4,6 | 20,7 | 10,8 | 4,8 | 4,8 |
| Hải Phòng | 6,8 | 6,5 | 17,2 | 16,3 | 2,9 | 3,2 |
| Đà Nẵng | 3,5 | 3,3 | 12,9 | 10,4 | 3,7 | 3,6 |
| TP. Hồ Chí Minh | 4,3 | 4,5 | 6,5 | 5,8 | 1,5 | 2,5 |
| Hà Giang | 18,6 | 18,3 | 19,9 | 30,2 | 5,9 | 5,8 |
| Cao Bằng | 16,7 | 16,8 | 28,5 | 28 | 5,3 | 11,7 |
| Lai Châu | 18,3 | 17,4 | 28,8 | 26,7 | 4,8 | 6,9 |
| Gia Lai | 19,8 | 24,6 | 29,7 | 27,6 | 5,9 | 9,2 |
| Đăk Lăk | 18,4 | 17,6 | 28,5 | 27,6 | 6,2 | 6,6 |
Nhóm các đô thị lớn, như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh duy trì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức thấp và tương đối ổn định. Đáng chú ý, Hà Nội ghi nhận tỷ lệ thấp còi giảm từ 12,6% xuống 8,8%; Bắc Ninh cũng ghi nhận mức cải thiện rõ rệt ở cả tỷ lệ nhẹ cân và thấp còi, phản ánh tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế và mở rộng dịch vụ y tế. Ngược lại, các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, như: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Gia Lai và Đăk Lăk vẫn duy trì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức cao. Hà Giang có tỷ lệ thấp còi tăng từ 19,9% lên 30,2%, trong khi Cao Bằng và Gia Lai ghi nhận xu hướng gia tăng ở chỉ tiêu gầy còm và nhẹ cân.
Kết quả cho thấy, bất bình đẳng dinh dưỡng trẻ em giữa các địa phương vẫn tồn tại rõ rệt. Các tỉnh có mức phát triển kinh tế cao và hệ thống y tế tốt có xu hướng cải thiện nhanh hơn, trong khi các tỉnh miền núi và vùng khó khăn vẫn là nhóm có nguy cơ suy dinh dưỡng cao.
4.3. Bất bình đẳng dinh dưỡng giữa các tỉnh, thành phố (Xem Bảng 3).
Bảng 3. Hệ số Gini và chỉ số Theil về bất bình đẳng suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh, thành phố giai đoạn 2020 – 2024
| Thể suy dinh dưỡng | Hệ số | Năm 2020 | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 |
| Thể thấp còi | Gini | 0,1015 | 0,1055 | 0,1055 | 0,1669 | 0,1898 |
| Theil | 0,0196 | 0,0209 | 0,0209 | 0,0446 | 0,0599 | |
| Thể nhẹ cân | Gini | 0,1653 | 0,1689 | 0,1689 | 0,2116 | 0,2259 |
| Theil | 0,0467 | 0,0485 | 0,0485 | 0,0710 | 0,0818 | |
| Thể gầy còm | Gini | 0,1209 | 0,1292 | 0,1292 | 0,1514 | 0,1707 |
| Theil | 0,0255 | 0,0285 | 0,0285 | 0,0392 | 0,0487 |
Kết quả phân tích hệ số Gini và Theil cho thấy, mức độ bất bình đẳng về suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh tại Việt Nam có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2020 – 2024 ở cả ba thể suy dinh dưỡng. Đối với suy dinh dưỡng thể thấp còi, hệ số Gini tăng từ 0,1015 năm 2020 lên 0,1898 năm 2024; trong khi chỉ số Theil tăng từ 0,0196 lên 0,0599. Điều này cho thấy, sự chênh lệch về suy dinh dưỡng mạn tính giữa các địa phương ngày càng rõ rệt.
Đối với suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, hệ số Gini tăng từ 0,1653 lên 0,2259, trong khi chỉ số Theil tăng từ 0,0467 lên 0,0818. Đây là nhóm có mức bất bình đẳng cao nhất trong ba chỉ tiêu, cho thấy tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng tổng hợp vẫn tập trung nhiều hơn ở các tỉnh có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
Tương tự, suy dinh dưỡng thể gầy còm cũng ghi nhận xu hướng gia tăng bất bình đẳng, với hệ số Gini tăng từ 0,1209 lên 0,1707 và Theil tăng từ 0,0255 lên 0,0487. Điều này phản ánh, nguy cơ suy dinh dưỡng cấp tính có xu hướng tập trung tại một số địa phương nhất định, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa hoặc nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao.
4.4. Bất bình đẳng theo điều kiện kinh tế – xã hội trong suy dinh dưỡng trẻ em.
Bảng 4. Chỉ số tập trung của suy dinh dưỡng trẻ em theo điều kiện kinh tế – xã hội tại Việt Nam
| Năm | Số quan sát | Chỉ số tập trung (CI) | Sai số chuẩn (Std.Error) | p-value |
| 2020 | 63 | -0,0689 | 0,0109 | 0,000 |
| 2021 | 63 | -0,0734 | 0,0110 | 0,000 |
| 2022 | 63 | -0,0734 | 0,0110 | 0,000 |
| 2023 | 58 | -0,1182 | 0,0161 | 0,000 |
| 2024 | 59 | -0,1099 | 0,0212 | 0,000 |
Bảng 4 cho thấy, chỉ số tập trung (Concentration Index – CI) của tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi đều mang giá trị âm trong toàn bộ giai đoạn 2020 – 2024, dao động từ -0,0689 đến -0,1182 và đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p < 0,01). Điều này cho thấy, suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam có xu hướng tập trung nhiều hơn ở các tỉnh có mức thu nhập thấp, phản ánh sự tồn tại của bất bình đẳng dinh dưỡng theo điều kiện kinh tế – xã hội giữa các địa phương.
Giá trị CI tăng mạnh vào năm 2023 đạt giá trị -0,1182 cho thấy, mức độ tập trung của suy dinh dưỡng ở nhóm tỉnh nghèo có xu hướng gia tăng trong giai đoạn nghiên cứu, đặc biệt từ sau năm 2022. Kết quả này hàm ý rằng, mặc dù tình trạng dinh dưỡng trẻ em ở cấp quốc gia có thể được cải thiện, lợi ích từ tăng trưởng kinh tế và mở rộng dịch vụ y tế chưa được phân bổ đồng đều giữa các địa phương.
5. Kết luận
Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về xu hướng và mức độ bất bình đẳng trong suy dinh dưỡng trẻ em giữa các tỉnh, thành phố tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024. Kết quả cho thấy, mặc dù tình trạng dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam đã có những cải thiện nhất định ở nhiều địa phương, sự chênh lệch giữa các tỉnh, thành phố vẫn tồn tại rõ rệt và thậm chí có xu hướng gia tăng ở một số chỉ tiêu. Các tỉnh, thành phố có mức phát triển kinh tế cao, cơ sở hạ tầng y tế tốt và mức đô thị hóa cao có xu hướng đạt kết quả dinh dưỡng tích cực hơn, trong khi các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa và khu vực có tỷ lệ nghèo cao tiếp tục là nhóm có nguy cơ suy dinh dưỡng cao.
Phân tích hệ số Gini và chỉ số Theil cho thấy, bất bình đẳng về suy dinh dưỡng giữa các tỉnh tăng lên trong suốt giai đoạn nghiên cứu, đặc biệt đối với suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi. Đồng thời, chỉ số tập trung (CI) mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê cho thấy suy dinh dưỡng có xu hướng tập trung ở các tỉnh có điều kiện kinh tế–xã hội thấp. Điều này phản ánh rằng, thành quả tăng trưởng kinh tế và mở rộng hệ thống y tế chưa được phân bổ đồng đều giữa các địa phương.
Từ các kết quả trên, bài viết đề xuất cần xây dựng các chính sách dinh dưỡng theo hướng tiếp cận vùng, ưu tiên nguồn lực cho các tỉnh có mức nghèo đa chiều cao, tăng cường đầu tư vào y tế cơ sở, chăm sóc sứ khỏe bà mẹ – trẻ em và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu. Đồng thời, việc hoàn thiện hệ thống giám sát dữ liệu dinh dưỡng ở cấp địa phương cũng là điều kiện quan trọng nhằm hỗ trợ hoạch định chính sách công bằng và hiệu quả hơn trong tương lai.
Chú thích:
1. UNICEF, WHO, & World Bank. (2023). Levels and trends in child malnutrition: Key findings of the 2023 edition of the Joint Child Malnutrition Estimates (JME). https://data.unicef.org/resources/jme/
2. Van de Poel, E., Hosseinpoor, A. R., Speybroeck, N., Van Ourti, T., & Vega, J. (2008). Socioeconomic inequality in malnutrition in developing countries. Bulletin of the World Health Organization, 86 (4), 282 -291. https://doi.org/10.2471/BLT.07.044800
3. Robert E. Black et al. (2013). Maternal and child undernutrition and overweight in low- and middle-income countries, The Lancet. 2013 Aug 3;382(9890):427-451. doi: 10.1016/S0140-6736(13)60937-X.
4. Wagstaff, A., van Doorslaer, E., & Watanabe, N. (2003). On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition in Vietnam. Journal of Econometrics, 112(1), 207-223. https://doi.org/10.1016/S0304-4076(02)00161-6
5. Anselin, L. (1995). Local indicators of spatial association -LISA. Geographical Analysis, 27(2), 93-115. https://doi.org/10.1111/j.1538-4632.1995.tb00338.x
6. Trương Thị Thuỳ Dương và Lê Thị Thanh Hoa (2023). The status of malnutrition and associated factors in children aged under 5 years in Duong Thanh commune, Phu Binh district, Thai Nguyen province. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm. 2023;19(4+5):22-29. doi:10.56283/1859-0381/537
7. Gary W Reinbold (2011). Economic inequality and child stunting in Bangladesh and Kenya: an investigation of six hypotheses 37(4): 691-719. DOI: 10.1111/j.1728-4457.2011.00453.x
8. Nicolai Petry et al. (2025). The impact of poverty on child malnutrition and health in Lebanon: the need for multisectoral interventions. International Journal for Equity in Health, (2025) 24:267.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn, M. N. và cộng sự (2025). Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ từ 0 đến 5 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 555(1). https://doi.org/10.51298/vmj.v555i1.15933
2. Black, R. E., Victora, C. G., Walker, S. P., et al. (2013). Maternal and child undernutrition and overweight in low- and middle-income countries. The Lancet, 382(9890), 427-451. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(13)0937-X
3. Om Raj Katoch (2021). Determinants of malnutrition among children: A systematic review, Nutrition, Volume 96, April 2022, 111565. https://doi.org/10.1016/j.nut.2021.111565
4. Tương lai cho thế hệ vươn mình. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/25/tuong-lai-cho-the-he-vuon-minh/



