Solutions for leveraging marine economic advantages to create new growth drivers for Hung Yen province
ThS. Phạm Tùng Lâm
Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên
Email: phamtunglam163@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc sáp nhập tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình từ năm 2025 đã tạo lập một không gian phát triển mới, kết nối lợi thế cận Thủ đô với không gian ven biển và Khu kinh tế Thái Bình. Đây là điều kiện quan trọng để Hưng Yên mở rộng dư địa phát triển và hình thành thêm động lực tăng trưởng trong giai đoạn hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Bài viết phân tích lợi thế địa kinh tế và vai trò của Khu kinh tế Thái Bình trong cấu trúc phát triển mới; nhận diện những yêu cầu về quy hoạch, kết nối hạ tầng, phân bổ nguồn lực và quản trị phát triển; từ đó, đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm chuyển hóa lợi thế biển thành năng lực sản xuất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững của tỉnh Hưng Yên.
Từ khóa: Hưng Yên; kinh tế biển; lợi thế địa kinh tế; động lực tăng trưởng; phát triển bền vững.
Abstract: The merger of Hung Yen and Thai Binh provinces in 2025 has created a new development space that connects the advantages of proximity to the capital with the coastal area and Thai Binh Economic Zone. This provides an important foundation for Hung Yen to expand its development potential and generate new growth drivers as the province pursues double-digit economic growth. The article analyzes the geo-economic advantages and the role of Thai Binh Economic Zone in the new development structure; identifies key requirements for planning, infrastructure connectivity, resource allocation, and development governance; and proposes key solutions to transform marine advantages into productive capacity, value added, and competitiveness, thereby contributing to rapid and sustainable growth in Hung Yen Province.
Keywords: Hung Yen; marine economy; geo-economic advantages; growth drivers; sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 – 2030 đạt từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP và kinh tế số khoảng 30% GDP (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 375 – 376), đòi hỏi các địa phương không chỉ phát huy hiệu quả những động lực tăng trưởng hiện có mà còn phải mở rộng không gian phát triển, tạo lập nguồn lực và động lực tăng trưởng mới. Đối với tỉnh Hưng Yên, yêu cầu này càng có ý nghĩa trong bối cảnh tỉnh mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình từ ngày 01/7/2025.
Sự sáp nhập tỉnh đã tạo ra một không gian phát triển mới, kết nối lợi thế của khu vực cận Thủ đô với không gian ven biển và Khu kinh tế Thái Bình. Trong bối cảnh đó, kinh tế biển cần được nhìn nhận không chỉ là một khu vực kinh tế riêng biệt mà là một động lực có khả năng lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế tỉnh. Vì vậy, làm rõ lợi thế và không gian phát triển mới từ kinh tế biển, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quản trị phát triển sau hợp nhất và đề xuất các giải pháp trọng tâm để kinh tế biển trở thành một động lực tăng trưởng mới của tỉnh có giá trị cả về lý luận và thực tiễn.
2. Lợi thế kinh tế biển và không gian phát triển mới của tỉnh Hưng Yên
2.1. Hình thành lợi thế địa kinh tế mới và hành lang phát triển hướng biển.
Sau hợp nhất, lợi thế phát triển của tỉnh Hưng Yên không đơn thuần là sự cộng gộp nguồn lực của hai địa phương mà quan trọng hơn là sự bổ trợ lợi thế và tái cấu trúc không gian kinh tế trong một chỉnh thể phát triển thống nhất. Trước ngày 01/7/2025, tỉnh Hưng Yên có ưu thế về vị trí tiếp giáp Hà Nội, nền tảng công nghiệp và khả năng kết nối với các chuỗi sản xuất của vùng Thủ đô, tam giác động lực Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; trong khi Thái Bình có lợi thế về quỹ đất, nguồn lao động, có Khu kinh tế Thái Bình và đặc biệt là không gian phát triển hướng biển (Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 28/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ). Việc hợp nhất hai địa phương đã tạo nên một cấu trúc lợi thế mới mà mỗi tỉnh trước đây chưa có đầy đủ, trong đó các nguồn lực nội địa, cận Thủ đô và ven biển được tích hợp, bổ trợ và có khả năng phát huy hiệu quả cao hơn.
Nổi bật trong cấu trúc lợi thế mới là khả năng kết nối liên hoàn từ thị trường Thủ đô, các đô thị, các trung tâm công nghiệp và vùng sản xuất hàng hóa của tỉnh đến Khu kinh tế Thái Bình, không gian ven biển và hệ thống cảng biển của vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng về không gian địa lý mà còn là điều kiện, là cơ hội tốt hình thành một hành lang kinh tế hướng biển, qua đó chuyển lợi thế vị trí thành lợi thế kết nối, chuyển tiềm năng tài nguyên thành năng lực sản xuất và mở rộng khả năng tham gia chuỗi giá trị vùng, quốc gia và quốc tế.
Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, tăng cường kết nối nội vùng, liên vùng và với hệ thống cảng biển chính là cơ sở quan trọng để tỉnh Hưng Yên hình thành hành lang kinh tế hướng biển, kết nối các trung tâm công nghiệp – đô thị và vùng sản xuất hàng hóa của tỉnh với Khu kinh tế Thái Bình, không gian ven biển và các đầu mối logistics, cảng biển của vùng. Do đó, tư duy phát triển cần chuyển từ khai thác lợi thế tập trung ở vùng ven biển tại vùng ven biển sang đưa lợi thế biển vào toàn bộ không gian kinh tế của tỉnh. Giá trị chiến lược của biển không chỉ nằm ở nguồn lợi thủy sản, quỹ đất hay các hoạt động kinh tế trực tiếp từ biển mà còn ở khả năng mở rộng dư địa phát triển, thu hút đầu tư, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực kết nối thị trường và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử gắn với vùng biển.
2.2. Khu tinh tế Thái Bình – hạt nhân của cực tăng trưởng hướng biển.
Trong cấu trúc không gian phát triển mới, Khu kinh tế Thái Bình giữ vai trò hạt nhân của không gian kinh tế biển tỉnh Hưng Yên. Ý nghĩa của sự thay đổi này không chỉ nằm ở việc mở rộng địa giới mà quan trọng hơn là tạo cho tỉnh lợi thế địa kinh tế chiến lược, tạo điều kiện tổ chức lại không gian phát triển theo hướng kết nối khu vực Thủ đô, các đô thị, các trung tâm công nghiệp và vùng sản xuất với khu kinh tế ven biển, hệ thống logistics và các cửa ngõ giao thương quốc tế.
Khu kinh tế Thái Bình được thành lập theo Quyết định số 36/2017/QĐ-TTg, có quy mô hơn 30 nghìn ha, gắn với hơn 50 km bờ biển. Đây là khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, được định hướng phát triển công nghiệp, năng lượng, kinh tế hàng hải, thương mại – dịch vụ, đô thị, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và thủy sản. Với lợi thế về vị trí, quy mô và định hướng phát triển đa ngành, Khu kinh tế Thái Bình có điều kiện trở thành không gian tập trung các hoạt động sản xuất, dịch vụ, logistics và đô thị, qua đó tạo động lực lan tỏa cho khu vực ven biển và các không gian kinh tế khác của tỉnh. Những lợi thế này đang từng bước được hiện thực hóa thông qua quá trình phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư. Đến tháng 6/2026, Khu kinh tế Thái Bình đã hình thành 6 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 2.127 ha; riêng khu công nghiệp Liên Hà Thái thu hút 60 dự án với tổng vốn đăng ký 40.747 tỷ đồng, qua đó, ngày càng khẳng định vai trò cực công nghiệp và thu hút đầu tư ven biển của tỉnh Hưng Yên. Kết quả bước đầu này cho thấy sức hấp dẫn ngày càng rõ nét của không gian kinh tế ven biển đối với các dòng vốn đầu tư mới (Mai Tú, 23/6/2026)
Như vậy, Khu kinh tế Thái Bình không chỉ là một không gian công nghiệp ven biển mà có thể trở thành hạt nhân tổ chức lại không gian phát triển của Hưng Yên theo hướng mở ra biển, tăng cường liên kết vùng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành một cực tăng trưởng mới, góp phần mở rộng dư địa phát triển và tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững của tỉnh trong giai đoạn tới.
3. Những vấn đề đặt ra đối với quản trị phát triển tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập
Sau sáp nhập, Hưng Yên có quy mô kinh tế, dân số, không gian và nguồn lực phát triển lớn hơn, đặc biệt có thêm lợi thế biển. Tuy nhiên, quy mô lớn hơn cũng đồng nghĩa với yêu cầu quản trị phức tạp hơn. Trong bối cảnh tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 10 – 11%/năm giai đoạn 2026 – 2030 (Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, 2025), vấn đề đặt ra không chỉ là khai thác thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là khả năng tổ chức lại không gian, kết nối các lợi thế và chuyển hóa nguồn lực mới thành năng suất, giá trị gia tăng và động lực tăng trưởng có sức lan tỏa. Từ đó, đặt ra một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, tỉnh Hưng Yên hiện nay đã hình thành một không gian kinh tế mới với các trung tâm công nghiệp – đô thị, vùng nông nghiệp hàng hóa, Khu kinh tế Thái Bình và không gian ven biển. Điều này đặt ra bài toán không chỉ về tích hợp quy hoạch mà quan trọng hơn là xác lập lại chức năng của từng khu vực, các cực tăng trưởng, hành lang động lực và cơ chế liên kết giữa các không gian kinh tế nhằm tạo hiệu quả tổng thể cao hơn cho tỉnh mới.
Hai là, lợi thế biển đã mở ra nhưng khả năng lan tỏa lợi thế này đến toàn bộ nền kinh tế của tỉnh phụ thuộc vào năng lực kết nối. Khoảng cách giữa “có biển” và “phát huy được lợi thế biển” nằm ở mức độ kết nối giữa khu vực biển với các trung tâm công nghiệp, đô thị, vùng sản xuất hàng hóa và thị trường. Vì vậy, tính đồng bộ của hạ tầng giao thông, logistics, cảng, năng lượng và hạ tầng số trở thành một vấn đề có tính chiến lược. Nếu các điểm nghẽn kết nối không được khắc phục, không gian biển khó tạo được hiệu ứng lan tỏa đủ lớn để trở thành động lực tăng trưởng, đột phá phát triển tỉnh.
Ba là, dư địa đầu tư lớn hơn đặt ra bài toán về chất lượng và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn nhưng tăng vốn chưa đồng nghĩa với tăng trưởng bền vững. Vấn đề đặt ra là khả năng lựa chọn được các dự án có công nghệ cao, năng suất và giá trị gia tăng lớn, sử dụng hiệu quả đất đai, tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước và hình thành các chuỗi sản xuất mới. Đồng thời, yêu cầu huy động mạnh nguồn lực tư nhân, FDI và hợp tác công – tư cũng đặt ra áp lực đổi mới vai trò của Nhà nước, phân bổ nguồn lực, định hướng và kiến tạo môi trường và dẫn dắt các nguồn lực xã hội.
Bốn là, tính liên ngành của kinh tế biển đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương thức quản trị. Phát triển kinh tế biển đồng thời liên quan đến công nghiệp, giao thông, logistics, năng lượng, đô thị, nông nghiệp, thủy sản, tài nguyên – môi trường và nhiều lĩnh vực khác. Trong khi đó, quản lý theo ngành, địa bàn và từng dự án riêng lẻ có nguy cơ dẫn đến phân tán nguồn lực và thiếu đồng bộ trong thực thi. Cùng với đó, quy mô quản trị lớn hơn sau hợp nhất đặt ra yêu cầu ngày càng cao về ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung. Khoảng cách giữa một không gian kinh tế tích hợp và phương thức quản lý còn phân mảnh là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quản trị phát triển tỉnh mới.
Năm là, mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra thách thức lớn về chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển hạ tầng nhanh sẽ gia tăng áp lực lên đất đai, tài nguyên, hệ sinh thái ven biển và hạ tầng xã hội, trong khi mô hình dựa vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp ngày càng tới hạn. Vì vậy, yêu cầu không chỉ là tăng trưởng cao mà phải tạo nền tảng năng suất, công nghệ và sức chống chịu đủ mạnh, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, văn hóa biển và chất lượng sống của người dân địa phương.
4. Giải pháp đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới
Thứ nhất, tỉnh Hưng Yên cần rà soát, tích hợp và điều chỉnh các quy hoạch trên cơ sở không gian phát triển mới. Trên cơ sở đó, xác định rõ chức năng, lợi thế và vai trò của từng khu vực; hình thành cấu trúc phát triển gồm các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế và các không gian chức năng có quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Trong cấu trúc đó, cần xác định Khu kinh tế Thái Bình là hạt nhân của cực tăng trưởng hướng biển, có khả năng liên kết với các trung tâm công nghiệp – đô thị, vùng sản xuất hàng hóa và hệ thống logistics của toàn tỉnh. Định hướng này sẽ giúp chuyển không gian ven biển từ một khu vực phát triển riêng biệt thành một bộ phận có tính dẫn dắt trong cấu trúc kinh tế chung của Hưng Yên.
Thứ hai, lấy hạ tầng giao thông và logistics làm khâu đột phá. Lợi thế biển chỉ thực sự chuyển hóa thành lợi thế kinh tế khi được kết nối hiệu quả với các trung tâm sản xuất và thị trường. Vì vậy, cần hình thành hệ thống giao thông theo hướng “trục xuyên tỉnh hướng biển”, kết nối các khu công nghiệp, đô thị, vùng sản xuất hàng hóa với Khu kinh tế Thái Bình và mạng lưới cảng biển quốc gia, đặc biệt là khu vực Hải Phòng. Đồng thời, phát triển đồng bộ hệ thống logistics gồm cảng sông, cảng cạn, trung tâm phân phối, kho bãi hiện đại và logistics lạnh, gắn với mạng lưới giao thông đường bộ. Việc hoàn thiện hạ tầng giao thông và logistics sẽ rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; qua đó tăng cường liên kết giữa khu vực ven biển với các vùng sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thủy sản, tạo sức lan tỏa của kinh tế biển đến toàn tỉnh.
Thứ ba, cần kiến tạo giá trị mới từ tài nguyên biển và ven biển. Theo đó, cần chuyển từ mục tiêu gia tăng sản lượng sang nâng cao giá trị trên một đơn vị mặt nước, lấy công nghệ, chất lượng và thị trường làm động lực; phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, giống chất lượng cao, kiểm soát môi trường, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và logistics lạnh. Đồng thời, kết nối thủy sản với thế mạnh nông nghiệp, công nghiệp chế biến và hệ thống phân phối của tỉnh để hình thành chuỗi giá trị thủy sản – chế biến – logistics – thị trường, từng bước chuyển từ cung cấp sản phẩm thô sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh của thủy sản tỉnh Hưng Yên trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, quy hoạch không gian biển quốc gia xác định năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới là một trong các nhóm ngành ưu tiên phát triển; đồng thời coi khoa học, công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố đột phá (Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024), vì vậy, tỉnh Hưng Yên cần đánh giá toàn diện tiềm năng, phát triển đồng bộ năng lượng sạch và hạ tầng cung ứng cho các khu công nghiệp, hướng tới trở thành trung tâm năng lượng sạch của vùng, trên cơ sở bảo đảm an ninh năng lượng, hiệu quả kinh tế, bảo vệ hệ sinh thái và phù hợp quy hoạch quốc gia. Đồng thời, khu vực ven biển cần trở thành không gian thử nghiệm kinh tế tuần hoàn, công nghiệp các – bon thấp, quản trị tài nguyên số, quan trắc môi trường thông minh và công nghệ nuôi trồng thủy sản hiện đại.
Thứ năm, cần khai thác có chọn lọc các lợi thế về rừng ngập mặn, bãi sa bồi, cồn đảo, bãi tắm và các giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm và văn hóa – tâm linh. Trong đó, ưu tiên các sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng cao, tăng cường liên kết các điểm đến và nâng cao chất lượng hạ tầng, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển cần đặt trong yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hóa và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương, qua đó nâng cao giá trị và sức hấp dẫn của khu vực ven biển.
Tài liệu tham khảo:
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Mai, T. (23/6/2026). Khởi sắc Khu kinh tế Thái Bình. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/khoi-sac-khu-kinh-te-thai-binh-post971002.html
Quốc hội (2024). Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 36/2017/QĐ-TTg ngày 29/7/2017 về việc thành lập Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 28/10/2019 phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Thái Bình, tỉnh Thái Bình đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1735/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Thái Bình thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.



