Leveraging ethnic minority cultural values to strengthen the people-centered defense posture and protect the ideological foundation of the Communist Party of Vietnam: evidence from Bu Dang, Dong Nai
ThS. Vũ Đức Hoàng
Trung tâm Chính trị xã Bù Đăng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số không chỉ là nhiệm vụ văn hóa mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn xã Bù Đăng, địa bàn có đông đồng bào S’tiêng, M’nông sinh sống, bài viết làm rõ vai trò của văn hóa truyền thống như một nguồn sức mạnh nội sinh, một “lá chắn mềm” góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, nâng cao sức đề kháng trước các quan điểm sai trái, thù địch. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số gắn với xây dựng “thế trận lòng dân”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Văn hóa dân tộc thiểu số; Bù Đăng; nền tảng tư tưởng của Đảng; thế trận lòng dân; sức mạnh nội sinh.
Abstract: Against the backdrop of globalization, digital transformation, and the rise of subversive activities in cyberspace, preserving and promoting the cultural values of ethnic minorities is not only a cultural mission but also a critical political imperative in safeguarding the Party’s ideological foundation. Based on a field survey of Bù Đăng Commune an area with a large population of S’tiêng and M’nông people—this article clarifies the role of traditional culture as a source of endogenous strength and a “soft shield” that helps reinforce national unity, build the people’s trust in the Party and the State, and enhance resilience against erroneous and hostile viewpoints. Consequently, it proposes solutions to promote the cultural values of ethnic minorities in conjunction with building the “people’s support network” and safeguarding the Party’s ideological foundation in this new era of development.
Keywords: Ethnic minority culture; Bù Đăng; the Party’s ideological foundation; people’s support network; endogenous strength.
1. Mở đầu
Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trong mọi giai đoạn lịch sử, văn hóa luôn giữ vai trò định hình bản sắc, cố kết cộng đồng và tạo nên sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam (Trần Ngọc Thêm, 2016).
Trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt dưới tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần đơn thuần mà còn trở thành một mặt trận quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2022). Các thế lực thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và văn hóa để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu: phải coi việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số không chỉ là nhiệm vụ văn hóa mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014).
2. Vai trò của văn hóa trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn giữ vai trò là một sức mạnh tinh thần đặc biệt, góp phần hình thành bản lĩnh, ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam (Phạm Minh Hạc, 2018). Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc ta đã vượt qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, thiên tai và biến động xã hội không chỉ bằng sức mạnh quân sự hay tiềm lực kinh tế, mà còn bằng sức mạnh văn hóa – kết tinh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và niềm tin vào những giá trị bền vững của dân tộc. Vì vậy, văn hóa không chỉ là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội, mà còn là nền tảng tinh thần, là cội nguồn tạo nên sức sống trường tồn của quốc gia.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh, 2011). Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với chính trị, kinh tế và xã hội. Trong tư tưởng của Người, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; đồng thời, là sức mạnh nội sinh của dân tộc và là một “mặt trận” quan trọng trong đấu tranh chống lại cái lạc hậu, tiêu cực và các quan điểm phản tiến bộ.
Kế thừa tư tưởng đó, Đảng luôn xác định văn hóa giữ vai trò đặc biệt trong sự phát triển của đất nước. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển con người toàn diện (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014), qua đó nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức và các tác động tiêu cực từ bên ngoài. Văn hóa không chỉ bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí trung tâm của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước, nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy mạnh mẽ giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).Đại hội XIII của Đảng đồng thời xác định các nhiệm vụ trọng tâm, như xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Trong định hướng phát triển tiếp theo, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh và là hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Từ đó, thấy rõ vai trò của văn hóa trong việc chuyển hóa “sức mạnh mềm” thành năng lực tự điều chỉnh và phản bác của xã hội. Khi các giá trị tích cực như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, sự tôn trọng lịch sử và bản sắc dân tộc được thẩm thấu sâu rộng, mỗi người dân không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn trở thành chủ thể sàng lọc, đánh giá và lan tỏa thông tin đúng đắn, góp phần thu hẹp không gian tác động của các quan điểm sai trái, đồng thời nâng cao khả năng tự “miễn dịch” của xã hội trước thông tin xấu độc.
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Bộ Chính trị. 2026) đã mở ra định hướng chiến lược mới, nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia; đồng thời đề cao bảo vệ chủ quyền văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh và phát huy vai trò chủ thể sáng tạo văn hóa của nhân dân.
Từ các quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng có thể khẳng định: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là sức mạnh mềm của quốc gia, là nguồn lực nội sinh quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Khi các giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, bản sắc dân tộc được bồi đắp, niềm tin vào Đảng và khát vọng phát triển được nuôi dưỡng trong mỗi người dân, thì đó chính là nền tảng vững chắc để hình thành “thế trận lòng dân”, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng vừa là cơ hội lan tỏa các giá trị tích cực, vừa là môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm xuyên tạc, chia rẽ và làm suy giảm niềm tin xã hội (Ủy ban Dân tộc, 2022).Vì vậy, việc xây dựng “sức đề kháng văn hóa” trở thành yêu cầu cấp thiết trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
3. Từ âm thanh cồng chiêng đến văn hóa dân tộc thiểu số, “lá chắn mềm” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Bù Đăng
Đối với đồng bào S’tiêng, M’nông, mỗi chiếc chiêng đều mang trong mình những giá trị thiêng liêng gắn liền với đời sống tâm linh và sinh hoạt cộng đồng. Từ lễ mừng lúa mới, lễ cầu mùa, lễ cưới hỏi, lễ kết nghĩa cộng đồng đến những nghi lễ vòng đời của con người (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước. 2023), tiếng chiêng luôn hiện diện như một sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối con người với thiên nhiên, với tổ tiên và với cộng đồng bon sóc. Trong không gian văn hóa ấy, mỗi nhịp chiêng không chỉ truyền tải cảm xúc mà còn chở theo những giá trị đạo đức, phong tục tập quán và tri thức dân gian được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn diễn ra chủ yếu trên các diễn đàn chính trị truyền thống mà ngày càng mở rộng sang lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và không gian mạng. Các thế lực thù địch nhận thức rất rõ rằng muốn làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng thì trước hết phải tìm cách tác động vào nền tảng tinh thần của xã hội; muốn phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì phải từng bước làm phai nhạt bản sắc văn hóa, làm suy yếu các giá trị truyền thống và tạo ra khoảng cách giữa Đảng với Nhân dân. Chính vì vậy, vấn đề dân tộc, tôn giáo và văn hóa luôn là những lĩnh vực mà các thế lực thù địch tập trung khai thác nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2022).
Dưới nhiều hình thức khác nhau, chúng tìm cách xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; bóp méo những hạn chế cục bộ thành bản chất của chế độ; lợi dụng những khó khăn trong đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số để gieo rắc tâm lý hoài nghi, mặc cảm và chia rẽ. Đằng sau những luận điệu tưởng như bênh vực quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số là âm mưu phủ nhận thành quả cách mạng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, từ đó phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là thủ đoạn không mới nhưng ngày càng tinh vi khi được hỗ trợ bởi tốc độ lan truyền của Internet và mạng xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống ở Bù Đăng và các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã và đang là những minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc đó. Nếu như trước đây nhiều bon, sóc còn gặp không ít khó khăn về hạ tầng giao thông, điện, nước, giáo dục và y tế thì ngày nay diện mạo nông thôn đã có nhiều đổi thay rõ nét. Các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ (UBND huyện Bù Đăng, 2023); hệ thống trường học, trạm y tế, nhà văn hóa cộng đồng được đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao. Những con đường bê tông nối liền các bon sóc, những lớp học khang trang giữa vùng sâu, những nhà văn hóa sáng đèn mỗi đêm chính là bằng chứng sinh động về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.
Điều đáng chú ý hơn cả là cùng với đầu tư phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán trong quan điểm phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn văn hóa. Bởi lẽ, một cộng đồng có thể thoát nghèo về vật chất nhưng sẽ không thể phát triển bền vững nếu đánh mất cội nguồn văn hóa của mình. Văn hóa chính là linh hồn của cộng đồng, là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, hệ giá trị đạo đức và bản sắc dân tộc.
Trong những năm qua, hàng loạt chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc thiểu số đã được triển khai tại Bù Đăng. Không gian văn hóa cồng chiêng được khôi phục và phát huy; các lễ hội truyền thống được phục dựng; nhiều nghệ nhân được tôn vinh và hỗ trợ truyền dạy; các đội cồng chiêng, câu lạc bộ văn hóa dân gian được duy trì thường xuyên. Những giá trị văn hóa tưởng chừng chỉ thuộc về quá khứ đã từng bước trở thành nguồn lực tinh thần quan trọng trong đời sống đương đại.
Thực tiễn đó bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Đảng đang “đồng hóa văn hóa dân tộc thiểu số” hay làm mai một bản sắc truyền thống. Trái lại, chính dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều giá trị văn hóa vốn đứng trước nguy cơ mai một đã được phục hồi, bảo tồn và phát triển trong điều kiện mới. Đó không chỉ là sự bảo tồn di sản mà còn là quá trình củng cố bản lĩnh văn hóa, bồi đắp niềm tự hào dân tộc và tăng cường sức đề kháng xã hội trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài.
Đồng thời thực tiễn cũng chứng minh, khi đồng bào được tôn trọng bản sắc văn hóa; khi tiếng cồng chiêng vẫn ngân vang giữa đại ngàn; khi những lễ hội truyền thống được gìn giữ; khi các giá trị văn hóa của dân tộc mình được xã hội trân trọng và phát huy thì niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước sẽ được củng cố một cách tự nhiên và bền vững. Chính niềm tin ấy tạo nên sức mạnh đoàn kết cộng đồng, tạo nên “miễn dịch xã hội” trước những luận điệu xuyên tạc và kích động chia rẽ. Không thể để xuất hiện những khoảng trống để các tư tưởng cực đoan, phản văn hóa hoặc các luận điệu sai trái len lỏi và tác động.
Bởi vậy, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa mà còn là nhiệm vụ chính trị trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi lễ hội được duy trì là một không gian giáo dục truyền thống; mỗi tiếng cồng chiêng được trao truyền là một thông điệp về cội nguồn dân tộc; mỗi nghệ nhân được tôn vinh là một “người giữ lửa” cho bản sắc văn hóa của cộng đồng. Những giá trị ấy âm thầm nhưng bền bỉ nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và niềm tin xã hội – những yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh của nền tảng tư tưởng mà Đảng đang lãnh đạo xây dựng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ dừng lại ở việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng mà còn bắt đầu từ việc củng cố nền tảng văn hóa trong đời sống xã hội. Khi mỗi bon, sóc trở thành một không gian văn hóa giàu bản sắc; khi mỗi người dân trở thành chủ thể gìn giữ và lan tỏa các giá trị tốt đẹp của dân tộc mình; khi văn hóa thực sự thấm sâu vào đời sống cộng đồng, thì đó chính là lúc “lá chắn mềm” được hình thành vững chắc nhất (Phạm Minh Hạc, 2018). Lá chắn ấy được xây dựng bằng niềm tin, bằng bản sắc, bằng truyền thống và bằng sự đồng thuận của xã hội. Đó là loại sức mạnh không dễ nhìn thấy nhưng có khả năng tạo nên sức bền của một dân tộc, sức sống của một chế độ và sức mạnh trường tồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
4. Một số giải pháp
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Bù Đăng đứng trước cả cơ hội phát triển lẫn nguy cơ mai một. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa không chỉ nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc mà còn góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sức đề kháng trước những quan điểm sai trái, thù địch, từ đó, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện mục tiêu, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của địa phương (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014)16. Văn hóa không chỉ là di sản tinh thần mà còn là sức mạnh nội sinh góp phần xây dựng hệ giá trị của con người Việt Nam, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Các cấp ủy, chính quyền cần lồng ghép nội dung giáo dục văn hóa dân tộc thiểu số vào các chương trình sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể, các hoạt động tuyên truyền pháp luật và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, tăng cường phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác dân tộc, công tác văn hóa nhằm giúp đồng bào hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của nhà trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc địa phương. Khi hiểu và tự hào về cội nguồn văn hóa của mình, thanh thiếu niên sẽ có ý thức hơn trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống trước những tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai và thông tin xấu độc trên không gian mạng.
Thứ hai, bảo tồn và số hóa di sản văn hóa của đồng bào S’tiêng và M’nông.
Bù Đăng là địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào S’tiêng và M’nông, với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như cồng chiêng, sử thi, lễ hội truyền thống, nghề thủ công, dân ca, dân vũ và tri thức dân gian. Vì vậy, cần tiến hành rà soát, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về các loại hình di sản văn hóa hiện có (Viện Văn hóa – Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, 2020).
Việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn văn hóa cần được xem là một giải pháp mang tính chiến lược. Các lễ hội, làn điệu dân ca, nghi thức truyền thống, câu chuyện dân gian, nhạc cụ dân tộc và các hiện vật văn hóa cần được ghi âm, ghi hình, số hóa và lưu trữ trên các nền tảng dữ liệu điện tử. Điều này không chỉ góp phần lưu giữ lâu dài các giá trị văn hóa mà còn tạo điều kiện để quảng bá rộng rãi hình ảnh văn hóa của dân tộc thiểu số đến cộng đồng trong nước và ngoài nước.
Ngoài ra, địa phương cần khuyến khích xây dựng các sản phẩm truyền thông số như phim tài liệu, sách điện tử, triển lãm trực tuyến, ứng dụng du lịch thông minh nhằm giới thiệu văn hóa S’tiêng và M’nông. Qua đó, văn hóa truyền thống được tiếp cận với thế hệ trẻ bằng những phương thức hiện đại, hấp dẫn và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội số.
Thứ ba, phát huy vai trò của già làng, nghệ nhân và những người có uy tín trong cộng đồng.
Già làng, nghệ nhân và người có uy tín là những chủ thể quan trọng trong việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Họ không chỉ nắm giữ kho tàng tri thức dân gian mà còn có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư. Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ, tôn vinh và tạo điều kiện để các nghệ nhân tiếp tục truyền dạy các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ. Địa phương có thể tổ chức các lớp học cồng chiêng, dân ca, nghề thủ công truyền thống, kể sử thi và hướng dẫn nghi lễ văn hóa dân tộc với sự tham gia trực tiếp của các nghệ nhân tiêu biểu.
Mặt khác, cần phát huy vai trò của già làng và người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia đấu tranh phản bác thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc và tôn giáo. Với uy tín và sự am hiểu phong tục, tập quán địa phương, họ sẽ trở thành cầu nối quan trọng giữa chính quyền và đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Trong thời đại công nghệ số, không gian mạng trở thành môi trường tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng và hành vi của người dân. Bên cạnh những mặt tích cực, đây cũng là nơi các thế lực thù địch lợi dụng để phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, kích động chia rẽ dân tộc và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy, cần tăng cường công tác giáo dục kỹ năng số, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2023). 18. Người dân cần được trang bị khả năng nhận diện tin giả, thông tin độc hại và biết cách sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, có trách nhiệm.
Song song với đó, cần đẩy mạnh xây dựng các kênh thông tin chính thống trên nền tảng số để lan tỏa những giá trị tích cực của văn hóa dân tộc, giới thiệu gương người tốt, việc tốt và những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Việc sản xuất nội dung truyền thông bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc sẽ giúp nâng cao hiệu quả tiếp cận, tạo sự đồng thuận xã hội và củng cố “sức đề kháng” văn hóa trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài.
Thứ năm, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững.
Muốn văn hóa được bảo tồn lâu dài, cần tạo điều kiện để văn hóa trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Đây là giải pháp quan trọng giúp người dân thấy được giá trị thực tiễn của việc gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống.
Bù Đăng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc thiểu số, như không gian văn hóa cồng chiêng, các lễ hội truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực dân tộc và cảnh quan thiên nhiên đặc trưng. Chính quyền địa phương cần xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng theo hướng bảo tồn văn hóa, kết hợp tạo sinh kế cho người dân. Đồng thời, cần hỗ trợ đồng bào phát triển các sản phẩm văn hóa đặc trưng như nhạc cụ truyền thống, thổ cẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm OCOP mang bản sắc dân tộc. Khi các giá trị văn hóa tạo ra thu nhập và góp phần cải thiện đời sống, người dân sẽ chủ động hơn trong việc bảo tồn và truyền lại cho thế hệ sau.
Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế không chỉ giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số mà còn góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, qua đó bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số ở xã Bù Đăng là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thông qua việc nâng cao nhận thức, bảo tồn và số hóa di sản văn hóa, phát huy vai trò của người có uy tín, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh và gắn văn hóa với phát triển sinh kế bền vững, địa phương không chỉ gìn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống mà còn tạo dựng nguồn sức mạnh tinh thần to lớn góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
5. Kết luận
Khi tiếng cồng chiêng ngân vang giữa đại ngàn Bù Đăng, khi những lễ hội truyền thống tiếp tục được trao truyền cho thế hệ trẻ, khi mỗi già làng, nghệ nhân và người có uy tín vẫn bền bỉ giữ lửa văn hóa dân tộc, đó không chỉ là sự bảo tồn một di sản mà còn là sự gìn giữ cội nguồn sức mạnh tinh thần của cộng đồng. Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và không gian mạng, việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc thiểu số càng có ý nghĩa chiến lược. Văn hóa trở thành “lá chắn mềm” nhưng có sức mạnh bền vững; là sợi dây gắn kết lòng dân với Đảng; là nền tảng để củng cố niềm tin xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc từ cơ sở.
Phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số ở Bù Đăng không chỉ là trách nhiệm đối với quá khứ mà còn là sự đầu tư cho tương lai; không chỉ gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đồng Nai phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2022). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 101.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Cẩm nang nhận diện và xử lý tin giả trên không gian mạng. H. NXB Thông tin và Truyền thông.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Phạm Minh Hạc (2018). Giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. H. NXB Khoa học Xã hội.
9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước (2023). Báo cáo văn hóa dân tộc thiểu số năm 2023.
10. Ủy ban Dân tộc (2022). Báo cáo công tác dân tộc năm 2022.
11. UBND huyện Bù Đăng (2023). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2023.
12. Viện Văn hóa – Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2020). Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Hà Nội.



