Không tuyệt đối hóa khó khăn, thách thức để phủ định khát vọng Việt Nam 2045

Not allowing difficulties and challenges to be overstated in ways that negate Vietnam’s 2045 aspiration

TS. Nguyễn Thị Nghĩa
Học viện Chính trị khu vực IV
TS. Lê Văn Tuyên
Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

(Quanlynhanuoc.vn) – Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 là mục tiêu chiến lược lớn, có cơ sở lịch sử, thực tiễn và khoa học. Trong hành trình ấy, khó khăn, thách thức là hiện thực khách quan cần được nhận diện đầy đủ, đánh giá đúng và giải quyết bằng cải cách mạnh mẽ, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo và hành động quyết liệt. Chính vì vậy, việc tuyệt đối hóa khó khăn để phủ định khát vọng phát triển của dân tộc là cách tiếp cận phiến diện, thiếu cơ sở và dễ dẫn đến tâm lý bi quan, dao động, làm suy giảm niềm tin của xã hội. Bài viết khẳng định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là khẩu hiệu cảm tính, mà là sự kết tinh của thành tựu 40 năm đổi mới, bản lĩnh chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và yêu cầu hành động trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khóa: Khát vọng Việt Nam 2045; khó khăn; thách thức; niềm tin phát triển; đổi mới.

Abstract: The aspiration to make Vietnam a developed, high-income nation by 2045 is a major strategic goal grounded in history, practical experience, and science. On this journey, difficulties and challenges are objective realities that must be fully recognized, accurately assessed, and resolved through bold reforms, modern governance, innovation, and decisive action. Therefore, exaggerating difficulties to deny the nation’s development aspirations is a one-sided, unfounded approach that easily leads to pessimism and wavering, thereby eroding social trust. This article affirms that the aspiration for a prosperous and happy nation is not merely an emotional slogan, but the culmination of 40 years of reform achievements, political resolve, the strength of national unity, and a call to action in the new era of development.

Keywords: Vietnam’s Aspiration 2045; difficulties; challenges; confidence in development; innovation.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển của mỗi dân tộc, có những thời điểm khát vọng vượt lên ý nghĩa tinh thần thông thường để trở thành động lực hành động và quy tụ sức mạnh cho sự phát triển quốc gia; không chỉ là niềm tin vào tương lai, khát vọng mà còn là điểm tựa để khơi dậy ý chí, kết nối nguồn lực và phát huy sức sáng tạo của toàn xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại… phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao”1. Đến Đại hội XIV Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh vào kỷ nguyên mới của dân tộc…hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”2, đây không chỉ là một chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là lời hẹn với tương lai dân tộc, là sự tiếp nối khát vọng độc lập, tự cường, phồn vinh và hạnh phúc đã được hun đúc qua suốt chiều dài dựng nước và giữ nước; là mục tiêu có nền tảng lịch sử, thực tiễn và chính trị vững chắc; được đặt trên cơ sở thành tựu của 40 năm đổi mới, bản lĩnh chính trị của Đảng, sức mạnh Nhân dân, tiềm năng dân tộc và yêu cầu phát triển của thời đại.

Tuy nhiên, càng đứng trước mục tiêu lớn, chúng ta càng phải đối diện với những khó khăn, thử thách không nhỏ. Đó là “nền kinh tế vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu, khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm dần qua các kỳ đại hội, phát triển thiếu bền vững; năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ khoa học và công nghệ và nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; sức chống chịu và năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế còn yếu…”3. Những khó khăn ấy là có thật, không thể né tránh, càng không thể tô hồng.

Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là Việt Nam có khó khăn hay không, mà là chúng ta nhìn nhận khó khăn như thế nào: như một lực cản để buông xuôi, hay như một áp lực để cải cách; như bằng chứng để phủ định tương lai, hay như động lực để bứt phá. Nhìn thẳng vào khó khăn để đổi mới khác căn bản với tuyệt đối hóa khó khăn để phủ định khát vọng; nhận diện hạn chế để hành động khác với thổi phồng hạn chế để gieo rắc tâm lý bi quan; cảnh báo nguy cơ để cải cách khác với tuyệt đối hóa nguy cơ nhằm phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Chỉ khi có cách nhìn nhận đúng đắn, khó khăn không còn là giới hạn của khát vọng, mà trở thành phép thử của bản lĩnh, trí tuệ và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam.

2. Tuyệt đối hóa khó khăn, thách thức: biểu hiện sai lệch cần nhận diện trong bảo vệ khát vọng Việt Nam 2045

Một trong những biểu hiện phổ biến của các quan điểm hoài nghi, sai trái hiện nay là tuyệt đối hóa khó khăn, nhấn mạnh một chiều vào những hạn chế để hạ thấp tiềm năng phát triển của đất nước. Các quan điểm này thường xoáy vào năng suất lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị, năng lực cạnh tranh, khoảng cách thu nhập với các nước phát triển; từ đó, suy diễn rằng Việt Nam “không thể vượt bẫy thu nhập trung bình”, “không thể trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”.

Thoạt nhìn, cách lập luận này có vẻ dựa trên các vấn đề thực tiễn. Nhưng về bản chất, đó là sự đánh tráo giữa “nhận diện khó khăn” với “phủ định triển vọng”; giữa “phân tích điểm nghẽn” với “phủ nhận năng lực vượt qua điểm nghẽn”; giữa “phê bình xây dựng” với “gieo rắc hoài nghi”. Một lập luận khoa học không thể chỉ nhìn vào khoảng cách còn lại mà bỏ qua toàn bộ quãng đường đã đi qua. Một cách tiếp cận khách quan không thể chỉ nhìn thấy hạn chế hiện tại mà không nhìn thấy động lực phát triển đang hình thành. Một thái độ có trách nhiệm với đất nước không thể biến khó khăn thành lý do để làm suy giảm niềm tin xã hội.

Ở đây, ta cần nhìn nhận và khẳng định rõ: Việt Nam không phủ nhận khó khăn, trái lại đã nhiều lần chỉ ra những hạn chế, điểm nghẽn, nguy cơ và yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn. Điều đó cho thấy, khó khăn không có nghĩa là “bản án” đối với tương lai dân tộc; điểm nghẽn là vấn đề phải tháo gỡ, không phải lý do để buông xuôi; thách thức là yêu cầu phải hành động, không phải căn cứ để phủ nhận khát vọng. Một dân tộc trưởng thành là dân tộc biết biến khó khăn thành động lực đổi mới và bứt phá.

Dạng luận điệu thứ hai là phủ nhận hoặc xem nhẹ thành tựu qua 40 năm đổi mới của đất nước. Các quan điểm này thường tách rời mục tiêu đến năm 2045 khỏi nền tảng lịch sử và thực tiễn đã được tích lũy qua nhiều thập niên; cố tình làm mờ những chuyển biến căn bản về kinh tế, giảm nghèo, hội nhập quốc tế, ổn định chính trị – xã hội, nâng cao vị thế quốc gia. Đây là cách nhìn thiếu công bằng với lịch sử và thiếu khách quan với thực tiễn.

Từ một nền kinh tế nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế năng động, có độ mở lớn, hội nhập sâu rộng: Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), năm 1986, khi bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới, GDP Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD. Trong số 9/10 quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp trên Myanmar (5,15 tỷ USD)4.

Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra5; Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc xóa đói giảm nghèo. Chất lượng sống của người dân được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ tiếp cận điện, nước sạch, dịch vụ y tế và giáo dục tăng mạnh; chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, xếp vào nhóm trung bình cao của thế giới6… Nhìn vào những con số “biết nói ấy”, cho ta thấy một điều rất quan trọng: Việt Nam có năng lực vượt khó, có khả năng chuyển hóa đường lối đổi mới thành thành tựu thực tiễn, có nền tảng để tiếp tục tiến lên. Nếu phủ nhận thành tựu đổi mới, tức là phủ nhận một tiến trình phát triển đã được lịch sử kiểm chứng, được đời sống nhân dân xác nhận và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Dạng luận điệu thứ ba là gieo rắc tâm lý bi quan, làm suy giảm niềm tin xã hội. Dạng luận điệu gieo rắc tâm lý bi quan thường không xuất hiện dưới hình thức phủ định trực diện, mà được che giấu bằng vỏ bọc “phân tích khách quan”, “cảnh báo rủi ro”, “phản biện chính sách”. Biểu hiện thường thấy ở dạng này là  so sánh cơ học Việt Nam với các quốc gia phát triển mà tách rời bối cảnh lịch sử, xuất phát điểm, điều kiện phát triển và lộ trình phấn đấu của đất nước. Cách so sánh này thường lấy khoảng cách hiện nay về thu nhập, công nghệ, năng suất, chất lượng hạ tầng, năng lực doanh nghiệp để kết luận rằng mục tiêu Việt Nam 2045 là “quá xa”, “khó đạt”, “thiếu thực tế”. Đây là lối lập luận thiếu khoa học, bởi khoảng cách phát triển không phải là căn cứ để phủ định khát vọng, mà là cơ sở để xác định nhiệm vụ cải cách, lựa chọn đột phá và tổ chức hành động quyết liệt hơn. Bên cạnh đó, việc thường xuyên đồng nhất những hạn chế cục bộ, những bất cập trong tổ chức thực hiện, thậm chí một số hiện tượng tiêu cực trong quản lý, điều hành với bản chất của đường lối phát triển. Từ một số điểm nghẽn trong thực tiễn, họ suy rộng thành sự hoài nghi đối với năng lực lãnh đạo, quản trị và khả năng phát triển của đất nước. Đây là sự đánh tráo nguy hiểm giữa “vấn đề cần khắc phục” với “căn cứ để phủ định”; giữa “hạn chế trong quá trình phát triển” với “bản chất của con đường phát triển”.

Điểm tinh vi hơn là những luận điệu này làm mờ ranh giới giữa phản biện xây dựng và phủ định cực đoan. Phản biện xây dựng luôn hướng tới hoàn thiện chính sách, tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy cải cách và nâng cao hiệu quả thực thi. Ngược lại, phủ định cực đoan thường lấy khó khăn làm chất liệu để gieo rắc tâm lý bất lực, hoài nghi và dao động. Họ không đề xuất giải pháp khả thi, không khơi dậy trách nhiệm hành động, mà chủ yếu tạo cảm giác rằng cải cách là quá khó, mục tiêu là quá xa, nỗ lực là không đủ và tương lai là thiếu chắc chắn. Chính vì vậy, cần khẳng định rằng sự nguy hiểm của dạng luận điệu này không chỉ nằm ở nội dung sai lệch, mà còn ở tác động tâm lý – xã hội của nó. Khi khó khăn bị phóng đại, thành tựu bị xem nhẹ, triển vọng bị hoài nghi và niềm tin bị bào mòn, xã hội dễ rơi vào trạng thái chần chừ, thiếu quyết tâm, giảm ý chí đổi mới.

3. Khát vọng Việt Nam 2045: cơ sở hiện thực và yêu cầu chuyển hóa thách thức thành động lực phát triển

“Khát vọng Việt Nam 2045” không phải dựa trên sự lạc quan cảm tính, càng không phải là khẩu hiệu chính trị chung chung, mà là mục tiêu chiến lược được đặt trên nền tảng lịch sử, thực tiễn và chính trị vững chắc. Nền tảng ấy trước hết được kết tinh từ thành tựu qua 40 năm đổi mới, từ bản lĩnh vượt qua khó khăn của dân tộc, từ sự ổn định chính trị – xã hội, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, tiềm năng con người Việt Nam, các động lực phát triển mới và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Thậy vậy, những thành tựu qua 40 năm đổi mới là luận cứ thực tiễn quan trọng để khẳng định tính hiện thực của khát vọng Việt Nam 2045. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khép kín, kém phát triển, Việt Nam đã từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; diện mạo đất nước thay đổi căn bản; tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được củng cố: “GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng trên 100USD vào năm 1986, lên khoảng 5.000 USD năm 2025, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao7; Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trên thế giới. Quy mô GDP năm 2025 đạt khoảng 510 tỷ USD8, xếp thứ 32 trên thế giới,… Đó không chỉ là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là minh chứng cho năng lực tự đổi mới, khả năng thích ứng và sức mạnh vươn lên của dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, ổn định chính trị – xã hội là lợi thế chiến lược đặc biệt quan trọng trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu 2045. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, khủng hoảng và bất định đan xen, ổn định chính trị không chỉ là điều kiện bảo đảm an ninh, trật tự, mà còn là nền tảng để hoạch định chính sách dài hạn, thu hút đầu tư, củng cố niềm tin xã hội và huy động nguồn lực cho phát triển. Cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã mở ra không gian phát triển mới, giúp Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận vốn, công nghệ, tri thức quản trị, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt khoảng 900 tỷ USD, tăng gấp hàng chục lần so với năm 1990. Việt Nam là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: CPTPP, EVFTA, RCEP, là điểm đến hấp dẫn cho các tập đoàn đa quốc gia9.

Đặc biệt, các động lực phát triển mới như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và trí tuệ nhân tạo đang tạo thêm cơ sở để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển. Những động lực này không chỉ phản ánh xu thế vận động của thời đại, mà còn mở ra cơ hội để các quốc gia đi sau có thể bứt phá nếu có chiến lược đúng, thể chế phù hợp và hành động kịp thời. Việt Nam đã duy trì được việc tăng hạng chỉ số Chính phủ điện tử liên tục trong giai đoạn 2014 – 2024, từ vị trí thứ 99 lên vị trí thứ 71 trong 193 quốc gia10, thuộc nhóm EGDI rất cao; năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu của WIPO và đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN (sau Singapore và Malaixia)11. Những kết quả này cho thấy, Việt Nam không đứng yên trước khó khăn, mà đang từng bước chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị.

Từ nền tảng lịch sử, thực tiễn và chính trị vững chắc, khát vọng Việt Nam 2045 càng được khẳng định rõ hơn khi đặt trong yêu cầu chuyển hóa những khó khăn, thách thức thành động lực cải cách, đổi mới và phát triển đất nước. Thật vậy, khẳng định cơ sở hiện thực của khát vọng Việt Nam 2045 không có nghĩa là xem nhẹ khó khăn, thách thức; trái lại, mục tiêu càng lớn thì việc nhận diện khó khăn càng phải đầy đủ, khách quan và khoa học những lực cản trên con đường phát triển. Khó khăn không phải là yếu tố nằm ngoài tiến trình vươn lên của dân tộc, mà là một bộ phận tất yếu của quá trình phát triển. Vấn đề quan trọng không phải là né tránh hay tô hồng khó khăn, càng không phải tuyệt đối hóa khó khăn để phủ định khát vọng, mà là nhìn nhận đúng tính chất, nguyên nhân và mức độ của thách thức để chuyển hóa thành yêu cầu đổi mới, cải cách và hành động.

Thực tiễn phát triển của các quốc gia cho thấy, không có con đường đi tới thịnh vượng nào bằng phẳng. Mọi quốc gia muốn vươn lên đều phải đối diện với những lựa chọn khó khăn về mô hình tăng trưởng, cải cách thể chế, nâng cao năng suất lao động, phát triển nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Vì vậy, khó khăn không phải là ngoại lệ của Việt Nam, mà là phép thử đối với bản lĩnh, năng lực quản trị và sức sáng tạo của quốc gia. Điều quyết định không nằm ở chỗ khó khăn nhiều hay ít, mà ở khả năng nhận diện đúng, quản trị hiệu quả và chuyển hóa thách thức thành động lực phát triển mới.

Đối với Việt Nam, yêu cầu chuyển hóa thách thức thành động lực phát triển càng có ý nghĩa cấp thiết. Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình phải trở thành áp lực đổi mới mô hình tăng trưởng; hạn chế về năng suất lao động phải trở thành động lực thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; điểm nghẽn thể chế phải trở thành yêu cầu cải cách mạnh mẽ hơn; bất cập về nguồn nhân lực phải trở thành động lực đổi mới căn bản giáo dục, đào tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao; yêu cầu hiện đại hóa quản trị quốc gia phải trở thành động lực xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, lấy kết quả phục vụ nhân dân và phát triển đất nước làm thước đo.

Nhìn từ lịch sử dân tộc và thực tiễn đổi mới, chính trong khó khăn, Việt Nam đã nhiều lần tìm thấy động lực để vươn lên. Nếu vì khó mà phủ định, dân tộc Việt Nam đã không thể giành độc lập; nếu vì nghèo mà cam chịu, đất nước đã không thể tiến hành công cuộc đổi mới; nếu vì xuất phát điểm thấp mà tự ti, Việt Nam đã không thể hội nhập sâu rộng và từng bước khẳng định vị thế như hôm nay. Lịch sử ấy cho thấy, khó khăn chỉ trở thành lực cản khi bị nhìn nhận bằng tâm thế bi quan, buông xuôi; nhưng sẽ trở thành động lực phát triển khi được tiếp cận bằng bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần cải cách và ý chí hành động.

Do đó, cách tiếp cận khoa học đối với khát vọng Việt Nam 2045 không phải là phủ nhận mục tiêu vì còn nhiều thách thức, mà là xác định rõ điều kiện, nguồn lực và phương thức để vượt qua thách thức ấy. Khó khăn phải được đặt đúng vị trí: là đối tượng của cải cách, không phải căn cứ để phủ định; là áp lực của hành động, không phải lý do để dao động; là yêu cầu đổi mới, không phải dấu chấm hết cho khát vọng dân tộc. Phản bác luận điệu tuyệt đối hóa khó khăn không đồng nghĩa với phủ nhận khó khăn, mà bắt đầu từ việc thừa nhận khó khăn một cách trung thực, phân tích nguyên nhân một cách khoa học, nhận diện điểm nghẽn một cách khách quan và đề xuất giải pháp một cách khả thi.

Từ đó, có thể khẳng định, khát vọng Việt Nam 2045 chỉ có thể trở thành hiện thực khi thách thức được chuyển hóa thành động lực cải cách, áp lực phát triển được chuyển hóa thành năng lực đổi mới, và mục tiêu chiến lược được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Chính quá trình chuyển hóa ấy sẽ làm cho khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không dừng lại ở tầm nhìn, mà từng bước trở thành sức mạnh thực tiễn, thành kết quả phát triển và thành niềm tin vững chắc vào tương lai của dân tộc Việt Nam.

4. Đổi mới và kết quả phát triển là cơ sở vững chắc phê phán các quan điểm phủ định khát vọng đổi mới của đất nước ta

Khát vọng Việt Nam 2045 chỉ có sức thuyết phục đầy đủ khi được kiểm chứng bằng hành động đổi mới và kết quả phát triển cụ thể. Bởi lẽ, mọi luận điệu phủ định khát vọng dân tộc thường không chỉ nhằm vào mục tiêu năm 2045, mà còn gieo rắc hoài nghi về năng lực lãnh đạo, năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa mục tiêu chiến lược thành thành quả hiện thực. Vì vậy, phản bác những luận điệu ấy không thể chỉ dừng lại ở khẳng định niềm tin, mà phải được chứng minh bằng đường lối đúng, thể chế phù hợp, nguồn lực được huy động hiệu quả, mô hình tăng trưởng được đổi mới, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được phát huy, chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, quản trị quốc gia được hiện đại hóa và kết quả phát triển ngày càng rõ nét trong đời sống nhân dân. Nhận thức sâu sắc yêu cầu đó, Đảng ta đã chỉ rõ hệ quan điểm, định hướng và giải pháp lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam 2045, trong đó nhấn mạnh:

Trước hết, tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế.  phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng12. Thể chế là nền móng của “ngôi nhà kinh tế”- một nền móng vững sẽ giúp các trụ cột khác như vốn, công nghệ, nhân lực, hạ tầng,.. phát huy hết sức mạnh. Một nền kinh tế muốn tăng tốc không thể vận hành trên những điểm nghẽn về thủ tục, phân bổ nguồn lực, cơ chế phối hợp, kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình. Đột phá thể chế không chỉ là sửa đổi văn bản, mà là tạo lập môi trường phát triển minh bạch, ổn định, cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển.

Thứ hai, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng trưởng theo chiều rộng có giới hạn. Lợi thế lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, gia công lắp ráp không thể là nền tảng lâu dài cho một quốc gia thu nhập cao. Muốn bước vào nhóm nước phát triển, Việt Nam phải nâng cao năng suất lao động, làm chủ công nghệ, phát triển doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao và các ngành có giá trị gia tăng lớn.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng con người Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc, có khát vọng cống hiến. Suy cho cùng, trung tâm của phát triển là con người; động lực của phát triển cũng là con người. Không thể có quốc gia phát triển nếu thiếu đội ngũ lao động kỹ năng cao, cán bộ quản trị giỏi, nhà khoa học sáng tạo, doanh nhân có tầm nhìn, công chức liêm chính, chuyên nghiệp, người dân có năng lực số và ý thức công dân hiện đại. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học, văn hóa và con người phải được xem là đầu tư cho tương lai quốc gia.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, nhất là năng lực tổ chức thực hiện. Một trong những điểm yếu làm giảm hiệu quả chính sách là khoảng cách giữa chủ trương đúng và thực thi chưa tốt; giữa quyết tâm lớn và hành động chưa đồng bộ; giữa mục tiêu cao và nguồn lực chưa tương xứng. Vì vậy, Đảng ta xác định cần xây dựng nền quản trị hiện đại, minh bạch, dữ liệu hóa, đo lường bằng kết quả, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, chống trì trệ, né tránh, đùn đẩy, hình thức, bệnh thành tích. Nói đi đôi với làm, đã làm phải có kết quả, đã giao nhiệm vụ phải có kiểm tra, giám sát, đánh giá.

Thứ năm, củng cố niềm tin xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Niềm tin không tự nhiên có, cũng không thể chỉ kêu gọi mà có. Niềm tin được xây dựng bằng đường lối đúng, chính sách hợp lòng dân, bộ máy liêm chính, hiệu quả, đời sống nhân dân được cải thiện, công bằng xã hội được bảo đảm, quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng. Khi người dân thấy mình là chủ thể của phát triển, được thụ hưởng thành quả phát triển và được tham gia vào quá trình phát triển, khát vọng quốc gia sẽ trở thành “năng lượng” xã hội to lớn.

Thứ sáu, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời, nâng cao chất lượng thông tin, truyền thông chính sách. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành môi trường tác động mạnh đến nhận thức xã hội, các luận điệu phủ định khát vọng phát triển thường được trình bày dưới dạng “phân tích khách quan”, “cảnh báo khoa học”, “phản biện độc lập”… Vì vậy, đấu tranh phản bác không thể chỉ bằng khẩu hiệu, mà phải bằng lý lẽ sắc bén, số liệu xác thực, lập luận khoa học, ngôn ngữ thuyết phục và quan trọng nhất là bằng kết quả thực tiễn của công cuộc đổi mới.

4. Kết luận

Khó khăn không phủ định khát vọng; thách thức không làm lu mờ tương lai. Điểm nghẽn không phải là lý do để buông xuôi, mà là yêu cầu phải cải cách; khoảng cách phát triển không phải là căn cứ để tự ti, mà là động lực để vươn lên. Vì vậy, khát vọng Việt Nam 2045 không phải là lời hứa viển vông, càng không phải là khẩu hiệu cảm tính, mà là mục tiêu chiến lược có cơ sở lịch sử, thực tiễn và chính trị vững chắc, được đặt trên nền tảng thành tựu đổi mới, bản lĩnh dân tộc, sức mạnh nhân dân và yêu cầu phát triển của thời đại.

Con đường đi tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao chắc chắn không bằng phẳng. Việt Nam phải vượt qua những thách thức gay gắt về mô hình tăng trưởng, năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị quốc gia và hiệu quả tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, lịch sử dân tộc và thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh: khi có đường lối đúng, niềm tin vững chắc, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hành động đồng bộ, những mục tiêu lớn hoàn toàn có thể từng bước trở thành hiện thực.

Do đó, điều cần phê phán không phải là thái độ nhìn thẳng vào khó khăn, mà là cách nhìn tuyệt đối hóa khó khăn để phủ định khát vọng; điều cần bác bỏ không phải là phản biện xây dựng, mà là sự bi quan hóa thực tiễn nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội. Nhận diện khó khăn là để đổi mới, cảnh báo nguy cơ là để cải cách, chỉ ra hạn chế là để hành động hiệu quả hơn. Khi bản lĩnh chính trị gặp khát vọng dân tộc, khi ý chí đổi mới được chuyển hóa thành hành động đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để bước tới năm 2045 với tư thế của một quốc gia phát triển, tự cường và thịnh vượng.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 111 – 112.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 25.
3, 8, 10, 11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 20, 115, 110, 112, 377
4, 7, 9. 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng: kinh tế Việt Nam vượt mốc 510 tỷ USD. https://www.mof.gov.vn/bo-tai-chinh/nghien-cuu-trao-doi-1.1/40-nam-doi-moi-duoi-su-lanh-dao-cua-dang-kinh-te-viet-nam-vuot-moc-510-ty-usd, ngày 23/01/2026;
5. Kinh tế – xã hội năm 2025: nhiều chỉ số cao kỷ lục; hoàn thiện thể chế có cường độ chưa từng thấy. https://baochinhphu.vn/kinh-te-xa-hoi-nam-2025-nhieu-chi-so-o-muc-cao-ky-luc-102260108084605865.htm, ngày 08/01/2026.
6. Việt Nam và khát vọng 2045. https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/viet-nam-va-khat-vong-2045-1025576, ngày 10/4/2026.