Đấu tranh với luận điệu sai trái về mối quan hệ Việt Nam – Lào hiện nay

Combating distorted narratives about the Vietnam – Laos relationship today

ThS. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thái
NCS Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, được hun đúc bằng xương máu của nhiều thế hệ cách mạng hai nước, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Hoàng thân Xuphanuvông trực tiếp đặt nền móng, xây dựng và dày công vun đắp. Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, các thế lực thù địch gia tăng tuyên truyền xuyên tạc, chia rẽ, phủ nhận giá trị lịch sử và thực tiễn của mối quan hệ Việt – Lào. Bài viết phân tích cơ sở lịch sử, chính trị và thực tiễn của mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào; nhận diện các luận điệu sai trái, từ đó, đề xuất giải pháp đấu tranh bảo vệ và tiếp tục phát huy tình cảm thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Việt Nam – Lào; đoàn kết đặc biệt; đấu tranh phản bác; quan hệ quốc tế; bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Abstract: The Vietnam-Laos relationship is a great friendship, special solidarity, and comprehensive cooperation forged with the blood and sacrifice of many generations of revolutionaries from both countries. This relationship was directly founded, built, and meticulously nurtured by President Ho Chi Minh, President Kaysone Phomvihane, and Prince Souphanouvong. In the current context of complex regional and international developments, hostile forces have intensified their propaganda, distortion, division, and denial of the historical and practical values of Vietnam-Laos relations. This article analyzes the historical, political, and practical foundations of the special Vietnam-Laos relationship, identifies distorted arguments and narratives, and proposes solutions to combat these distortions while protecting and further promoting the loyal and steadfast sentiments between the two nations in the current period.

Keywords: Vietnam-Laos; special solidarity; counter-propaganda; international relations; safeguarding the ideological foundation.

1. Đặt vấn đề

Quan hệ Việt Nam – Lào là một trong những mối quan hệ quốc tế mẫu mực, hiếm có trong lịch sử thế giới đương đại, được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, sự tương đồng về lý tưởng cách mạng và lợi ích chiến lược lâu dài của hai dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, mối quan hệ này không chỉ được hình thành từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ và đầy hy sinh của hai nước. Trải qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay, quan hệ Việt – Lào luôn được khẳng định là “mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện”, trở thành tài sản vô giá của hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước.

2. Quan hệ Việt Nam – Lào kết tinh lịch sử cách mạng, thủy chung, son sắc của hai dân tộc

Quan hệ Việt Nam – Lào không phải là sản phẩm nhất thời của ngoại giao, càng không phải là sự sắp đặt mang tính lợi ích ngắn hạn. Đó là mối quan hệ được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt khi hai dân tộc cùng phải đối diện với ách thống trị thực dân, đế quốc; cùng chung khát vọng độc lập, tự do; cùng lựa chọn con đường cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đó là mối quan hệ thủy chung, son sắc được hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước xây dựng, vun đắp bằng tình cảm chân thành, yêu mến và cùng nhau tiến bộ.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, quan hệ Việt – Lào ngày càng thắm thiết, thủy chung, son sắc, trong sáng hơn trên nền tảng của chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức là quy luật thành công của cách mạng. Người đã nhiều lần khẳng định cách mạng ba nước Đông Dương có mối liên hệ mật thiết “Ngoài nước thì tình đoàn kết giữa dân ta và hai dân tộc bạn Miên – Lào ngày càng chặt chẽ”1. Cùng với đó, sự nghiệp giải phóng của mỗi dân tộc chỉ có thể bền vững khi gắn với sự nghiệp chung của khu vực “tin chắc rằng tình hữu nghị của hai dân tộc Lào – Việt sẽ đủ sức đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ”2.

Chính vì vậy, sự kề vai sát cánh giữa hai dân tộc trong các cuộc kháng chiến không phải là “giúp đỡ một chiều” mà là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử và sự đoàn kết chung sức, đồng lòng, thủy chung, son sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta phải nhận rõ rằng: hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thật sự và hoàn toàn”3. Bởi vậy, trong sự nghiệp cách mạng của hai nước, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ hai nước đã hy sinh trong cuộc chiến chống kẻ thù chung vì mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội; những tuyến đường chiến lược, những căn cứ kháng chiến, những chiến dịch phối hợp là minh chứng hùng hồn cho tính chất “sống còn” của mối quan hệ này.

Sau khi giành được độc lập, quan hệ đặc biệt ấy tiếp tục được thể chế hóa bằng các hiệp ước, thỏa thuận hợp tác toàn diện, tiêu biểu là Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác năm 1977. Từ đó đến nay, quan hệ Việt – Lào không ngừng được củng cố cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành trụ cột bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi nước “chúng tôi tin chắc rằng tình hữu nghị anh em giữa hai dân tộc chúng ta sẽ ngày càng bền chặt trong công cuộc đấu tranh chung cho hòa bình và dân chủ thế giới”4. và “Chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào ngày càng được củng cố và phát triển”5.

Nhìn từ chiều dài lịch sử, có thể khẳng định, quan hệ Việt – Lào là sản phẩm của sự lựa chọn chiến lược dựa trên lợi ích căn bản, lâu dài của hai dân tộc, chứ không phải sự ràng buộc áp đặt hay tính toán cơ hội “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng từ nay về sau tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta sẽ ngày càng thắm thiết, quan hệ kinh tế và văn hóa giữa hai nước chúng ta sẽ ngày càng mở rộng và chặt chẽ”6 và “Tôi tin rằng mối tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước láng giềng Việt – Lào sẽ ngày càng thêm thân mật và phát triển”7.

3. Thực tiễn hợp tác, phát triển toàn diện mối quan hệ Việt Nam – Lào

Một trong những căn cứ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về quan hệ Việt Nam – Lào không nằm ở những lời khẳng định chung chung mà nằm ở chính thực tiễn hợp tác toàn diện, liên tục và ngày càng đi vào chiều sâu giữa hai nước. Nếu một mối quan hệ chỉ còn ý nghĩa biểu tượng thì sẽ khó có thể duy trì được cường độ tiếp xúc cấp cao dày đặc, khó hình thành được các cơ chế phối hợp ổn định, càng khó chuyển hóa thành những kết quả cụ thể trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân. Trái lại, những gì đang diễn ra trong quan hệ Việt Nam – Lào cho thấy, đây là mối quan hệ có nền tảng chính trị đặc biệt vững chắc, có lợi ích phát triển đan xen ngày càng rõ và có cơ sở xã hội sâu rộng, vì vậy, mọi cách diễn giải cho rằng quan hệ hai nước chỉ là “khẩu hiệu lịch sử” hay “sự gắn kết hình thức” đều không đứng vững trước thực tế.

Trước hết, chính độ ổn định và tính thể chế hóa rất cao của quan hệ chính trị, đối ngoại đã phủ nhận những xuyên tạc cho rằng quan hệ Việt Nam – Lào đang phai nhạt. Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào tháng 12/2025 tiếp tục nhấn mạnh việc “hiện thực hóa quan hệ gắn kết chiến lược”, còn các cuộc tiếp xúc cấp cao đầu năm 2026 giữa lãnh đạo hai nước cho thấy, Việt Nam – Lào vẫn đặt nhau ở vị trí ưu tiên đặc biệt trong chính sách đối ngoại và phát triển của mình. Điều quan trọng ở đây không chỉ là có các chuyến thăm, mà là các cơ chế điều phối hợp tác đang vận hành đều đặn và thực chất, từ Ủy ban liên Chính phủ đến các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và đối ngoại nhân dân. Một quan hệ nếu thiếu lòng tin chiến lược sẽ không thể duy trì được nhịp độ phối hợp như vậy qua nhiều năm, nhất là trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới biến động nhanh. Chính sự liên tục ấy là minh chứng cho thấy, mối quan hệ Việt Nam – Lào không vận hành theo logic ngắn hạn, mà theo logic của sự thủy chung chính trị và gắn kết chiến lược lâu dài.

Trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, thực tiễn cho thấy, quan hệ Việt Nam – Lào là quan hệ cùng chia sẻ trách nhiệm chiến lược, chứ không đơn thuần là quan hệ hữu nghị mang tính nghi lễ. Các cuộc hội kiến cấp cao giữa lãnh đạo Bộ Quốc phòng hai nước trong tháng 01/2026 và tháng 02/2026 đều thống nhất đánh giá hợp tác quốc phòng Việt Nam – Lào tiếp tục được triển khai “toàn diện, sâu rộng, thực chất”; đồng thời, hai bên tiếp tục thúc đẩy trao đổi đoàn, đối thoại chính sách quốc phòng, phối hợp quản lý và bảo vệ biên giới, cũng như chuẩn bị diễn tập chung về ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống. Đây là bằng chứng cho thấy, quan hệ hai nước không chỉ được bảo tồn bởi ký ức lịch sử mà còn đang được tái khẳng định bằng hành động phối hợp cụ thể trước các thách thức an ninh hiện tại. Nếu không có sự tin cậy đặc biệt, hai nước khó có thể duy trì mức độ hợp tác quốc phòng – an ninh sâu như vậy, bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm nhất của chủ quyền và lợi ích quốc gia. Nói cách khác, chính hợp tác quốc phòng – an ninh hiện nay là một bằng chứng thực tế bác bỏ luận điệu cho rằng quan hệ Việt Nam – Lào chỉ còn ý nghĩa biểu trưng.

Sức nặng của thực tiễn bác bỏ xuyên tạc còn thể hiện rất rõ trong hợp tác kinh tế, nơi mọi kết quả đều có thể đo đếm bằng số liệu cụ thể. Tại Kỳ họp lần thứ 47 và các diễn đàn hợp tác đầu tư năm 2025, phía Việt Nam công bố lũy kế có 267 dự án đầu tư tại Lào với tổng vốn đăng ký 5,7 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 2,8 tỷ USD; riêng năm 2024, vốn đăng ký đầu tư sang Lào đạt 191,1 triệu USD, tăng 62,1% so với năm 2023. Kim ngạch thương mại song phương năm 2024 đạt 2,25 tỷ USD, tăng 38,2%; 10 tháng đầu năm 2025 đạt 2,6 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên thành đối tác đầu tư nước ngoài lớn thứ hai tại Lào8. Những con số này có ý nghĩa lập luận rất mạnh: một quan hệ bị cho là “hình thức” sẽ không thể tạo ra dòng vốn đầu tư hàng tỷ USD, mức tăng trưởng thương mại cao như vậy, cũng không thể hình thành các dự án năng lượng, hạ tầng, logistics và kết nối phát triển có tác động dài hạn. Thực tiễn ấy chứng minh rằng quan hệ Việt Nam – Lào đang được chuyển hóa thành lợi ích phát triển thiết thực, mang lại hiệu quả cụ thể cho cả hai bên.

Không chỉ dừng lại ở chính trị và kinh tế, chiều sâu xã hội của quan hệ Việt Nam – Lào cũng là minh chứng đặc biệt quan trọng để bác bỏ những quan điểm xuyên tạc. Một mối quan hệ thật sự bền vững phải được nuôi dưỡng từ con người, từ đào tạo, từ văn hóa và từ giao lưu Nhân dân. Chính vì vậy, thực tế nhiều thế hệ cán bộ, sinh viên Lào học tập tại Việt Nam, cùng với mạng lưới hợp tác giữa các địa phương, các tổ chức quần chúng và các chương trình giao lưu hữu nghị đã tạo nên lớp nền xã hội rất sâu cho quan hệ hai nước. Khi hợp tác đã đi vào đời sống xã hội, đi vào nhận thức của nhiều thế hệ và được duy trì bằng các hoạt động cụ thể, thì việc xuyên tạc rằng, quan hệ Việt Nam – Lào chỉ được duy trì bởi tuyên truyền chính trị sẽ trở nên thiếu cơ sở. Bởi lẽ, không một sự áp đặt hình thức nào có thể thay thế được sự gắn bó xã hội được bồi đắp lâu dài bằng giáo dục, giao lưu và trải nghiệm thực tiễn.

Nhìn một cách tổng thể, giá trị bác bỏ xuyên tạc của thực tiễn hợp tác Việt Nam – Lào hiện nay nằm ở chỗ: nó biến những giá trị lịch sử thành hiệu quả hiện thực. Những kẻ xuyên tạc thường tìm cách tách quá khứ khỏi hiện tại, coi quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào chỉ là sản phẩm của chiến tranh cách mạng, không còn phù hợp trong thời bình và hội nhập. Nhưng thực tế lại cho thấy điều ngược lại: chính vì có nền tảng lịch sử đặc biệt, nên hai nước có điều kiện chuyển hóa niềm tin chính trị thành cơ chế phối hợp ổn định; chuyển tình đoàn kết truyền thống thành hợp tác quốc phòng – an ninh chặt chẽ; chuyển nghĩa tình thủy chung thành đầu tư, thương mại, kết nối hạ tầng và giao lưu xã hội ngày càng sâu sắc. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, thực tiễn phát triển toàn diện của quan hệ Việt Nam – Lào là bằng chứng sống động, khách quan và giàu sức thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu phủ nhận, chia rẽ hay xuyên tạc mối quan hệ thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc
4. Đấu tranh với luận điệu sai trái, bảo vệ mối quan hệ Việt Nam – Lào

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, không gian mạng trở thành “mặt trận” mới của đấu tranh tư tưởng, cùng với đó là sự gia tăng của các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thì việc đấu tranh bảo vệ mối quan hệ Việt Nam – Lào không chỉ là yêu cầu mang tính chính trị, tư tưởng, mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây không đơn thuần là việc “phản bác” những thông tin sai trái, mà là quá trình khẳng định, củng cố và lan tỏa những giá trị chân thực, khách quan của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong điều kiện mới.

Một là, cần nhận thức sâu sắc rằng, đấu tranh bảo vệ mối quan hệ Việt Nam – Lào hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, với những đặc điểm khác biệt so với trước đây. Nếu trong thời kỳ chiến tranh, sự gắn bó giữa hai dân tộc được thử thách và khẳng định bằng máu xương, thì trong thời bình, thách thức lại đến từ chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức và sự tác động của các lợi ích kinh tế, chính trị đa chiều. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, như: chủ quyền, lợi ích kinh tế, đầu tư, môi trường, dân tộc, tôn giáo… để bóp méo bản chất quan hệ Việt Nam – Lào, từ đó, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ lòng tin giữa Nhân dân hai nước. Chính vì vậy, đấu tranh trong giai đoạn hiện nay phải được đặt trên nền tảng nhận thức đúng về tính chất phức tạp của môi trường thông tin hiện đại; đồng thời, phải gắn với yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, kiên định và làm rõ cơ sở lịch sử, chính trị, thực tiễn của mối quan hệ thủy chung, son sắt Việt Nam – Lào. Đây không phải là mối quan hệ được hình thành ngẫu nhiên hay vì lợi ích nhất thời, mà là kết quả của quá trình gắn bó lâu dài trong đấu tranh cách mạng, được thử thách qua nhiều giai đoạn lịch sử và được tiếp tục phát triển trong thời bình bằng những cơ chế hợp tác toàn diện. Việc làm rõ tính tất yếu lịch sử và giá trị hiện thực của mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó giúp “giải độc” các luận điệu xuyên tạc vốn thường cố tình tách rời quá khứ khỏi hiện tại, phủ nhận tính liên tục và giá trị đương đại của quan hệ Việt Nam – Lào. Do đó, đấu tranh không chỉ là phản bác mà trước hết phải là khẳng định bằng lập luận khoa học và bằng thực tiễn sinh động.

Ba là, nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng đang trở thành môi trường chủ yếu của các hoạt động xuyên tạc. Trong điều kiện hiện nay, thông tin không còn được kiểm soát theo cách truyền thống mà lan tỏa nhanh chóng, đa chiều và khó kiểm chứng. Vì vậy, việc đấu tranh phải chuyển từ thế bị động sang chủ động, từ phản ứng sang định hướng, bằng cách xây dựng các nội dung truyền thông có tính thuyết phục cao, dựa trên dữ liệu, số liệu và minh chứng cụ thể. Những thành tựu hợp tác Việt Nam – Lào trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế, giáo dục, văn hóa… cần được truyền tải một cách sinh động, dễ tiếp cận, đặc biệt hướng tới thế hệ trẻ đối tượng dễ bị tác động bởi thông tin sai lệch nhưng cũng là lực lượng quyết định tương lai của quan hệ hai nước.

Bốn là, gắn đấu tranh tư tưởng với việc nâng cao hiệu quả thực chất của hợp tác Việt Nam – Lào. Thực tiễn cho thấy, mọi luận điệu xuyên tạc chỉ có thể bị bác bỏ triệt để khi chính bản thân quan hệ hai nước tiếp tục phát triển, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân. Khi hợp tác kinh tế được mở rộng, các dự án giáo dục, y tế, hạ tầng mang lại hiệu quả rõ rệt, thì những luận điệu cho rằng, quan hệ Việt Nam – Lào là “hình thức” hay “không có lợi ích” sẽ tự mất đi cơ sở tồn tại. Do đó, đấu tranh không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề thực tiễn, càng hợp tác hiệu quả, càng có cơ sở để đấu tranh thắng lợi.

Năm là, cần đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục và bồi dưỡng nhận thức cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống quan hệ Việt Nam – Lào. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, sự giao lưu đa chiều có thể làm “loãng” nhận thức lịch sử nếu không được giáo dục đúng mức. Vì vậy, việc đưa nội dung về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi sinh viên, học viên, cán bộ trẻ… có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng “miễn dịch nhận thức” trước các luận điệu xuyên tạc. Đây cũng chính là cách thức bền vững nhất để bảo vệ tình cảm thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc không chỉ bằng lý trí mà còn bằng tình cảm và trải nghiệm thực tiễn.

Sáu là, đấu tranh bảo vệ quan hệ Việt Nam – Lào trong giai đoạn mới phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể: từ các cơ quan lãnh đạo, quản lý, lực lượng chuyên trách đến đội ngũ trí thức, báo chí, truyền thông và mỗi người dân. Trong đó, đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học, phân tích, phản biện và định hướng dư luận xã hội. Khi các chủ thể cùng tham gia với nhận thức đúng, phương pháp đúng và trách nhiệm cao thì đấu tranh sẽ không còn là hoạt động riêng lẻ, mà trở thành một quá trình đồng bộ, có chiều sâu và có sức lan tỏa mạnh mẽ.

5. Kết luận

Quan hệ Việt Nam – Lào là tài sản vô giá, được xây dựng bằng máu xương và niềm tin của nhiều thế hệ cách mạng. Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, việc đấu tranh với các luận điệu sai trái nhằm chia rẽ quan hệ hai nước không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là trách nhiệm lịch sử. Giữ gìn và phát huy mối quan hệ Việt Nam – Lào chính là góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của mỗi dân tộc. Đó cũng là sự tiếp nối xứng đáng di sản mà các thế hệ lãnh đạo tiền bối đã dày công vun đắp, để mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào mãi mãi là biểu tượng của lòng tin, nghĩa tình và hợp tác chân thành trong thời đại mới.

Chú thích:
1, 2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 475, 505.
3, 4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 8. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 34, 361.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 14. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 545.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 214.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 405.
8. Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào đồng chủ trì Kỳ họp lần 47 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào. https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/thu-tuong-pham-minh-chinh-va-thu-tuong-lao-dong-chu-tri-ky-hop-lan-47-uy-ban-lien-chinh-phu-viet-nam-lao-810736
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật,.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025). Báo cáo hợp tác đầu tư Việt Nam – Lào.
4. Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào mãi mãi xanh tươi đời đời bền vững. https://vnoffice-taipei.mofa.gov.vn/vi/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/-quan-he-dac-biet-viet-nam-lao-mai-mai-xanh-tuoi-doi-doi-ben-vung–140.html
5. Quan hệ Việt Nam – Lào: mẫu mực, thủy chung, trong sáng. https://vov.vn/chinh-tri/quan-he-viet-nam-lao-mot-tam-guong-mau-muc-ve-su-thuy-chung-trong-sang-vung-ben-post995733.vov
6. Thúc đẩy hợp tác quốc phòng Việt Nam – Lào phát triển toàn diện, sâu rộng, thực chất. https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-ngoai-quoc-phong/thuc-day-hop-tac-quoc-phong-viet-nam-lao-phat-trien-toan-dien-sau-rong-thuc-chat-1023216