Dialectical thinking on educational reform and development in the documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam
Lê Đình Hải
Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
(Quanlynhanuoc.vn) – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng. Bài viết tiếp cận từ phương pháp luận của phép biện chứng duy vật nhằm phân tích những biểu hiện cơ bản của tư duy biện chứng trong quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định tư duy biện chứng không chỉ là nền tảng phương pháp luận trong hoạch định chiến lược giáo dục và đào tạo mà còn là cơ sở bảo đảm tính khoa học, toàn diện và thực tiễn của đường lối phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Tư duy biện chứng; giáo dục và đào tạo; Đại hội XIV của Đảng; đổi mới giáo dục.
Abstract: The documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam demonstrate a new development in the Party’s theoretical thinking on the reform and development of education and training in the context of digital transformation, the knowledge economy, and deep international integration. This article approaches the issue from the methodological perspective of dialectical materialism in order to analyse the fundamental manifestations of dialectical thinking in the Party’s viewpoints on education and training. On that basis, the article affirms that dialectical thinking is not only a methodological foundation for formulating education and training strategies, but also a basis for ensuring the scientific, comprehensive, and practical nature of Vietnam’s educational development strategy in the new era.
Keywords: Dialectical thinking; education and training; the 14th National Congress; educational reform.
1. Đặt vấn đề
Giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu “tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; tăng cường năng lực số; hình thành đội ngũ cán bộ chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học giỏi đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước” 1. Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa tại Hội nghị Trung ương 2 (khóa XIV) và Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, qua đó, đặt giáo dục và đào tạo trong tổng thể chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Điều này cho thấy, giáo dục không nhìn nhận một cách đơn tuyến, tách rời mà cần được đặt trong mối liên hệ với phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và con người. Đổi mới và phát triển giáo dục phải được xem xét trong tính toàn diện, lịch sử, cụ thể và trong sự vận động không ngừng của thực tiễn xã hội. Do vậy, việc phân tích tư duy biện chứng về đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Tư duy biện chứng trong nhận thức về vai trò của giáo dục và đào tạo
Một trong những biểu hiện nổi bật của tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nếu trước đây giáo dục chủ yếu được nhìn nhận như một lĩnh vực thuộc chính sách xã hội thì trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, giáo dục và đào tạo được đặt trong chỉnh thể chiến lược phát triển quốc gia, gắn hữu cơ với phát triển con người, phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận của Đảng trong điều kiện kinh tế tri thức, chuyển đổi số và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ: xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các cơ sở đào tạo, chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục và đào tạo2. Quan điểm này cho thấy, giáo dục không còn được xem như lĩnh vực “hậu cần” của phát triển kinh tế – xã hội mà đã trở thành động lực nội sinh, nền tảng của quá trình hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Từ góc độ biện chứng, giáo dục vừa là kết quả của trình độ phát triển kinh tế – xã hội, vừa là nhân tố tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Điều này phản ánh rõ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, giáo dục không tồn tại biệt lập mà luôn vận động trong hệ thống các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
Tư duy biện chứng trong Văn kiện còn thể hiện ở cách Đảng nhìn nhận giáo dục trong sự vận động và phát triển của thời đại. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, giáo dục được xác định là lĩnh vực giữ vai trò tiên phong trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực số, nhân lực khoa học, công nghệ và nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế số. Yêu cầu này gắn chặt với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Điều này cho thấy, Đảng đã xác định giáo dục không chỉ phục vụ nhu cầu hiện tại mà còn phải có năng lực dự báo, định hướng và chuẩn bị cho sự phát triển dài hạn của đất nước. Đây chính là biểu hiện của tư duy biện chứng ở tầm chiến lược, nhìn nhận sự vật trong xu hướng vận động và khả năng phát triển.
Theo quan điểm của C. Mác, con người vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử – xã hội cụ thể3. Vận dụng quan điểm đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt giáo dục trong mối quan hệ trực tiếp với phát triển con người toàn diện. Giáo dục không chỉ nhằm truyền đạt tri thức hay đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn hướng tới hình thành nhân cách, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, khát vọng cống hiến và trách nhiệm xã hội. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu “phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, hiện đại và nhân văn”4. Điều này phản ánh cách tiếp cận biện chứng khi xem con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Vì vậy, giáo dục không chỉ phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần xây dựng nền tảng văn hóa, củng cố hệ giá trị xã hội và phát triển con người Việt Nam trong thời đại mới.
Điểm đáng chú ý là tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không tuyệt đối hóa vai trò của tri thức kỹ thuật hay công nghệ mà luôn đặt giáo dục trong sự thống nhất giữa hiện đại hóa và tính nhân văn. Trong bối cảnh chuyển đổi số và AI phát triển mạnh mẽ, Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu giữ vững bản chất nhân văn của giáo dục, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức công dân và bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này cho thấy, Đảng không tiếp cận giáo dục theo logic công cụ thuần túy mà theo hướng phát triển con người toàn diện trong sự hài hòa giữa trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần và trách nhiệm xã hội. Đây chính là chiều sâu nhân văn của tư duy biện chứng trong quan điểm giáo dục của Đảng hiện nay.
Quan điểm trên cũng có sự thống nhất sâu sắc với tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Người cho rằng, mục tiêu cao nhất của giáo dục là đào tạo những con người “vừa hồng, vừa chuyên”, có đủ đức và tài để phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”5. Tư tưởng đó thể hiện rõ tính biện chứng khi đặt giáo dục trong sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách, giữa năng lực chuyên môn và trách nhiệm công dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa và phát triển tư tưởng này trong điều kiện mới, khi giáo dục không chỉ là quá trình đào tạo nguồn nhân lực mà còn là quá trình kiến tạo con người Việt Nam hiện đại, có năng lực hội nhập nhưng vẫn giữ vững bản lĩnh văn hóa và khát vọng phát triển dân tộc.
3. Thống nhất giữa đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo
Một trong những biểu hiện nổi bật của tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là nhận thức về mối quan hệ thống nhất giữa đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo. Đổi mới là quá trình vận động, kế thừa, điều chỉnh và phát triển nhằm thích ứng với những biến đổi của thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Đây chính là sự vận dụng sâu sắc nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải “tiếp tục khẳng định chủ trương giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, là động lực then chốt để phát triển đất nước, là đột phá chiến lược để phát triển nhanh và bền vững”6. Quan điểm này cho thấy, Đảng không nhìn nhận đổi mới giáo dục như một hoạt động cục bộ hay ngắn hạn mà đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia và trong mối liên hệ với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Từ góc độ biện chứng, đổi mới và phát triển không phải hai quá trình tách rời mà là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể vận động của giáo dục. Đổi mới là điều kiện để phát triển, còn phát triển lại đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới ở trình độ cao hơn.
Theo Ph. Ăngghen, “phủ định trong phép biện chứng không phải là sự phủ định giản đơn, không phải là sự xóa bỏ sạch trơn, mà là sự phủ định với tư cách là một mắt khâu của sự liên hệ, của sự phát triển, với việc duy trì cái khẳng định”7. Điều này cho thấy, sự phát triển của sự vật không diễn ra theo đường thẳng hay sự lặp lại cơ học mà luôn bao hàm tính kế thừa và nâng cao trong quá trình vận động biện chứng. Vận dụng quan điểm đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ tinh thần kế thừa và phát triển trong đổi mới giáo dục. Đảng không phủ nhận những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới mà khẳng định cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở phát huy những kết quả đã đạt được; đồng thời, khắc phục những hạn chế, bất cập trước yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Tư duy biện chứng trong Văn kiện còn thể hiện ở việc nhìn nhận đổi mới giáo dục trong mối quan hệ giữa ổn định và phát triển. Giáo dục là lĩnh vực có tính kế thừa cao, gắn trực tiếp với quá trình hình thành nhân cách và đào tạo con người, vì vậy, đổi mới giáo dục không thể thực hiện theo tư duy nóng vội, cực đoan hay duy ý chí. Nếu đổi mới thiếu cơ sở khoa học, chạy theo hình thức hoặc thay đổi liên tục mà thiếu tính ổn định thì sẽ dẫn tới mất cân bằng của hệ thống giáo dục và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Ngược lại, nếu duy trì tư duy quản lý cũ, chậm đổi mới trước những biến đổi mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và thị trường lao động thì giáo dục sẽ rơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu và không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng toàn diện nhưng phải bảo đảm tính ổn định, đồng bộ và bền vững.
Điểm đáng chú ý là tư duy biện chứng về đổi mới giáo dục trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không chỉ dừng lại ở đổi mới nội dung, chương trình hay phương pháp dạy học mà mở rộng sang đổi mới thể chế quản lý, cơ chế vận hành và mô hình quản trị giáo dục. Văn kiện yêu cầu xây dựng hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại và hội nhập, phản ánh sự chuyển biến trong tư duy từ mô hình giáo dục khép kín sang mô hình giáo dục mở, học tập suốt đời và thích ứng liên tục với biến động của xã hội hiện đại. Điều này phù hợp với quan điểm của UNESCO về xây dựng xã hội học tập, trong đó, giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường mà trở thành quá trình liên tục suốt đời của mỗi cá nhân8.
Một nội dung thể hiện rõ chiều sâu biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là việc đặt đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của AI. Văn kiện xác định cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, Big Data và AI trong quản lý giáo dục, tổ chức dạy học và phát triển nguồn nhân lực số9. Điều này cho thấy, Đảng đã nhận thức giáo dục trong trạng thái vận động liên tục và trong mối quan hệ trực tiếp với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại. Từ góc độ biện chứng, sự phát triển của công nghệ không chỉ tạo ra công cụ mới cho giáo dục mà còn làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận tri thức, mô hình học tập và cấu trúc của hệ thống giáo dục truyền thống.
Tuy nhiên, điểm sâu sắc trong tư duy của Đảng là không tuyệt đối hóa vai trò của công nghệ trong giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng luôn đặt đổi mới giáo dục trong sự thống nhất giữa hiện đại hóa và tính nhân văn. Giáo dục trong thời đại số không chỉ nhằm trang bị kỹ năng công nghệ mà còn phải phát triển năng lực tư duy độc lập, khả năng sáng tạo, trách nhiệm xã hội và bản lĩnh văn hóa cho người học. Điều này phản ánh rõ tư duy biện chứng khi xem giáo dục là quá trình phát triển con người toàn diện, trong đó tri thức, công nghệ và giá trị nhân văn phải được kết hợp hài hòa.
Bên cạnh đó, tư duy biện chứng trong đổi mới giáo dục còn thể hiện ở việc gắn giáo dục với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, đổi mới giáo dục phải hướng tới xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này cho thấy, giáo dục không chỉ nhằm giải quyết nhu cầu trước mắt của thị trường lao động mà còn phải chuẩn bị nguồn lực con người cho sự phát triển dài hạn của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
4. Thống nhất giữa công bằng và chất lượng giáo dục
Văn kiện Đại hội XIV xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng và chất lượng. Cách đặt vấn đề này cho thấy, Đảng không tiếp cận giáo dục theo hướng đơn tuyến hay tuyệt đối hóa một yếu tố riêng lẻ mà nhìn nhận giáo dục trong mối quan hệ đa chiều giữa hiệu quả phát triển và bảo đảm công bằng xã hội. Đây chính là biểu hiện rõ nét của tư duy biện chứng khi xem các mặt đối lập không tồn tại biệt lập mà luôn tác động, chuyển hóa và quy định lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Trong thực tiễn giáo dục, công bằng và chất lượng vừa có tính thống nhất, vừa chứa đựng những mâu thuẫn nhất định. Nếu quá nhấn mạnh chất lượng theo mô hình giáo dục tinh hoa, tập trung nguồn lực vào một số cơ sở đào tạo trọng điểm hoặc nhóm người học có điều kiện thuận lợi, thì khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, các tầng lớp xã hội có thể ngày càng gia tăng. Điều này dễ dẫn tới bất bình đẳng trong cơ hội học tập, ảnh hưởng tới quyền phát triển của con người và làm suy giảm tính nhân văn của nền giáo dục. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng mở rộng quy mô giáo dục theo hướng phổ cập đại trà mà thiếu đầu tư cho chất lượng đào tạo, chất lượng đội ngũ và chuẩn đầu ra thì giáo dục khó có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và kinh tế tri thức.
Từ góc độ triết học Mác – Lênin, “mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển của sự vật”10. Do đó, tư duy biện chứng không hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn mâu thuẫn giữa công bằng và chất lượng giáo dục, mà nhấn mạnh yêu cầu nhận thức đúng bản chất của mâu thuẫn và giải quyết chúng một cách hài hòa, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ tinh thần này khi đặt ra hai yêu cầu: mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người dân và nâng cao chất lượng giáo dục theo chuẩn khu vực, quốc tế.
Điểm đáng chú ý là Văn kiện không nhìn nhận công bằng giáo dục theo nghĩa đơn giản là bình quân cơ hội học tập mà theo hướng bảo đảm điều kiện phát triển cho mọi đối tượng xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ: “Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân”11. Điều này phản ánh quan điểm phát triển bao trùm của Đảng, trong đó, giáo dục không chỉ là công cụ đào tạo nguồn nhân lực mà còn là phương thức thực hiện công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Tư duy biện chứng trong Văn kiện còn thể hiện ở việc gắn công bằng giáo dục với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Đảng không xem công bằng và chất lượng là hai mục tiêu đối lập phải lựa chọn “hoặc – hoặc” mà hướng tới sự thống nhất giữa “mở rộng cơ hội” và “nâng cao chất lượng”. Điều này thể hiện rõ trong định hướng phát triển hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, liên thông và học tập suốt đời. Theo UNESCO, giáo dục hiện đại phải bảo đảm cả ba yếu tố: tiếp cận, công bằng và chất lượng, trong đó, chất lượng giáo dục chỉ thực sự có ý nghĩa khi mọi người đều có cơ hội tiếp cận bình đẳng với tri thức. Quan điểm này có sự tương đồng sâu sắc với định hướng giáo dục trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Bên cạnh đó, tư duy biện chứng còn được thể hiện ở cách Đảng nhìn nhận chất lượng giáo dục không chỉ ở kết quả đào tạo hay thành tích học thuật mà ở khả năng phát triển toàn diện con người và đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp, hiện đại và nhân văn. Điều này cho thấy, chất lượng giáo dục không chỉ được đo bằng tri thức chuyên môn hay năng lực nghề nghiệp mà còn bao gồm năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, đạo đức, trách nhiệm xã hội và bản lĩnh văn hóa của người học. Đây là bước phát triển mới trong tư duy giáo dục của Đảng, phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại trên thế giới.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa hiện nay, mối quan hệ giữa công bằng và chất lượng giáo dục càng trở nên phức tạp hơn. Sự phát triển của công nghệ số và AI tạo ra nhiều cơ hội mở rộng tiếp cận giáo dục, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ “khoảng cách số” giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội khác nhau. Nhận thức rõ điều đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đi đôi với bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ cho mọi người học. Điều này cho thấy, Đảng đã nhìn nhận giáo dục trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ với những biến đổi mới của thời đại, phản ánh rõ tính lịch sử, cụ thể của tư duy biện chứng.
Từ những phân tích trên có thể thấy, tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV được thể hiện sâu sắc ở cách giải quyết mối quan hệ giữa công bằng và chất lượng giáo dục. Đảng không tuyệt đối hóa bất kỳ yếu tố nào mà hướng tới sự phát triển hài hòa giữa mở rộng cơ hội học tập và nâng cao chất lượng đào tạo, giữa phát triển giáo dục đại trà và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu nhân văn của giáo dục. Điều này không chỉ phản ánh tính khoa học, toàn diện trong tư duy giáo dục của Đảng mà còn tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
5. Tư duy biện chứng giữa chuyển đổi số và giá trị nhân văn trong giáo dục
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đặt chuyển đổi số và AI vào trung tâm chiến lược phát triển giáo dục, xác định cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, AI trong giáo dục và đào tạo. Điều này phản ánh bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng khi nhìn nhận giáo dục không chỉ trong phạm vi truyền thống của hoạt động dạy học mà trong mối liên hệ trực tiếp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế số và xã hội số. Từ góc độ biện chứng, sự phát triển của công nghệ số và AI đang tạo ra những biến đổi mang tính cấu trúc đối với giáo dục hiện đại. Công nghệ không chỉ thay đổi công cụ hỗ trợ dạy học mà còn làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận tri thức, mô hình tổ chức học tập, phương pháp quản trị giáo dục và quan hệ giữa người dạy với người học. Trong môi trường giáo dục số, tri thức không còn bị giới hạn trong không gian lớp học truyền thống mà được mở rộng thông qua các nền tảng học tập trực tuyến, Big Data, AI và hệ sinh thái số toàn cầu. Điều này tạo ra khả năng cá thể hóa việc học, thúc đẩy học tập suốt đời và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho nhiều nhóm xã hội khác nhau.
Điều đáng chú ý trong Văn kiện Đại hội XIV là Đảng luôn đặt công nghệ trong mối quan hệ với phát triển con người và giá trị nhân văn. Đây chính là biểu hiện sâu sắc của tư duy biện chứng trong nhận thức về giáo dục thời đại số. Văn kiện không xem chuyển đổi số là mục tiêu tự thân mà coi đó là phương tiện để nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển con người toàn diện và xây dựng xã hội học tập hiện đại. Điều này cho thấy, Đảng đã nhìn nhận đúng tính hai mặt của sự phát triển công nghệ, công nghệ có thể tạo ra động lực mạnh mẽ cho đổi mới giáo dục, nhưng nếu thiếu định hướng nhân văn thì cũng có thể dẫn tới những hệ lụy, như: bất bình đẳng số, lệ thuộc công nghệ, suy giảm tương tác xã hội và khủng hoảng giá trị.
Tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện ở sự thống nhất giữa hiện đại hóa giáo dục và giữ vững bản chất nhân văn của giáo dục. Công nghệ có thể thay đổi phương thức học tập, quản trị và truyền tải tri thức, nhưng không thể thay thế vai trò của giáo dục trong việc hình thành nhân cách, bồi dưỡng đạo đức, phát triển năng lực tư duy độc lập và trách nhiệm xã hội của con người. Giáo dục không chỉ nhằm đào tạo con người có khả năng sử dụng công nghệ mà còn phải đào tạo con người có khả năng kiểm soát, định hướng và sử dụng công nghệ vì sự phát triển bền vững của xã hội.
Theo nhà triết học và xã hội học Pháp Edgar Morin, giáo dục tương lai cần giúp con người hiểu được tính phức hợp của thế giới và phát triển năng lực tư duy toàn diện12. Quan điểm này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh AI đang phát triển mạnh mẽ hiện nay. Nếu giáo dục chỉ chú trọng truyền đạt kỹ năng công nghệ mà xem nhẹ năng lực tư duy phản biện, đạo đức và ý thức trách nhiệm thì con người rất dễ trở thành “phụ thuộc công nghệ” thay vì làm chủ công nghệ. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền giáo dục hiện đại nhưng đồng thời phải “nhân văn”, “thực học” và “phát triển con người toàn diện”13. Điều này phản ánh rõ quan điểm biện chứng khi đặt tri thức khoa học, công nghệ trong sự thống nhất với văn hóa, đạo đức và giá trị con người. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng cho thấy, sự nhận thức rõ ràng về những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi số giáo dục. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ có thể tạo ra khoảng cách số giữa các vùng, miền, giữa các nhóm xã hội có điều kiện tiếp cận công nghệ khác nhau. Vì vậy, Đảng đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng số giáo dục đồng bộ, bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ cho mọi người học, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn. Điều này cho thấy, tư duy biện chứng trong Văn kiện không chỉ dừng ở nhận thức cơ hội mà còn nhìn thấy cả những thách thức và mâu thuẫn cần giải quyết trong quá trình hiện đại hóa giáo dục.
Tư duy biện chứng còn thể hiện ở việc Đảng nhìn nhận giáo dục trong thời đại AI như một quá trình thích ứng liên tục với sự biến đổi của xã hội. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của công nghệ, giáo dục không thể chỉ trang bị tri thức cố định mà phải phát triển cho người học năng lực tự học, khả năng thích ứng, sáng tạo và học tập suốt đời. Điều này phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức từ mô hình giáo dục “truyền đạt tri thức” sang mô hình giáo dục “phát triển năng lực”, phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại trên thế giới.
6. Thống nhất giữa hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc
Văn kiện Đại hội XIV khẳng định yêu cầu đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục và đào tạo. Điều này cho thấy, Đảng đã nhìn nhận giáo dục trong mối liên hệ trực tiếp với tiến trình toàn cầu hóa và sự vận động của nền kinh tế tri thức. Trong điều kiện cách mạng khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, tri thức nhân loại ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, hội nhập giáo dục không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nước.
Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc dân tộc không phải là hai quá trình đối lập loại trừ nhau mà là hai mặt thống nhất trong sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam hiện đại. Hội nhập tạo điều kiện để giáo dục Việt Nam tiếp cận tri thức tiên tiến, phương pháp quản trị hiện đại và chuẩn đào tạo quốc tế; trong khi bản sắc dân tộc là nền tảng bảo đảm tính độc lập, tự chủ và định hướng giá trị của nền giáo dục quốc gia. Nếu tuyệt đối hóa hội nhập mà xem nhẹ bản sắc dân tộc, giáo dục rất dễ rơi vào tình trạng lệ thuộc mô hình bên ngoài, đánh mất định hướng văn hóa và làm suy giảm vai trò của giáo dục trong việc bồi dưỡng lý tưởng, nhân cách và ý thức dân tộc. Ngược lại, nếu khép kín, bảo thủ và thiếu tinh thần tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới thì nền giáo dục sẽ khó thích ứng với xu thế phát triển toàn cầu, khó nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tư duy biện chứng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện ở quan điểm phát triển giáo dục theo hướng hiện đại nhưng không xa rời cội nguồn văn hóa dân tộc. Điều này phản ánh rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính hiện đại trong giáo dục. Văn kiện không chỉ đặt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục theo chuẩn khu vực và quốc tế mà nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh văn hóa, khát vọng phát triển và trách nhiệm xã hội. Đây chính là điểm khác biệt trong tư duy giáo dục của Đảng, hội nhập quốc tế phải gắn với củng cố nền tảng giá trị văn hóa dân tộc và giữ vững định hướng phát triển con người Việt Nam trong thời đại mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho quan điểm này khi Người khẳng định phải học cái hay, cái tốt của người, nhưng không được sao chép máy móc, phải phù hợp với hoàn cảnh nước ta; phải học tập cái hay, cái tiến bộ của thế giới nhưng “không được mất gốc”. Quan điểm đó thể hiện sâu sắc tư duy biện chứng về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, giữa kế thừa và tiếp biến văn hóa. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng này khi đặt giáo dục trong mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế với xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam. Điều đó cho thấy, Đảng không tiếp cận hội nhập giáo dục theo logic “sao chép mô hình” mà theo hướng chủ động tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển của đất nước.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhìn nhận hội nhập quốc tế trong giáo dục không chỉ ở khía cạnh hợp tác đào tạo hay trao đổi học thuật mà còn ở năng lực tham gia vào không gian tri thức toàn cầu. Điều này đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển các cơ sở giáo dục đạt chuẩn quốc tế, tăng cường năng lực ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong quá trình đó, giáo dục vẫn phải giữ vai trò bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Đây chính là sự thống nhất giữa yêu cầu hội nhập toàn cầu với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng, văn hóa và giá trị dân tộc trong giáo dục.
Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng cho thấy, nhận thức rõ những thách thức của hội nhập quốc tế đối với giáo dục Việt Nam. Sự du nhập mạnh mẽ của các mô hình giáo dục, xu hướng văn hóa và hệ giá trị toàn cầu có thể tác động đến nhận thức, lối sống và bản sắc văn hóa của thế hệ trẻ. Vì vậy, giáo dục không chỉ có chức năng truyền thụ tri thức mà còn phải giữ vai trò “bộ lọc văn hóa”, giúp người học có khả năng tiếp thu có chọn lọc, biết phân biệt giữa giá trị tiến bộ và những yếu tố không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Điều này phản ánh rõ tính chủ động và bản lĩnh trong tư duy hội nhập của Đảng hiện nay.
7. Kết luận
Tư duy biện chứng về đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về vai trò của giáo dục trong thời đại chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Thông qua việc giải quyết các mối quan hệ giữa đổi mới và phát triển, giữa công bằng và chất lượng, giữa hiện đại hóa và nhân văn, giữa hội nhập và bản sắc dân tộc, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ cách tiếp cận toàn diện, hệ thống và phát triển đối với giáo dục và đào tạo. Như vậy, tư duy biện chứng chính là nền tảng phương pháp luận quan trọng giúp Đảng hoạch định chiến lược đổi mới giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để giáo dục Việt Nam tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện, hiện đại và hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển con người Việt Nam toàn diện trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Chú thích:
1, 2, 4, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 38, 100, 101, 103.
3. C. Mác (1987). Luận cương về Feuerbach. H. NXB Sự thật.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 684.
6, 9, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 60, 122, 48.
7. Ph. Ăngghen (1994). Biện chứng của tự nhiên. H. NXB Chính trị quốc gia.
8. UNESCO (1996). Learning: The treasure within. Report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-first Century. Paris: UNESCO Publishing.
10. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập (1995). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia.
12. Morin, E. (1999). Seven complex lessons in education for the future. Paris: UNESCO Publishing.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Toàn văn: phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-to-lam-119260325155346466.htm
4. Tầm nhìn chiến lược của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/19/tam-nhin-chien-luoc-cua-dang-ve-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-theo-nghi-quyet-so-71-nq-tw/



