Phát triển kinh tế số gắn với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam: thực trạng và hàm ý chính sách

Developing the digital economy in association with inclusive growth in Viet Nam: current situation and policy implications

ThS. Kiều Linh
Trường Đại học Lao động – Xã hội
Đỗ Minh Diệu
Đại học RMIT Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế số đang trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô kinh tế số mà còn phải bảo đảm để thành quả của quá trình số hóa được lan tỏa đến mọi người dân, doanh nghiệp. Trên cơ sở mối quan hệ giữa kinh tế số và tăng trưởng bao trùm, bài viết đánh giá thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển kinh tế số theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm.

Từ khóa: Kinh tế số; tài chính số; tăng trưởng bao trùm; Việt Nam.

Abstract: Digital economy development is becoming one of the important drivers of Viet Nam’s economic growth in the new era. However, the key requirement is not only to expand the scale of the digital economy, but also to ensure that the benefits of digitalization are widely shared among all citizens and businesses. Based on an analysis of the relationship between the digital economy and inclusive growth, as well as an assessment of the current state of digital economy development in Viet Nam in recent years, this paper proposes several policy implications for developing the digital economy in an inclusive, sustainable and human-centered manner.

Keywords: Digital economy; digital transformation; digital finance; inclusive growth; Viet Nam.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh kỷ nguyên số đang mở ra những bước tiến vượt bậc cho nhân loại, kinh tế số không còn là một lĩnh vực riêng lẻ mà đã trở thành phương thức phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế. Công nghệ số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, nền tảng số, thương mại điện tử và tài chính số đang làm thay đổi sâu sắc mô hình sản xuất, phân phối, tiêu dùng, quản trị xã hội cũng như cách thức cung ứng dịch vụ công.

Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế số được xác định là một động lực bứt phá, một định hướng chiến lược nhằm nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo thêm không gian tăng trưởng mới. Báo cáo của Cục Thống kê cho thấy, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP Việt Nam tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025; quy mô kinh tế số Internet đạt khoảng 39 tỷ USD năm 2025; thương mại điện tử tiếp tục là trụ cột lớn nhất, đạt khoảng 25 tỷ USD1. Tuy nhiên, phát triển kinh tế số chỉ thực sự có ý nghĩa bền vững khi gắn với tăng trưởng bao trùm. Nếu không có chính sách phù hợp, số hóa có thể làm gia tăng bất bình đẳng mới giữa nhóm có kỹ năng số và nhóm thiếu kỹ năng số; giữa đô thị và nông thôn; giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ; giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức; giữa người có khả năng tiếp cận dịch vụ số và người bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước hiện nay là làm thế nào để kinh tế số không chỉ tạo ra tăng trưởng nhanh hơn mà còn tạo ra cơ hội rộng hơn, công bằng hơn và bền vững hơn.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khái niệm kinh tế số

Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, kinh tế số là hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng công nghệ thông tin – viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế. Chiến lược cũng phân loại kinh tế số thành ba bộ phận: kinh tế số ICT, kinh tế số nền tảng và kinh tế số ngành. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng vì không chỉ đo lường khu vực công nghệ thông tin – truyền thông mà còn nhấn mạnh mức độ số hóa của các ngành, lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế.

Kinh tế số có một số đặc trưng cơ bản. Một là, dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới, có thể được khai thác, chia sẻ, tái sử dụng để tạo ra giá trị gia tăng. Hai là, nền tảng số tạo ra cơ chế kết nối cung – cầu với chi phí giao dịch thấp hơn, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ. Ba là, công nghệ số làm thay đổi mô hình quản trị, từ quản lý dựa trên hồ sơ giấy sang quản lý dựa trên dữ liệu. Bốn là, không gian kinh tế số có tính mở, xuyên biên giới, đòi hỏi thể chế quản lý linh hoạt, có khả năng thích ứng với đổi mới sáng tạo.

2.2. Khái niệm tăng trưởng bao trùm

Theo OECD (2018)2, tăng trưởng bao trùm không chỉ là tăng GDP mà là quá trình bảo đảm để thành quả tăng trưởng được chuyển hóa thành mức sống cao hơn và cơ hội phát triển rộng hơn cho mọi người. Cách tiếp cận này nhấn mạnh việc tạo cơ hội bình đẳng cho các nhóm xã hội thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào con người. Nói cách khác, tăng trưởng chỉ thực sự bao trùm khi người dân không chỉ được thụ hưởng kết quả phát triển mà còn có điều kiện tham gia vào quá trình tạo ra tăng trưởng.

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, tăng trưởng bao trùm có thể được nhìn nhận ở các phương diện: tăng trưởng đi đôi với giảm nghèo bền vững; mở rộng cơ hội việc làm có năng suất; bảo đảm tiếp cận bình đẳng với giáo dục, y tế, tài chính, hạ tầng và dịch vụ công; thu hẹp chênh lệch vùng, miền và bảo đảm các hóm yếu thế không bị loại trừ khỏi tiến trình phát triển. Khi đặt trong bối cảnh chuyển đổi số, tăng trưởng bao trùm còn bao hàm khả năng mọi người dân được kết nối, có kỹ năng số cơ bản, có tài khoản giao dịch số, có khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến và tham gia vào các hoạt động kinh tế trên môi trường số.

2.3. Cơ chế tác động của kinh tế số đến tăng trưởng bao trùm

Kinh tế số có thể thúc đẩy tăng trưởng bao trùm thông qua bốn kênh chủ yếu.

(1) Kinh tế số nâng cao năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Công nghệ số giúp doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, tối ưu hóa quy trình sản xuất, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp cận dữ liệu thị trường và đổi mới mô hình kinh doanh. World Bank (2016)3 cho rằng, các công nghệ số có thể tạo ra “cổ tức số” thông qua ba cơ chế: đổi mới, bao trùm và hiệu quả; tuy nhiên, các lợi ích này chỉ được phát huy đầy đủ khi đi cùng cải cách thể chế và môi trường cạnh tranh.

(2) Kinh tế số mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho cá nhân, hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp. Thông qua thương mại điện tử, mạng xã hội, các nền tảng thanh toán, logistics số và dữ liệu khách hàng, các chủ thể sản xuất có thể tiếp cận người tiêu dùng vượt ra ngoài phạm vi địa lý truyền thống. Đây là kênh đặc biệt quan trọng đối với nông sản, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và các ngành dịch vụ sáng tạo.

(3) Tài chính số thúc đẩy tài chính toàn diện. Thanh toán số, ví điện tử, ngân hàng số, định danh điện tử và dữ liệu tín dụng thay thế có thể giúp người dân, hộ kinh doanh nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận dịch vụ tài chính với chi phí thấp hơn. World Bank (2025)4 nhấn mạnh dịch vụ tài chính số có khả năng giảm chi phí, tăng tốc độ, tính minh bạch và độ an toàn của giao dịch, qua đó, mở rộng tiếp cận tài chính cho các nhóm chưa được phục vụ đầy đủ.

(4) Chính phủ số và dữ liệu số nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công. Khi thủ tục hành chính, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, thuế, bảo hiểm… được số hóa, người dân và doanh nghiệp có thể giảm chi phí thời gian, chi phí đi lại, chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là thiết kế dịch vụ công số phải thân thiện, dễ sử dụng, có hỗ trợ trực tiếp cho người yếu thế, người cao tuổi, người nghèo và cư dân ở vùng khó khăn.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, World Bank, OECD và một số báo cáo chuyên ngành liên quan. Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận; phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu giữa mục tiêu chính sách và kết quả thực hiện; phương pháp phân tích chính sách được sử dụng để nhận diện vấn đề quản lý nhà nước và đề xuất hàm ý chính sách.

3. Thực trạng phát triển kinh tế số gắn với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam

3.1. Khung thể chế phát triển kinh tế số ngày càng hoàn thiện

Những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược, chương trình và kế hoạch nhằm thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và xã hội số. Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 là văn bản có ý nghĩa nền tảng, xác định rõ quan điểm phát triển kinh tế số gắn với thể chế, hạ tầng, nhân lực, người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, Chiến lược nhấn mạnh định hướng phát triển “mỗi người dân thành một doanh nhân số”, “mỗi doanh nghiệp, hộ sản xuất – kinh doanh thành một doanh nghiệp số”, qua đó, thể hiện rõ tư duy bao trùm trong phát triển kinh tế số. Về mục tiêu, Chiến lược đặt ra các chỉ tiêu khá toàn diện: đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP, tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 10%, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 50%, tỷ lệ nhân lực lao động kinh tế số trong lực lượng lao động đạt trên 2%. Đến năm 2030, các chỉ tiêu tương ứng được nâng lên: kinh tế số đạt 30% GDP, thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 20%, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nền tảng số đạt trên 70%, nhân lực lao động kinh tế số đạt trên 3% lực lượng lao động.

Đối với xã hội số, Chiến lược đặt ra mục tiêu đến năm 2025 có 80% dân số trưởng thành sử dụng điện thoại thông minh; 80% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch thanh toán tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; trên 70% người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản; 80% hộ gia đình được phủ Internet băng rộng cáp quang. Đến năm 2030, mục tiêu là 95% dân số trưởng thành có điện thoại thông minh, trên 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch thanh toán và 100% hộ gia đình được phủ mạng Internet băng rộng cáp quang5. Đây là các chỉ tiêu trực tiếp gắn phát triển kinh tế số với bao trùm xã hội.

Tuy nhiên, từ góc độ quản lý nhà nước, thách thức lớn không chỉ là ban hành chính sách mà là năng lực tổ chức thực thi, đo lường, giám sát và điều chỉnh chính sách. Chiến lược đã yêu cầu hằng năm điều tra, khảo sát, thu thập, công bố kết quả thống kê, đo lường các chỉ tiêu kinh tế số và xã hội số ở cấp quốc gia, ngành và địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để tránh tình trạng đánh giá kinh tế số theo cảm tính, đồng thời giúp nhận diện nhóm nào, địa phương nào, ngành nào đang hưởng lợi hoặc bị bỏ lại phía sau.

3.2. Quy mô kinh tế số tăng nhanh nhưng còn khoảng cách so với mục tiêu

Kinh tế Việt Nam duy trì đà phục hồi và tăng trưởng tích cực trong năm 2025. Theo Cục Thống kê, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt khoảng 8,02%, tạo nền tảng thuận lợi để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, trong đó có kinh tế số6.

Về đóng góp trực tiếp, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2021 – 2025, từ 12,87% GDP năm 2021 lên 14,02% GDP năm 2025; bình quân giai đoạn 2021 – 2025 đạt khoảng 13,2% GDP. Đồng thời, trong cơ cấu này, kinh tế số lõi đóng góp khoảng 8,13% GDP, còn số hóa các ngành khác đóng góp khoảng 5,05% GDP7.

Kết quả trên cho thấy, kinh tế số đã trở thành bộ phận có ý nghĩa ngày càng lớn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, so với mục tiêu kinh tế số đạt 20% GDP vào năm 2025 theo Quyết định số 411/QĐ-TTg, mức 14,02% cho thấy, vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu và thực tiễn. Khoảng cách này không nên chỉ được hiểu là vấn đề quy mô, mà còn phản ánh mức độ số hóa chưa đồng đều giữa các ngành, khu vực doanh nghiệp và địa phương.

Theo báo cáo của Google, kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 39 tỷ USD tổng giá trị hàng hóa năm 2025, tăng 17% so với năm trước và là một trong những nền kinh tế số tăng trưởng nhanh ở Đông Nam Á. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục là trụ cột lớn nhất, chiếm khoảng hai phần ba tổng quy mô kinh tế số, đạt khoảng 25 tỷ USD. Các lĩnh vực khác cũng tăng trưởng tích cực. Vận tải và giao đồ ăn được dự báo đạt khoảng 5 tỷ USD; nội dung nghe nhìn trực tuyến đạt khoảng 6 tỷ USD; du lịch trực tuyến đạt khoảng 4 tỷ USD. Đáng chú ý, tài chính số trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng, với tổng giá trị giao dịch thanh toán số được dự báo đạt 178 tỷ USD8.

3.3. Hạ tầng kết nối và mức độ sử dụng Internet tạo nền tảng cho bao trùm số

Việt Nam có nền tảng thuận lợi về kết nối số. Theo DataReportal, đầu năm 2025, Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người sử dụng Internet, tỷ lệ thâm nhập Internet đạt 78,8% dân số; đến cuối năm 2025, số người sử dụng Internet được ghi nhận khoảng 85,6 triệu người, tương đương 84,2% dân số. Sự gia tăng nhanh về kết nối Internet là điều kiện nền tảng để người dân tiếp cận thương mại điện tử, tài chính số, giáo dục số, y tế số và dịch vụ công trực tuyến9.

Tuy nhiên, bao trùm số không chỉ được đo bằng tỷ lệ người dùng Internet. Vấn đề quan trọng hơn là chất lượng kết nối, kỹ năng số và mức độ sử dụng dịch vụ số có ích cho đời sống kinh tế – xã hội. Một người có kết nối Internet nhưng thiếu kỹ năng giao dịch trực tuyến, không có tài khoản thanh toán, không biết bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc không đủ năng lực nhận diện lừa đảo trực tuyến thì vẫn có thể bị loại trừ khỏi lợi ích thực chất của kinh tế số.

Vì vậy, từ góc độ tăng trưởng bao trùm, chính sách hạ tầng số cần chuyển từ tư duy “phủ sóng” sang tư duy “sử dụng có năng lực và an toàn”. Điều này đặc biệt quan trọng đối với người dân vùng sâu, vùng xa, người cao tuổi, lao động kỹ năng thấp, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và doanh nghiệp siêu nhỏ. Nếu không có chương trình hỗ trợ kỹ năng số cơ bản thì khoảng cách số có thể trở thành một dạng bất bình đẳng mới.

3.4. Tài chính số và thanh toán không tiền mặt thúc đẩy tài chính toàn diện

Một trong những điểm sáng của kinh tế số Việt Nam là sự phát triển nhanh của thanh toán không tiền mặt. Thông tin tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP; riêng năm 2025 so với năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,21% về số lượng và 22,65% về giá trị. Giao dịch qua Internet tăng 53,95% về số lượng và 35,75% về giá trị; giao dịch qua điện thoại di động tăng 36,62% về số lượng và 20,07% về giá trị; đặc biệt, giao dịch qua QR Code tăng 50,94% về số lượng và 124,06% về giá trị. Giai đoạn 2021 – 2025, số lượng và giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng bình quân lần lượt 58,86% và 24,36% mỗi năm. Giao dịch qua Internet tăng bình quân 60,6% về số lượng và 31,92% về giá trị; giao dịch qua điện thoại di động tăng 73,32% về số lượng và 52,55% về giá trị; giao dịch qua QR Code tăng 106,24% về số lượng và 128,15% về giá trị. Những con số này phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi thanh toán của người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, đến cuối năm 2024, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng đạt 86,97%; đến tháng 12/2025, số lượng tài khoản thanh toán cá nhân vượt 232 triệu tài khoản10. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy tài chính toàn diện, nhất là khi thanh toán số được kết nối với thương mại điện tử, dịch vụ công, chi trả an sinh, bảo hiểm xã hội, học phí, viện phí và các dịch vụ thiết yếu.

Từ góc độ tăng trưởng bao trùm, tài chính số tạo cơ hội cho hộ kinh doanh, tiểu thương, nông dân, lao động tự do và doanh nghiệp nhỏ tiếp cận thanh toán, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của tài chính số cũng đặt ra yêu cầu tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, an toàn dữ liệu, phòng, chống lừa đảo trực tuyến, bảo đảm minh bạch phí dịch vụ và kiểm soát rủi ro tín dụng số.

3.5. Thương mại điện tử mở rộng cơ hội thị trường nhưng chưa đồng đều

Thương mại điện tử là lĩnh vực có tác động bao trùm rõ nét vì cho phép các chủ thể quy mô nhỏ tiếp cận thị trường lớn hơn. Báo cáo e-Conomy SEA 2025 cho thấy, thương mại điện tử chiếm khoảng hai phần ba tổng quy mô kinh tế số Việt Nam và được dự báo đạt 25 tỷ USD vào năm 2025. Video commerce cũng tăng nhanh, với số lượng giao dịch và số lượng nhà bán hàng cùng tăng 60% so với cùng kỳ, tạo ra khoảng 1,3 tỷ giao dịch và 650 nghìn người bán hàng11.

Sự phát triển này tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, khởi nghiệp, sáng tạo. Nhờ nền tảng số, nhiều sản phẩm địa phương có thể tiếp cận khách hàng ngoài phạm vi tỉnh, vùng và thậm chí ngoài biên giới quốc gia. Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế địa phương, chương trình OCOP, kinh tế nông thôn và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, mức độ tham gia thương mại điện tử còn phụ thuộc vào năng lực số, năng lực logistics, khả năng xây dựng thương hiệu, hiểu biết pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chất lượng sản phẩm và khả năng xử lý dữ liệu khách hàng. Nếu doanh nghiệp nhỏ chỉ tham gia nền tảng với vị thế yếu, thiếu khả năng đàm phán, phụ thuộc vào thuật toán, chi phí quảng cáo và chính sách của nền tảng, lợi ích bao trùm có thể bị hạn chế. Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh chuyển từ “bán hàng trên nền tảng” sang “quản trị kinh doanh số” một cách bền vững.

3.6. Kinh tế số đóng góp vào giảm nghèo nhưng nguy cơ bất bình đẳng số vẫn hiện hữu

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật về giảm nghèo và kiểm soát bất bình đẳng. OECD ghi nhận Việt Nam gần như xóa bỏ nghèo cùng cực trong nhiều thập kỷ qua; tỷ lệ nghèo cùng cực theo chuẩn quốc tế của World Bank giảm từ 45% năm 1992 xuống dưới 1% năm 2022. OECD cũng cho biết nghèo đa chiều theo số liệu chính thức chỉ còn 4,1% dân số năm 2024, dù vẫn còn rất cao ở các huyện nghèo, huyện đặc biệt khó khăn ven biển và hải đảo12.

Theo Cục Thống kê, hệ số Gini theo thu nhập của Việt Nam năm 2024 là 0,372, không thay đổi nhiều so với năm 2023 và vẫn ở mức bất bình đẳng trung bình. Báo cáo kinh tế – xã hội năm 2025 cũng cho biết tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 202413.

Những kết quả trên cho thấy, Việt Nam có nền tảng xã hội tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế số theo hướng bao trùm. Tuy nhiên, kinh tế số cũng có thể tạo ra “đường phân tầng” mới. Nhóm có trình độ, kỹ năng số, khả năng sử dụng công nghệ, vốn xã hội và vốn tài chính tốt sẽ tận dụng được cơ hội nhanh hơn; trong khi nhóm nghèo, người lao động kỹ năng thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ, người cao tuổi hoặc người dân vùng khó khăn có nguy cơ chậm thích ứng. OECD cũng cảnh báo rằng dù Việt Nam kiểm soát tương đối tốt bất bình đẳng thu nhập, một số nhóm vẫn tụt lại phía sau và hệ thống an sinh xã hội cần tiếp tục được cải thiện.

3.7. Dịch vụ công trực tuyến chuyển biến tích cực nhưng còn khoảng cách thực thi

Chính phủ số là một cấu phần quan trọng của tăng trưởng bao trùm vì có khả năng giảm chi phí tiếp cận dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. World Bank ghi nhận Việt Nam đã đưa vào vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia từ tháng 12/2019, cùng với các nền tảng trao đổi văn bản điện tử và e-Cabinet, tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong khu vực công. Tuy nhiên, World Bank cũng lưu ý rằng, quy trình giấy tờ và cách vận hành truyền thống vẫn là rào cản đối với việc hiện thực hóa đầy đủ lợi ích của chính phủ số14.

Năm 2025, tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình vẫn còn khoảng cách so với mục tiêu. Theo đó, mục tiêu tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình của cả nước đến hết năm 2025 là 80%, tuy nhiên, đến tháng 10/2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính chỉ đạt 39,98%15.  Điều này cho thấy, thách thức của chính phủ số không chỉ nằm ở việc đưa thủ tục lên môi trường trực tuyến, mà ở tái cấu trúc quy trình, liên thông dữ liệu, đơn giản hóa hồ sơ, nâng cao trải nghiệm người dùng và hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ số. Nếu dịch vụ công trực tuyến phức tạp, thiếu hướng dẫn, yêu cầu nhiều bước xác thực hoặc vẫn phải nộp hồ sơ giấy song song, người dân và doanh nghiệp sẽ không có động lực sử dụng. Đối với nhóm yếu thế, dịch vụ công số cần có cơ chế hỗ trợ trực tiếp, không thể chỉ áp dụng nguyên tắc “số hóa hoàn toàn” một cách cơ học.

Bảng 1. Một số chỉ tiêu phản ánh phát triển kinh tế số gắn với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025

NămTỷ trọng kinh tế số/GDP (%)GDP theo giá hiện hành (nghìn tỷ đồng)Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (%)Hệ số Gini theo thu nhậpNgười dùng InternetDoanh thu bán lẻ TMĐT B2C (tỷ USD)Thanh toán không dùng tiền mặt
202112,878.487,54,40,37468,72 triệu người, chiếm 70,3% dân số13,7Chưa có số liệu tổng hợp toàn năm cùng phương pháp
202212,839.621,44,030,37572,10 triệu người, chiếm 73,2% dân số16,411 tháng đầu năm: hơn 6,6 tỷ giao dịch, giá trị hơn 192,38 triệu tỷ đồng
202312,8710.221,82,930,37477,93 triệu người; 79,1% dân số20,5Khoảng 11 tỷ giao dịch, giá trị hơn 200 triệu tỷ đồng
202413,1711.511,91,930,37278,44 triệu người, chiếm 79,1% dân số25,017,7 tỷ giao dịch, giá trị khoảng 295 triệu tỷ đồng
202514,0212.847,61,3Chưa công bố79,8 triệu người, chiếm 78,8% dân sốkhoảng 31,0Tăng 42,21% về số lượng và 22,65% về giá trị so với năm 2024, giá trị ước gấp khoảng 28 lần GDP
Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4. Một số vấn đề đặt ra

Từ thực trạng trên, có thể khái quát một số vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế số gắn với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả thực hiện. Mục tiêu kinh tế số đạt 20% GDP vào năm 2025 là tham vọng phù hợp với yêu cầu phát triển mới, nhưng tỷ trọng thực tế ước đạt 14,02% GDP cho thấy, cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa các ngành truyền thống, nhất là nông nghiệp, công nghiệp chế biến, logistics, y tế, giáo dục, du lịch và dịch vụ công.

Thứ hai, phát triển kinh tế số chưa đồng đều giữa các nhóm chủ thể. Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngân hàng, thương mại điện tử và một số ngành dịch vụ có tốc độ chuyển đổi nhanh hơn; trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất nông nghiệp và lao động phi chính thức còn gặp khó khăn về vốn, nhân lực, kỹ năng và niềm tin số.

Thứ ba, khoảng cách kỹ năng số có thể trở thành điểm nghẽn lớn. Chuyển đổi số không chỉ cần chuyên gia công nghệ thông tin mà cần năng lực số phổ thông cho toàn xã hội: biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bán hàng số và làm việc trong môi trường số. Nếu thiếu kỹ năng, người dân có thể có điện thoại thông minh nhưng vẫn không thể tham gia đầy đủ vào kinh tế số.

Thứ tư, rủi ro an toàn dữ liệu, lừa đảo trực tuyến và bảo vệ người tiêu dùng tăng nhanh. Khi giao dịch số mở rộng, các rủi ro về giả mạo, đánh cắp thông tin, lừa đảo tài chính, tín dụng số thiếu minh bạch, xâm phạm quyền riêng tư và thao túng hành vi tiêu dùng cũng tăng theo. Điều này đòi hỏi năng lực quản lý nhà nước phải chuyển từ “quản lý sau phát sinh” sang “quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu”.

Thứ năm, sự phát triển của lao động nền tảng và việc làm số đang đặt ra những yêu cầu mới đối với chính sách an sinh xã hội. Các nền tảng số đã tạo thêm nhiều cơ hội việc làm linh hoạt, giúp người lao động có thêm thu nhập và dễ dàng tham gia thị trường lao động. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, hình thức việc làm này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, như: thu nhập không ổn định, thiếu bảo hiểm xã hội, khó được bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp và phụ thuộc nhiều vào cách vận hành của các nền tảng số. Vì vậy, Việt Nam cần quan tâm hơn đến việc hoàn thiện chính sách lao động, việc làm và an sinh xã hội nhằm bảo đảm người lao động trong môi trường số được bảo vệ tốt hơn và không bị bỏ lại phía sau.

5. Hàm ý chính sách

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế số theo hướng bao trùm. Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế số theo hướng vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm công bằng, an toàn và bao trùm. Nhà nước cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho kinh tế nền tảng, dữ liệu số, tài sản số, định danh số, hợp đồng điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng số, cạnh tranh trên nền tảng số và thử nghiệm chính sách có kiểm soát.

Cùng với đó, cần tích hợp tiêu chí bao trùm vào các chương trình phát triển kinh tế số. Mỗi chính sách kinh tế số nên trả lời rõ: nhóm nào được hưởng lợi, nhóm nào có nguy cơ bị loại trừ, chi phí tiếp cận của người nghèo và doanh nghiệp nhỏ là bao nhiêu, chính sách có làm gia tăng hay thu hẹp chênh lệch vùng, miền hay không. Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển từ “phát triển số” sang “phát triển số có trách nhiệm”.

Hai là, xây dựng hệ thống đo lường kinh tế số gắn với chỉ số bao trùm. Việt Nam cần phát triển bộ chỉ số đo lường kinh tế số gắn với tăng trưởng bao trùm. Bên cạnh chỉ tiêu tỷ trọng kinh tế số/GDP, cần đo lường thêm: tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ số thiết yếu; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số thực chất; tỷ lệ hộ kinh doanh tham gia thương mại điện tử; tỷ lệ thanh toán số ở khu vực nông thôn; mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo nhóm tuổi, giới tính, thu nhập, vùng miền; mức độ an toàn số và niềm tin số của người dân.

Dữ liệu cần được phân tách theo địa phương, giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, khu vực thành thị – nông thôn, nhóm dân tộc và quy mô doanh nghiệp. Nếu thiếu dữ liệu phân tách, chính sách bao trùm sẽ khó xác định đúng nhóm cần hỗ trợ. Việc công bố định kỳ bộ chỉ số này cũng giúp tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước và tạo cơ sở cho nghiên cứu khoa học.

Ba là, phổ cập hạ tầng số đi đôi với phổ cập kỹ năng số. Chính sách hạ tầng số cần hướng mạnh vào các khu vực còn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hải đảo và khu vực nông thôn. Tuy nhiên, hạ tầng kết nối phải đi cùng thiết bị truy cập, chi phí dữ liệu hợp lý, điểm hỗ trợ cộng đồng và chương trình đào tạo kỹ năng số cơ bản.

Cần triển khai chương trình phổ cập kỹ năng số theo từng nhóm đối tượng. Với người dân, tập trung vào kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện lừa đảo và tìm kiếm thông tin đáng tin cậy. Với lao động, tập trung vào kỹ năng làm việc trong môi trường số, sử dụng công cụ số, học tập suốt đời và thích ứng với tự động hóa. Với doanh nghiệp nhỏ, tập trung vào quản trị bán hàng số, dữ liệu khách hàng, hóa đơn điện tử, thuế điện tử, thanh toán số, an toàn thông tin và xây dựng thương hiệu trên nền tảng số.

Bốn là, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi số thực chất. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã và cơ sở sản xuất nông nghiệp cần được coi là đối tượng trung tâm của chính sách kinh tế số bao trùm. Nhà nước cần phát triển các gói hỗ trợ chuyển đổi số theo ngành, theo địa phương và theo mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp. Hỗ trợ không nên dừng ở việc cung cấp phần mềm, mà cần bao gồm tư vấn quy trình, đào tạo nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối logistics, hỗ trợ pháp lý và hỗ trợ tiếp cận tài chính.

Đối với thương mại điện tử, cần hỗ trợ các chủ thể nhỏ nâng cao năng lực quản trị gian hàng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, đóng gói, vận chuyển, marketing số và bảo vệ thương hiệu. Đặc biệt, cần có chương trình riêng cho sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm địa phương, sản phẩm OCOP và sản phẩm của vùng khó khăn để bảo đảm kinh tế số góp phần thu hẹp chênh lệch phát triển.

Năm là, phát triển tài chính số an toàn, bao trùm và có trách nhiệm. Tài chính số cần tiếp tục được thúc đẩy như một trụ cột của tăng trưởng bao trùm. Cần mở rộng thanh toán số trong dịch vụ công, giáo dục, y tế, giao thông, an sinh xã hội, thương mại điện tử và khu vực nông thôn. Đồng thời, cần hỗ trợ tiểu thương, hộ kinh doanh và người bán hàng nhỏ sử dụng QR Code, tài khoản thanh toán, hóa đơn điện tử và các công cụ quản lý dòng tiền.

Tuy nhiên, mở rộng tài chính số phải đi cùng bảo vệ người tiêu dùng. Cần tăng cường quy định về minh bạch phí, bảo mật dữ liệu, xác thực giao dịch, trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ, cảnh báo lừa đảo, xử lý tranh chấp và giáo dục tài chính số. Đối với tín dụng số, cần kiểm soát rủi ro cho vay quá mức, lãi suất không minh bạch, thu thập dữ liệu trái phép và các hành vi gây tổn hại đến nhóm yếu thế.

Sáu là, chuyển đổi dịch vụ công trực tuyến từ “cung cấp” sang “sử dụng hiệu quả”. Dịch vụ công trực tuyến chỉ có ý nghĩa bao trùm khi người dân và doanh nghiệp thực sự sử dụng được. Vì vậy, cần chuyển trọng tâm từ số lượng dịch vụ được đưa lên mạng sang chất lượng trải nghiệm, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến hoàn thành, mức độ hài lòng, thời gian xử lý, khả năng liên thông dữ liệu và mức giảm chi phí tuân thủ.

Cần tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trước khi số hóa. Những thủ tục còn phức tạp trên giấy nếu đưa nguyên trạng lên môi trường số sẽ tạo thêm gánh nặng cho người dân. Đồng thời, cần duy trì mô hình “hỗ trợ số” tại cấp cơ sở, nhất là ở xã, phường, trung tâm phục vụ hành chính công, bưu điện, thư viện cộng đồng và tổ công nghệ số cộng đồng, để hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người thiếu kỹ năng số.

Bảy là, bảo đảm an sinh cho lao động trong nền kinh tế số. Kinh tế số tạo ra nhiều việc làm mới nhưng cũng làm thay đổi quan hệ lao động. Nhà nước cần nghiên cứu khung chính sách đối với lao động nền tảng, bao gồm tài xế công nghệ, giao hàng, lao động tự do trực tuyến, người sáng tạo nội dung và các hình thức việc làm số khác. Trọng tâm là bảo đảm quyền tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn lao động, minh bạch thuật toán, cơ chế khiếu nại và bảo vệ thu nhập tối thiểu trong những trường hợp cần thiết.

Cùng với đó, cần có chính sách đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa. Chính sách an sinh trong kỷ nguyên số không chỉ là trợ giúp sau khi mất việc, mà phải giúp người lao động chuyển đổi nghề nghiệp, học kỹ năng mới và tham gia vào các chuỗi giá trị số.

Tám là, tăng cường quản trị dữ liệu, an toàn số và niềm tin số. Dữ liệu là nguồn lực quan trọng của kinh tế số, nhưng cũng là lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến quyền riêng tư, an ninh quốc gia, cạnh tranh và niềm tin xã hội. Cần xây dựng khung quản trị dữ liệu rõ ràng, trong đó xác định quyền, trách nhiệm và giới hạn của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong thu thập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

Đối với khu vực công, cần đẩy nhanh liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu địa phương, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, minh bạch, kiểm soát truy cập và trách nhiệm giải trình. Đối với khu vực tư, cần kiểm soát hành vi lạm dụng dữ liệu, cạnh tranh không lành mạnh, thao túng người tiêu dùng và xâm phạm quyền riêng tư. Niềm tin số phải được coi là hạ tầng mềm của kinh tế số.

6. Kết luận

Kinh tế số Việt Nam đang phát triển nhanh, đóng góp ngày càng lớn vào GDP, mở rộng mạnh mẽ trong thương mại điện tử, tài chính số, thanh toán không tiền mặt và các nền tảng trực tuyến. Kinh tế số đã và đang tạo ra cơ hội mới cho người dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và địa phương trong tiếp cận thị trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ công và tri thức. Tuy nhiên, phát triển kinh tế số không tự động dẫn đến tăng trưởng bao trùm. Nếu thiếu chính sách phù hợp, quá trình số hóa có thể làm gia tăng khoảng cách giữa nhóm có năng lực số và nhóm yếu thế; giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ; giữa đô thị và nông thôn; giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế số, xây dựng hệ thống đo lường kinh tế số gắn với bao trùm xã hội, phổ cập hạ tầng và kỹ năng số, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ chuyển đổi số, phát triển tài chính số có trách nhiệm, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, bảo vệ lao động nền tảng và tăng cường quản trị dữ liệu. Chỉ khi đó, kinh tế số mới thực sự trở thành động lực của tăng trưởng nhanh, bền vững và bao trùm, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao, xã hội số an toàn, nhân văn và rộng khắp.

Chú thích:
1, 6. Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
2. OECD (2018). Opportunities for All: A Framework for Policy Action on Inclusive Growth. OECD Publishing, Paris. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2018/05/opportunities-for-all_g1g8f56e/9789264301665-en.pdf
3. World Bank (2016). World Development Report 2016: Digital Dividends. https://digitalregulation.org/wp-content/uploads/World-Development-Report-2016-Digital-Dividends-Overview.pdf
4. World Bank (2025). The Global Findex Database 2025: Connectivity and Financial Inclusion in the Digital Economy. https://www.worldbank.org/ext/en/topic/financial-sector/financial-inclusion
5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP/GRDP giai đoạn 2021 – 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
8, 11. Google, Temasek & Bain & Company (2025). e-Conomy SEA 2025 Report. https://vietnamese.googleblog.com/2025/11/bao-cao-e-conomy-sea-2025-nen-kinh-te.html
9. DataReportal (2025). Digital 2025: Viet Nam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam
10. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần GDP. https://vneconomy.vn/gia-tri-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-nam-2025-gap-khoang-28-lan-gdp.htm
12. OECD (2025), OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/fb37254b-en.
13. Thông cáo báo chí kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2024. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/05/thong-cao-bao-chi-ket-qua-khao-sat-muc-song-dan-cu-nam-2024
14. World Bank (2021). Digital Government Transformation in Vietnam Global Lessons and Policy Implications. https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/9a1cdbb3-e888-523b-b22d-5221c87f7f22/content
15. Tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình của cả nước đạt 39,5%. https://vietnamnet.vn/ty-le-ho-so-dich-vu-cong-truc-tuyen-toan-trinh-cua-ca-nuoc-dat-39-5-2424580.html