Phan Boi Chau’s perspectives on national solidarity and its contemporary values
ThS. Nguyễn Hoài Bảo
Trường Đại học An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc dựa trên lòng yêu nước và tư tưởng tiến bộ “nước của dân”. Ông chủ trương xây dựng mặt trận đoàn kết rộng rãi, tiêu biểu là kế sách “mười hạng người đồng tâm” nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân chống Pháp. Dù còn những hạn chế mang tính cảm tính, tư tưởng của ông vẫn thể hiện tinh thần dân chủ và lòng khoan dung sâu sắc. Trong bối cảnh hiện nay, những quan niệm này là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc.
Từ khóa: Tư tưởng Phan Bội Châu; đoàn kết dân tộc; chính sách; Đảng và Nhà nước.
Abstract: Phan Boi Chau’s concept of national solidarity is rooted in patriotism and the progressive ideology that “the country belongs to the people”. He advocated building a broad solidarity front, exemplified by the “ten classes of like-minded people” strategy to rally all social strata against French colonialism. Despite historical limitations characterized by emotional reasoning, his thought demonstrates a profound spirit of democracy and tolerance. In the contemporary context, these perspectives serve as an important foundation for the Party and State to formulate policies and arouse national self-esteem.
Keywords: Phan Boi Chau’s ideology; national solidarity; policy; the Party and State.
1. Đặt vấn đề
Phan Bội Châu xuất hiện với vai trò là người giương cao ngọn cờ yêu nước, giải phóng dân tộc trong những năm đầu của thế kỷ XX. Bằng những hoạt động yêu nước phong phú và bền bỉ, với tinh thần cầu tiến luôn vươn lên để bắt kịp yêu cầu của cách mạng, sự nghiệp lẫy lừng của ông mãi là ngọn đuốc sáng soi rọi cho cả dân tộc. Mặc dù, con đường cứu nước của Phan Bội Châu và những đồng chí của mình chưa đi đến được cái đích cuối cùng mà ông và cả dân tộc mong đợi, nhưng nghiên cứu con người và sự nghiệp của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chúng ta vẫn tìm thấy những bài học vô giá, đặc biệt là về lòng yêu nước, tư tưởng về tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, về vấn đề độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc và đoàn kết dân tộc.
Đất nước đã và đang không ngừng phát triển trên mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao. Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chính sách mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới… đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, việc nghiên cứu quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc giúp cho Đảng và Nhà nước thêm cơ sở trong việc đề ra chủ trương, chính sách giải quyết vấn đề dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, gìn giữ những giá trị truyền thống dân tộc cao đẹp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.
2. Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc
Từ việc kế thừa, chọn lọc và phát huy tư tưởng đoàn kết trong lịch sử dân tộc, với mục tiêu làm cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, chủ quyền, Phan Bội Châu đã liên tục kêu gọi và tổ chức nhân dân cả nước đứng lên chống kẻ thù. Trong nhiều tác phẩm tuyên truyền cách mạng, như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo, Phan Bội Châu đề cập rất rõ lực lượng nhân dân có thể thu hút vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Đó chính là quan niệm về đoàn kết dân tộc, nổi bật trong hệ thống tư tưởng của ông về vấn đề dân tộc.
Quan niệm của ông về đoàn kết dân tộc được thể hiện trước tiên trong Việt Nam vong quốc sử rằng Người Việt Nam “… có một lòng yêu nước, có cái nhiệt thành của ong mật luyến chúa…”1. Nghĩa là, Phan Bội Châu nhấn mạnh sức mạnh đoàn kết dân tộc chỉ có thể đạt được khi tất cả mọi người có lòng yêu nước, tận hiến thân mình cho sự nghiệp cứu nước. Để thực hiện sự nghiệp cứu nước, Phan Bội Châu có ý thức huy động cả một dân tộc với 50 triệu người, cố kết với nhau vì cảnh khổ nhục chung, vì mối thù chung, vì ý thức cộng đồng dân tộc “kẻ này nắm tay, người kia xòe ngón, người thổi lửa, kẻ chất rơm”.
Nếu như Nam quốc sơn hà của danh tướng Lý Thường Kiệt khẳng định, lãnh thổ Việt Nam thông qua sự cai trị của vua chúa nước Việt “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách trời” thì trong tác phẩm Hải ngoại huyết thư, Phan Bội Châu đã có sự khẳng định mới, tiến bộ hơn khi coi “nước là nước dân”; song song với việc kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, Phan Bội Châu đồng thời cổ vũ, khích lệ tinh thần ấy thông qua việc nêu lên một chân lý bất di bất dịch “Dân Việt Nam của nước Nam, nước Nam là của dân tộc Việt Nam”:
“Nghìn, muôn, ức, triệu chung góp,
Xây dựng cơ nghiệp nước nhà;
Người dân ta, của dân ta,
Dân là dân nước, nước là nước dân”2
Trên cơ sở lòng tin của toàn thể đồng bào vào sự nghiệp cứu nước, Phan Bội Châu đi vào phân tích, đánh giá thái độ và khả năng tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc của các tầng lớp nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của thực dân Pháp.
Trong Việt Nam vong quốc sử, sau khi trình bày về nguyên nhân mất nước, về những gương hy sinh chiến đấu, rồi đến cuộc sống đen tối của đồng bào sau khi mất nước, Phan Bội Châu bàn về lòng căm thù giặc và tinh thần tử chiến với quân thù của dân tộc Việt Nam. Ông lần lượt xét qua 5 hạng người trong nước: là bọn con nhà gia thế, dòng dõi thi thư; là những người bản thân và gia đình có thâm thù với quân Pháp; dân Da Tô (người theo đạo Thiên Chúa); là lớp người lăn lộn mưu sinh, không chịu được sự hà ngược của thực dân Pháp; lớp người thực là chân chính giống người, thực là giống người chân chính da vàng, chỉ biết giống vàng không chịu để cho giống trắng mổ xẻ như cá thịt3. Ngoài ra, ông còn kêu gọi những người đã theo Pháp như lính tập, thông ngôn, ký lục, bồi bếp của Pháp… Tất thảy các hạng người này đều là người Việt Nam, cùng chung nguồn gốc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cùng sống chung một bầu trời, một mảnh đất như nhau. Tất cả dân tộc Việt Nam sẽ cùng chung một trận tuyến chống lại thực dân Pháp, đều có chung một nhiệm vụ làm cho nước nhà sống lại.
Năm 1906, trong thời gian Phan Bội Châu trực tiếp lãnh đạo phong trào Đông Du ở Nhật Bản, ông viết “Hải ngoại huyết thư” nhằm kêu gọi vận động, khơi dậy tình yêu nước và quyết tâm cứu nước. Khi chỉ ra tầm quan trọng của việc “đồng tâm”, tức là đoàn kết dân tộc, Phan Bội Châu nhấn mạnh rằng, đoàn kết chính là động lực quan trọng nhất trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc: Tôi xin trình bày kế sách thu phục đất nước. Kế sách độc nhất vô nhị, cùng trời kiệt đất là: Sự đồng lòng của dân cả nước. Việc đánh rơi gia tài tổ nghiệp của dân tộc ta hay việc lấy lại gia tài tổ nghiệp ấy đều liên quan đến chính dân ta4. Tức là vận mệnh của đất nước, then chốt của sự thành bại của cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp là ở chính sự nỗ lực của nhân dân ta, trước hết là phải đoàn kết: Ôi! Cái gia tài của không biết hằng hà sa số ấy là cái của nghìn vạn người chung hưởng, mà cũng là cái của nghìn vạn người cùng nhau bỏ mất. Đến nay muốn thu hồi lại, nếu không phải do vạn nghìn người chung sức thì quyết không thể được. Nghìn vạn người làm sao để có thể chung sức? Trước hết, mọi người cần phải đồng lòng.5
Trong tác phẩm mang tính chất của một bản cương lĩnh hành động, Phan Bội Châu đã đưa ra chủ trương đoàn kết rộng rãi nhiều tầng lớp nhân dân trong mặt trận chống Pháp, gọi là “sự đồng tâm của mười hạng người” bao gồm: phú hào; quý tộc; sĩ phu hiện thời; lính tập cả nước; tín đồ đạo Thiên chúa; du đồ hội đảng; nhi nữ anh si; thông ngôn, kí lục, bồi bếp; con em có mối thù nhà; người trong ngoài nước ta6.
Trong mười hạng người đồng tâm khá rộng rãi này, đáng chú ý là những nhóm người như tín đồ Thiên Chúa, binh sĩ, thư ký, phiên dịch, lao công, vốn cũng được xem là đối tượng kêu gọi “đồng tâm”. Mục đích của ông là thức tỉnh tinh thần yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc, kêu gọi tất cả những người mà trong họ vẫn còn đặc tính tối thiểu là người Việt Nam, phân biệt họ với bọn xâm lược. Điều này thể hiện sự khoan dung, bao dung của ông là bao la, rộng lớn với niềm tin rằng ngay cả những người hợp tác với Pháp thì về bản chất cũng là nạn nhân trong ách thống trị của Pháp, do đó vẫn có ý chí chống Pháp và ở điểm này, vẫn là dân tộc Việt Nam.
Thực ra, sự phân tích các lực lượng nhân dân như trên không phải là một sự phân tích thấu đáo về mặt lý luận mà chỉ mới thể hiện ở mặt tình cảm. Ngày nay, với học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự bất cập trong lập luận của Phan Bội Châu, cũng như cơ sở duy tâm chủ quan, ý chí luận hoặc tình cảm chủ nghĩa. Ông đã dựa trên quan điểm đạo đức thuần túy để suy luận về thái độ của từng hạng người. Tuy nhiên, những hạn chế và nhược điểm ấy không hề làm lu mờ công lao và những đóng góp của ông. Phan Bội Châu đã xác định động lực tinh thần cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tin rằng hễ là người Việt Nam thì ai cũng ghét Pháp, ai cũng có khả năng đứng lên cứu nước và thực hiện nghĩa vụ bảo vệ dân tộc. Động lực tinh thần ấy, trong hoàn cảnh đầu thế kỷ XX có sức thôi thúc mạnh mẽ để đứng lên, phát huy tác dụng giác ngộ cách mạng. Hơn nữa, trong quá trình giác ngộ cách mạng, giác ngộ dân tộc là một đoạn đường trung gian hầu như tất yếu, từ đó tiến lên giác ngộ giai cấp, thống nhất lợi ích giai cấp với lợi ích của dân tộc.
Với lòng tin cao độ vào khối đoàn kết toàn dân, Phan Bội Châu đã kêu gọi triệu người Việt Nam cùng bắt tay vào sự nghiệp chung; cả dân tộc đồng lòng đánh Pháp thì sự nghiệp giải phóng dân tộc nhất định sẽ thành công.
“Nếu cả nước đồng lòng như thế,
Việc gì coi cũng dễ như không.
Không việc gì việc không xong,
Nếu không xong, quyết là không có trời.”7
Tóm lại, tư tưởng đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu đã khắc phục được những thành kiến của các nhà Nho đương thời, của xã hội và của thời đại, đặc biệt đối với phụ nữ, đồng bào Công giáo và lính tập, những hạng người “đặc biệt” trong xã hội. Phan Bội Châu đã làm cho tư tưởng đoàn kết mang tính dân tộc rộng rãi và dân chủ, có sức tập hợp rất lớn.
3. Giá trị vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Một là, phát huy lòng yêu nước và tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc.
Kế thừa tinh thần “nước là của dân”, “nước Nam là của dân tộc Việt Nam”, giá trị vận dụng hiện nay là tiếp tục khơi dậy, giáo dục và phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự ý thức và lòng tự hào dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân. Biến nguồn sức mạnh tinh thần đó thành động lực vật chất to lớn để Nhân dân đồng lòng cống hiến, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Hai là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc rộng rãi, không phân biệt đối xử.
Vận dụng bài học vượt qua những thành kiến xã hội đương thời của Phan Bội Châu (đối với phụ nữ, đồng bào Công giáo, các lực lượng đặc biệt…), ngày nay chúng ta cần tiếp tục xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân rộng rãi và dân chủ. Đoàn kết tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt thành phần, giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giới tính, ở trong nước hay ở nước ngoài nhằm tạo nên sự đồng tâm, chung sức vì mục tiêu phát triển chung của quốc gia.
Ba là, phát huy tinh thần khoan dung, bao dung để quy tụ nhân tài và sức dân.
Từ cái nhìn bao dung, nhân ái của Phan Bội Châu đối với những người từng có thời gian lầm đường lạc lối hay làm việc cho đối phương (nhưng bản chất vẫn là người Việt Nam và là nạn nhân của hoàn cảnh), giá trị vận dụng hiện nay là cần thực hiện chính sách đại đoàn kết mang tính khoan dung, hòa hợp dân tộc. Sẵn sàng trân trọng, khích lệ và tập hợp mọi nguồn lực, mọi cá nhân có tinh thần xây dựng quê hương, xóa bỏ mặc cảm, định kiến để cùng hướng về tương lai.
Bốn là, hoàn thiện và nâng cao lý luận về đoàn kết dân tộc trên cơ sở khoa học.
Nhận diện được những hạn chế mang tính lịch sử trong lập luận của tiền nhân (dựa nhiều trên cảm tính, đạo đức đơn thuần), giá trị vận dụng hiện nay là tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần cung cấp một cơ sở lý luận khoa học vững chắc cho khối đại đoàn kết, thống nhất hài hòa giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, từ đó giải quyết hiệu quả các thách thức mới phát sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Phan Bội Châu (2000). Tập 2. H. NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, tr. 70, 152, 67 – 74, 134, 134, 135 – 136, 164.



