Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh

Proposing a set of criteria for assessing state management of renewable energy development toward green growth

ThS. Hoàng Thị Thu Hường
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết xây dựng bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh ở Việt Nam. Bộ tiêu chí được cụ thể hóa thành 6 nhóm tiêu chí thành phần với 30 chỉ tiêu đo lường, phản ánh toàn diện quá trình hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực, kiểm tra, giám sát và kết quả phát triển năng lượng tái tạo gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh. Trên cơ sở bộ tiêu chí đã xây dựng, bài viết vận dụng để đánh giá định tính sơ bộ thực trạng quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh ở Việt Nam. Vic đánh giá được thc hin thông qua phân tích tài liu chính sách, báo cáo ngành năng lượng và các nghiên cu liên quan, tp trung vào hai nhóm ni dung: ni dung qun lý nhà nước và kết qu qun lý nhà nước, qua đó, chỉ ra những kết quả tích cực và một số hạn chế trong quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hiện nay.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; năng lượng tái tạo; tăng trưởng xanh; bộ tiêu chí đánh giá.

Abstract: This article develops a set of criteria for assessing state management of renewable energy development toward green growth in Vietnam. The proposed framework is specified into six groups of component criteria with 30 measurable indicators, comprehensively reflecting the processes of policy formulation, implementation, resource mobilization, inspection and supervision, and the outcomes of renewable energy development in association with green growth objectives. Based on the developed criteria, the article applies a preliminary qualitative assessment of the current state of state management of renewable energy development toward green growth in Vietnam. The assessment is conducted through an analysis of policy documents, energy sector reports, and relevant studies, focusing on two main dimensions: the content of state management and the outcomes of state management. Thereby, the article identifies positive achievements as well as several limitations in the current state management of renewable energy development.

Keywords: State management; renewable energy; green growth; assessment criteria framework.

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, những năm gần đây, năng lượng tái tạo đã có bước phát triển nhanh chóng cả về quy mô đầu tư, công suất lắp đặt và mức độ tham gia của khu vực tư nhân. Nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời, điện gió đã được ban hành, tạo động lực quan trọng cho quá trình chuyển dịch năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển năng lượng tái tạo cũng cho thấy nhiều hạn chế, như: chính sách thiếu ổn định, quy hoạch chưa đồng bộ, quá tải hạ tầng truyền tải điện, thủ tục đầu tư còn phức tạp và cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả phát triển xanh chưa hoàn thiện. Điều này cho thấy, hiệu quả phát triển năng lượng tái tạo không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực thị trường hay trình độ công nghệ mà còn phụ thuộc vào chất lượng quản lý nhà nước.

Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến phát triển năng lượng tái tạo dưới các góc độ công nghệ, kinh tế, môi trường và chính sách phát triển ngành năng lượng. Tuy nhiên, các nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với phát triển năng lượng tái tạo theo định hướng tăng trưởng xanh còn phân tán, đặc biệt còn thiếu một khung tiêu chí đánh giá mang tính hệ thống nhằm đo lường hiệu quả QLNN trong lĩnh vực này. Việc thiếu bộ tiêu chí đánh giá không chỉ gây khó khăn trong phân tích thực trạng mà còn hạn chế khả năng hoạch định, giám sát và điều chỉnh chính sách phát triển năng lượng tái tạo theo mục tiêu tăng trưởng xanh.

Xuất phát từ những vấn đề trên, bài viết tập trung xây dựng bộ tiêu chí đánh giá QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh ở Việt Nam trên cơ sở tiếp cận nội dung QLNN và yêu cầu phát triển bền vững. Đồng thời, bài viết bước đầu vận dụng bộ tiêu chí để đánh giá khái quát thực trạng QLNN đối với phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay, qua đó, gợi mở một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả QLNN trong quá trình chuyển dịch năng lượng xanh.
2. Cơ sở lý luận về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên hóa thạch và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, phát triển năng lượng tái tạo đã trở thành xu hướng tất yếu của quá trình chuyển dịch năng lượng trên phạm vi toàn cầu. Không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, năng lượng tái tạo còn có vai trò quan trọng trong giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng xanh. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa: tăng trưởng xanh là quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi vẫn bảo đảm khả năng duy trì và khai thác hợp lý các tài sản tự nhiên, vốn đóng vai trò cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho đời sống con người (OECD, 2011)1. Để đạt được điều đó, tăng trưởng xanh cần trở thành yếu tố thúc đẩy đầu tư và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, mở rộng các cơ hội phát triển kinh tế trong tương lai. Ủy ban Kinh tế – Xã hội châu Á Thái Bình Dương (UNESCAP) đã đưa ra khái niệm tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng chú trọng vào quá trình phát triển kinh tế bảo đảm bền vững về môi trường, thúc đẩy phát triển các-bon thấp và xã hội toàn diện (UNESCAP, 2012)2.

Ở Việt Nam, Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã xác định tăng trưởng xanh là nội dung quan trọng của phát triển bền vững, gắn với giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Đến năm 2021, Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, trung hòa các-bon và nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế. Như vậy, phát triển năng lượng tái tạo được xem là thành tố trọng yếu trong quá trình “xanh hóa” nền kinh tế. Phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh không chỉ là quá trình mở rộng cung – cầu năng lượng tái tạo theo cơ chế thị trường, mà còn là một quá trình kinh tế, kỹ thuật và xã hội mang tính định hướng, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều tiết và dẫn dắt.

Lý thuyết thể chế nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong thiết lập và duy trì khuôn khổ pháp lý, chuẩn mực và cơ chế điều tiết nhằm định hướng hành vi của các chủ thể thị trường theo các mục tiêu phát triển bền vững (North, 1990)3, (Scott, 2014)4. Trên nền tảng đó, lý thuyết quản lý công và quản trị công mới làm rõ yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo phát triển, nâng cao hiệu lực thực thi chính sách, tăng cường phối hợp đa chủ thể và trách nhiệm giải trình (Hood, 1991)5, (Osborne, 2010)6. Bên cạnh đó, quan điểm dựa trên nguồn lực cho thấy, vai trò của Nhà nước trong phân bổ, kích hoạt và điều phối các nguồn lực chiến lược, như: tài chính, công nghệ, nhân lực và hạ tầng nhằm khắc phục thất bại thị trường, tạo điều kiện cho năng lượng tái tạo phát triển gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh (Barney, 1991)7, (Hart, 1995)8.

Tổng hợp các tiếp cận trên, QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh có thể được hiểu là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống công cụ pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách và bộ máy quản lý nhằm định hướng, tổ chức và điều tiết hoạt động phát triển năng lượng tái tạo theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững. Nội dung này không chỉ nhấn mạnh vai trò quản lý hành chính của Nhà nước mà còn phản ánh vai trò kiến tạo phát triển, thúc đẩy chuyển đổi xanh và bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kinh tế – xã hội và môi trường.

Như vậy, QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh có một số đặc điểm cơ bản. (1) Đây là lĩnh vực quản lý mang tính liên ngành cao, liên quan đồng thời đến năng lượng, môi trường, đầu tư, khoa học – công nghệ và phát triển bền vững. (2) QLNN trong lĩnh vực này phải giải quyết các mục tiêu, như: bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. (3)Quá trình phát triển năng lượng tái tạo chịu ảnh hưởng mạnh từ tiến bộ khoa học, công nghệ và biến động của thị trường năng lượng toàn cầu, do đó, yêu cầu QLNN phải có tính linh hoạt, khả năng dự báo và thích ứng cao.

Nội dung QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh có thể khái quát thành bốn nhóm cơ bản. (1) Hoạch định chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm: xây dựng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, quy hoạch phát triển điện lực, cơ chế giá điện, chính sách ưu đãi đầu tư và các quy định về bảo vệ môi trường. (2) Tổ chức bộ máy và triển khai thực hiện chính sách, phản ánh hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, mức độ phân cấp quản lý, cải cách thủ tục hành chính và năng lực quản trị của bộ máy nhà nước. (3) Huy động nguồn lực và thúc đẩy đổi mới công nghệ, bao gồm: thu hút đầu tư, phát triển tài chính xanh, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ năng lượng sạch. (4) Kiểm tra, giám sát và đánh giá quá trình phát triển năng lượng tái tạo nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững của hoạt động QLNN.
3. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh

Trên cơ sở làm rõ nội hàm, đặc điểm, mục tiêu và các nội dung cơ bản của QLNN đối với phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh, bài viết xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá theo cách tiếp cận tổng hợp. Cách tiếp cận này kế thừa các luận điểm của lý thuyết thể chế, lý thuyết quản lý công, quản trị công mới, quan điểm dựa trên nguồn lực và lý thuyết tăng trưởng xanh; qua đó, cho phép xem xét QLNN không chỉ ở phương diện ban hành và thực thi chính sách, mà còn ở năng lực điều phối nguồn lực, kiểm soát quá trình phát triển và tạo ra các kết quả phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.

Hệ thống tiêu chí được xây dựng nhằm nhận diện đầy đủ vai trò của Nhà nước trong toàn bộ chu trình quản lý, từ hoạch định chiến lược, xây dựng quy hoạch, ban hành chính sách, tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực đến kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. Đồng thời, hệ thống này cũng hướng tới việc phản ánh mức độ đóng góp của QLNN đối với phát triển năng lượng tái tạo trên các khía cạnh kinh tế – xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết phân chia tiêu chí đánh giá thành hai nhóm chính:

(1) Nhóm tiêu chí phản ánh nội dung QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh.

(2) Nhóm tiêu chí phản ánh kết quả QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh.

Bảng 2. Bộ tiêu chí đánh giá QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh

Nhóm tiêu chíChỉ tiêu đo lường
I. Nhóm tiêu chí đánh giá nội dung QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh
1. Hoạch định chiến lược, chính sách phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh1. Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng tái tạo được ban hành đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình thực thi.
2. Chính sách phát triển năng lượng tái tạo có tính ổn định, nhất quán và khả năng dự báo cao, giúp giảm thiểu rủi ro chính sách cho các chủ thể tham gia.
3. Mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo được lồng ghép chặt chẽ và nhất quán với các mục tiêu tăng trưởng xanh trong chiến lược phát triển quốc gia.
4. Khung chính sách hiện hành về năng lượng tái tạo tạo lập được niềm tin và động lực đầu tư dài hạn cho khu vực tư nhân và các nhà đầu tư.
5. Các chính sách phát triển năng lượng tái tạo được rà soát, điều chỉnh kịp thời nhằm đáp ứng yêu cầu của bối cảnh kinh tế – xã hội và chuyển đổi xanh.
2. Thiết lập cơ cấu, bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh6. Bộ máy QLNN về phát triển năng lượng tái tạo được tổ chức rõ ràng, phân định chức năng, nhiệm vụ hợp lý giữa các cơ quan liên quan.
7. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương trong QLNN về phát triển năng lượng tái tạo được thực hiện hiệu quả và đồng bộ.
8. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực năng lượng tái tạo minh bạch, đơn giản và thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
9. Hoạt động QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới kết quả và hiệu quả thực chất, thay vì chỉ chú trọng quy trình.
10. Công nghệ số và hệ thống dữ liệu được ứng dụng hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành và giám sát phát triển năng lượng tái tạo.
3. Huy động nguồn lực, khuyến khích đầu tư, ứng dụng và triển khai công nghệ năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh11. Các nguồn lực tài chính cho phát triển năng lượng tái tạo được huy động và phân bổ hiệu quả, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.
12. Nguồn nhân lực phục vụ phát triển năng lượng tái tạo đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và chuyên môn kỹ thuật.
13. Hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống lưới điện, đáp ứng yêu cầu tích hợp và phát triển bền vững năng lượng tái tạo.
14. Doanh nghiệp và các tổ chức liên quan có khả năng tiếp cận và ứng dụng các công nghệ năng lượng tái tạo hiện đại.
15. Nhà nước ban hành và thực thi các cơ chế hỗ trợ nhằm giảm thiểu rủi ro và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.
4. Kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh16. Các mục tiêu và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển năng lượng tái tạo được xác định rõ ràng và cụ thể.
17. Hệ thống giám sát, theo dõi và đo lường hoạt động phát triển năng lượng tái tạo được thiết lập đầy đủ và vận hành hiệu quả.
18. Dữ liệu và thông tin về năng lượng tái tạo được sử dụng một cách hệ thống trong quá trình ra quyết định QLNN.
19. Các chính sách và biện pháp quản lý phát triển năng lượng tái tạo được điều chỉnh và cải tiến liên tục dựa trên kết quả giám sát, đánh giá.
20. Công tác quản trị năng lượng gắn chặt với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.
II. Nhóm tiêu chí đánh giá kết quả QLNN về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh
5. Kết quả QLNN về phát triển năng lượng tái tạo21. Quy mô phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam được mở rộng một cách rõ rệt theo thời gian.
22. Cơ cấu các loại hình năng lượng tái tạo ngày càng đa dạng và cân đối hơn.
23. Năng lượng tái tạo được khai thác và sử dụng ngày càng hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu suất hệ thống năng lượng.
24. Năng lượng tái tạo từng bước thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch, giảm mức độ phụ thuộc vào nhiên liệu truyền thống.
25. Quá trình phát triển năng lượng tái tạo diễn ra ổn định, có khả năng duy trì và thích ứng trong dài hạn.
6. Tác động đến tăng trưởng xanh26. Phát triển năng lượng tái tạo góp phần giảm phát thải khí nhà kính và hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.
27. Phát triển năng lượng tái tạo nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống
28. Phát triển năng lượng tái tạo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng xanh, nâng cao hiệu quả sản xuất, đổi mới công nghệ và gia tăng giá trị bền vững.
29. Phát triển năng lượng tái tạo góp phần cải thiện chất lượng môi trường sống, sức khỏe cộng đồng và bảo đảm công bằng xã hội.
30. Phát triển năng lượng tái tạo đóng góp tích cực vào phát triển bền vững thông qua tạo việc làm xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn: Đề xuất của tác giả.

Nhóm tiêu chí thứ nhất (chỉ tiêu 1 – 20) phản ánh quá trình và nội dung QLNN, cho phép đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về phát triển năng lượng tái tạo. Nhóm tiêu chí thứ hai (chỉ tiêu 21 – 30) phản ánh kết quả và tác động của QLNN, làm rõ mức độ đạt được các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo gắn với tăng trưởng xanh.

Như vậy, hệ thống tiêu chí được đề xuất vừa bảo đảm đánh giá toàn diện hoạt động QLNN, vừa tạo cơ sở khoa học cho việc phân tích thực trạng, xác định những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh tại Việt Nam.

4. Vận dụng bộ tiêu chí đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh

4.1. Nhóm tiêu chí về nội dung quản lý nhà nước

Về hoạch định chiến lược, quy hoạch và chính sách, Việt Nam đã từng bước hình thành khung thể chế tương đối đầy đủ cho phát triển năng lượng tái tạo gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh. Các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, như: Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 và Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam. Các văn kiện này đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh các nguồn năng lượng sạch, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới nền kinh tế carbon thấp.

Tuy nhiên, khả năng huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch năng lượng. Hệ thống hạ tầng truyền tải điện chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nguồn điện tái tạo, đặc biệt tại những khu vực tập trung nhiều dự án điện mặt trời và điện gió. Bên cạnh đó, các công nghệ lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, điện gió ngoài khơi và hydro xanh vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển; năng lực nội địa hóa thiết bị và công nghệ còn hạn chế, dẫn đến sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu công nghệ và thiết bị. Quy hoạch điện VIII cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng truyền tải và nâng cao khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu chuyển dịch xanh của Việt Nam. Đồng thời, tốc độ phát triển một số nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam có dấu hiệu chậm lại sau giai đoạn tăng trưởng nhanh, phản ánh những khó khăn liên quan đến thể chế, hạ tầng kỹ thuật và điều kiện triển khai dự án (IRENA, 2023, 2025)9, 10.

Về tổ chức bộ máy và triển khai thực hiện chính sách, QLNN về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong cải cách thủ tục hành chính và từng bước ứng dụng công nghệ số trong quản lý năng lượng. Hệ thống QLNN về năng lượng tái tạo hiện nay có sự tham gia của nhiều chủ thể từ trung ương đến địa phương, trong đó Bộ Công Thương giữ vai trò quản lý ngành; các bộ, ngành liên quan thực hiện chức năng quản lý về đầu tư, tài chính, môi trường, khoa học, công nghệ; còn địa phương tham gia quản lý quy hoạch, đất đai và triển khai dự án.

Mặc dù vậy, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý vẫn còn nhiều hạn chế. Tình trạng chồng chéo trong thủ tục đầu tư, môi trường, đất đai và đấu nối điện vẫn diễn ra ở nhiều địa phương, làm kéo dài thời gian triển khai dự án và gia tăng chi phí cho doanh nghiệp. Một số địa phương còn thiếu kinh nghiệm và năng lực chuyên môn trong quản lý dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt đối với các yêu cầu kỹ thuật và giám sát môi trường. Điều này cho thấy, yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao năng lực quản trị nhà nước trong lĩnh vực năng lượng tái tạo theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả hơn.

Về huy động nguồn lực và thúc đẩy đổi mới công nghệ, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong thu hút đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Sự tham gia mạnh của khu vực tư nhân và nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần mở rộng quy mô thị trường năng lượng tái tạo, thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực sản xuất điện sạch. Quá trình phát triển năng lượng tái tạo cũng góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, tạo việc làm xanh và hình thành các ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ chuyển dịch năng lượng.

Tuy nhiên, việc huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển năng lượng tái tạo vẫn còn nhiều bất cập. Hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống truyền tải điện, chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của các dự án năng lượng tái tạo. Năng lực công nghệ trong nước còn hạn chế; phần lớn thiết bị và công nghệ phục vụ điện mặt trời, điện gió vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh và hỗ trợ đầu tư cho năng lượng tái tạo chưa thực sự đồng bộ, khiến khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn của nhiều doanh nghiệp còn khó khăn. Những hạn chế này phản ánh rõ yêu cầu nâng cao hiệu quả điều phối nguồn lực và phát triển hệ sinh thái công nghệ phục vụ chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam.

Về kiểm tra, giám sát và đánh giá, công tác QLNN đối với phát triển năng lượng tái tạo thời gian qua đã từng bước được gắn với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường. Các yêu cầu về đánh giá tác động môi trường, kiểm soát phát thải và phát triển bền vững ngày càng được chú trọng trong các chính sách và chương trình phát triển năng lượng. Điều này phản ánh xu hướng chuyển từ quản lý theo mục tiêu tăng trưởng đơn thuần sang quản lý phát triển xanh và bền vững hơn.

Tuy nhiên, hệ thống kiểm tra, giám sát và đánh giá trong lĩnh vực năng lượng tái tạo vẫn chưa thực sự đồng bộ. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý năng lượng còn phân tán; khả năng chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý còn hạn chế; trong khi hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển năng lượng tái tạo gắn với tăng trưởng xanh chưa hoàn thiện. Công tác giám sát sau đầu tư và đánh giá tác động môi trường ở một số địa phương còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Một số chuyên gia cũng cho rằng, việc thực thi các quy định về môi trường, đất đai và giám sát vận hành dự án tại nhiều địa phương chưa đồng đều, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

4.2. Nhóm tiêu chí đánh giá kết quả quản lý nhà nước

Việt Nam đã bước đầu đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng xanh. Năng lượng tái tạo không chỉ góp phần mở rộng nguồn cung năng lượng sạch mà còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm cường độ phát thải của nền kinh tế. Đồng thời, phát triển năng lượng tái tạo còn tạo động lực cho đổi mới công nghệ, thúc đẩy hình thành việc làm xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu (IRENA, 2023)11. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời và điện gió, đặc biệt là cơ chế giá FIT, đã tạo động lực mạnh cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào năng lượng tái tạo. Nhờ đó, quy mô phát triển năng lượng tái tạo tăng nhanh trong thời gian ngắn, góp phần đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện quốc gia và từng bước nâng cao tỷ trọng năng lượng sạch trong hệ thống năng lượng. Vì vậy, đến cuối năm 2024, tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện Việt Nam đạt khoảng 86.863 MW, trong đó công suất từ các nguồn năng lượng tái tạo, như: điện gió và điện mặt trời chiếm khoảng 26% tổng công suất hệ thống điện quốc gia (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 2025)12. Điều này phản ánh vai trò ngày càng rõ nét của Nhà nước trong định hướng phát triển năng lượng gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Tuy nhiên, kết quả QLNN về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam vẫn chưa thật sự bền vững. Tính ổn định của hệ thống năng lượng còn chịu áp lực lớn do hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; năng lực nội địa hóa công nghệ còn thấp; trong khi cơ chế phối hợp giữa phát triển năng lượng, phát triển công nghiệp xanh và bảo vệ môi trường chưa thực sự hiệu quả. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo theo hướng nâng cao chất lượng thể chế, tăng cường năng lực điều phối nguồn lực, phát triển hạ tầng đồng bộ và xây dựng hệ thống quản trị năng lượng hiện đại nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

5. Kết luận

Bài viết đã đề xuất bộ tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo hướng tới tăng trưởng xanh ở Việt Nam theo hướng kết hợp giữa đánh giá quá trình quản lý và kết quả quản lý. Bộ tiêu chí gồm 30 chỉ tiêu, có thể sử dụng làm công cụ nhận diện mức độ hiệu quả của hoạt động hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực, kiểm tra, giám sát và tác động của phát triển năng lượng tái tạo đối với tăng trưởng xanh. Kết quả vận dụng sơ bộ cho thấy, Việt Nam đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn hạn chế về tính ổn định chính sách, hạ tầng truyền tải, phối hợp quản lý, tài chính xanh, công nghệ và hệ thống giám sát. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước theo hướng đồng bộ, minh bạch và thích ứng hơn với yêu cầu chuyển dịch năng lượng xanh.

Chú thích:
1. OECD (2011). Towards Green Growth. OECD Publishing.
2. UNESCAP (2012). Green Growth, Resources and Resilience: Environmental Sustainability in Asia and the Pacific. United Nations.
3. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press.
4. Scott, W. R. (2014). Institutions and Organizations: Ideas, Interests, and Identities. SAGE.
5. Hood, C. (1991). A public management for all seasons? Public Administration, 69(1), 3-19.
6. Osborne, S. P. (2010). The New Public Governance? Emerging Perspectives on the Theory and Practice of Public Governance. Routledge.
7. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
8. Hart, S. L. (1995). A natural-resource-based view of the firm. Academy of Management Review, 20(4), 986-1014.
9, 11. IRENA (2023). Renewable Energy and Jobs: Annual Review 2023. International Renewable Energy Agency.
10. IRENA (2025). Renewable Energy and Jobs: Annual Review 2025. International Renewable Energy Agency.
12. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2025). Ngành điện Việt Nam giai đoạn 2021-2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2020). Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Chính phủ (2024). Nghị định số 80/2024/NĐ-CP ngày 03/7/2024 quy định về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn.
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/ 2020 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam.
4. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
5. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
7. Bùi Thị Thùy Nhi (2025). Quản lý nhà nước về kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững. DOI: https://doi.org/10.59394/qlnn.353.2025.1197
8. Tiêu chuẩn thúc đẩy tăng trưởng xanh. https://mst.gov.vn/tieu-chuan-thuc-day-tang-truong-xanh-197151889.htm
9. Sử dụng năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo hướng tới đạt được các mục tiêu phát thải vào năm 2050 của Việt Nam theo cam kết tại Hội nghị COP26. https://tapchicongthuong.vn/su-dung-nang-luong-xanh–nang-luong-sach–nang-luong-tai-tao-huong-toi-dat-duoc-cac-muc-tieu-phat-thai-vao-nam-2050-cua-viet-nam-theo-cam-ket-tai-hoi-nghi-cop26-116878.htm