Xây dựng mô hình đo lường hai tầng phục vụ phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam

Developing a two-tier measurement model for logistics enterprise development in Vietnam

NCS. ThS. Nguyễn Ngọc Thuyên
Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải (UTT)

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển doanh nghiệp logistics có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận logistics theo từng khía cạnh riêng lẻ, trong khi còn thiếu một khung đo lường tích hợp lấy doanh nghiệp logistics làm trung tâm và phân biệt rõ giữa kết quả phát triển với các yếu tố tác động. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, phân tích chính sách và hai tình huống minh họa từ doanh nghiệp, bài viết cụ thể hóa phát triển doanh nghiệp logistics thành cấu trúc kết quả đa chiều gồm ba thành phần: quy mô phát triển, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh. Từ đó, bài viết đề xuất khung đo lường và phân tích hai tầng: (1) Tầng kết quả được theo dõi bằng các chỉ số đặc thù ngành, như: giao hàng đúng hạn, đủ số lượng (OTIF), chi phí logistics trên doanh thu, tỷ lệ chứng từ điện tử còn tỷ lệ kết nối API/EDI và lượng phát thải CO₂e/tấn-km được tách thành nhóm chỉ số theo dõi quá trình chuyển đổi; (2) Tầng yếu tố tác động gồm điều kiện bên ngoài, năng lực nội tại và chuyển đổi kép. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình đo lường hai tầng, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và tạo nền tảng cho việc xây dựng thang đo, kiểm định mô hình trong các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo; ; đồng thời, đề xuất một số công cụ quản lý nhà nước nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp logistics trong bối cảnh chuyển đổi số và logistics xanh.

Từ khóa: Doanh nghiệp logistics; phát triển doanh nghiệp; mô hình đo lường hai tầng; chuyển đổi số; logistics xanh; dữ liệu logistics; quản lý nhà nước.

Abstract: The development of logistics enterprises plays a vital role in enhancing Vietnam’s national competitiveness and strengthening its participation in global value chains. However, existing studies have primarily examined logistics from isolated perspectives, while lacking an integrated measurement framework that places logistics enterprises at the center and clearly distinguishes development outcomes from their driving factors. Based on a literature review, policy analysis, and two illustrative enterprise cases, this study operationalizes logistics enterprise development as a multidimensional outcome construct comprising three dimensions: development scale, service quality, and competitiveness. On this basis, the study proposes a two-tier measurement and analytical framework: (1) the outcome tier, measured by industry-specific indicators, including On-Time In-Full (OTIF) delivery performance, logistics cost as a percentage of revenue, the proportion of electronic documentation, while API/EDI connectivity and CO₂e emissions per tonne-kilometre are treated as transition-process indicators; and (2) the determinant tier, comprising external conditions, internal capabilities, and dual transformation factors (digital transformation and green logistics). Building on this framework, the study proposes a two-tier measurement model, contributing to the advancement of the theoretical foundation for logistics enterprise development and providing a basis for developing measurement scales and empirically validating the model in future studies, while also proposing state-management tools to support logistics enterprise development amid digital and green transitions.

Keywords: Logistics enterprises; enterprise development; two-tier measurement model; digital transformation; green logistics; logistics data; state management.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, logistics đã trở thành một trong những lĩnh vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao tại Việt Nam, gắn chặt với hoạt động xuất nhập khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại điện tử và phát triển hạ tầng vận tải đa phương thức. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và chuỗi cung ứng toàn cầu không ngừng tái cấu trúc theo hướng số hóa, xanh hóa và nâng cao khả năng chống chịu, năng lực của doanh nghiệp logistics có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí logistics, hiệu quả chuỗi cung ứng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ngày 09/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050, xác định các nhiệm vụ trọng tâm về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng logistics đồng bộ, nâng cao năng lực doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển logistics xanh và vận tải đa phương thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Đây là cơ sở chính sách quan trọng, thể hiện định hướng chuyển trọng tâm phát triển từ mở rộng quy mô thị trường sang nâng cao năng lực của doanh nghiệp logistics.

Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục tiêu của Chiến lược phụ thuộc trực tiếp vào năng lực phát triển của doanh nghiệp logistics. Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp logistics trong nước vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, công nghệ và quản trị còn hạn chế; khả năng cung cấp dịch vụ logistics tích hợp, liên kết mạng lưới và thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số, logistics xanh chưa đồng đều. Điều đó đặt ra yêu cầu, cần phải nhận diện đầy đủ các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp logistics, tạo cơ sở khoa học cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách phát triển ngành.

Về phương diện học thuật, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập nhiều khía cạnh liên quan đến doanh nghiệp logistics như năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số, logistics xanh hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ, thiếu một mô hình tích hợp lấy doanh nghiệp logistics làm trung tâm; đồng thời, chưa phân định rõ giữa các yếu tố tác động và kết quả phát triển trong một cấu trúc đo lường thống nhất. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu, như: Chỉ số năng lực logistics (LPI), tỷ lệ chi phí logistics trên GDP hay quy mô thị trường chủ yếu phản ánh năng lực logistics ở cấp quốc gia chưa đánh giá được mức độ phát triển của doanh nghiệp logistics với tư cách là chủ thể trực tiếp cung ứng dịch vụ.

Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết đề xuất mô hình đo lường hai tầng phục vụ phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam. Theo đó, khái niệm phát triển doanh nghiệp logistics được thao tác hóa như một cấu trúc kết quả đa chiều gồm ba thành phần: (1) Quy mô phát triển; (2) Chất lượng dịch vụ; (3) Năng lực cạnh tranh; các yếu tố tác động, gồm điều kiện bên ngoài, năng lực nội tại của doanh nghiệp và chuyển đổi kép (chuyển đổi số, logistics xanh). Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng mô hình đo lường hai tầng và hệ giả thuyết nghiên cứu, tạo nền tảng cho việc phát triển thang đo, kiểm định mô hình trong các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo; đồng thời, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam.

2. Cách tiếp cận, nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính theo hướng xây dựng khung lý thuyết, kết hợp tổng quan tài liệu, phân tích, so sánh và tổng hợp. Nguồn tài liệu nghiên cứu gồm ba nhóm: (1) Các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược và kế hoạch của Nhà nước về phát triển dịch vụ logistics, chuyển đổi số và logistics xanh; (2) Các báo cáo chuyên ngành, gồm Báo cáo Logistics Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 và LPI của Ngân hàng Thế giới; (3) Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển doanh nghiệp logistics, năng lực doanh nghiệp, chuyển đổi số và logistics xanh…

Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các tài liệu, bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định khoảng trống nghiên cứu, thao tác hóa khái niệm phát triển doanh nghiệp logistics, phân loại các nhóm yếu tố tác động; đồng thời, đề xuất khung đo lường và phân tích theo cấu trúc hai tầng. Vì vậy, mô hình được xây dựng làm cơ sở cho việc phát triển thang đo và kiểm định trong các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

Để minh họa khả năng vận dụng của mô hình, bài viết lựa chọn hai doanh nghiệp là Viettel Post và Tân Cảng Sài Gòn theo phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích. Việc lựa chọn hai doanh nghiệp này nhằm đối chiếu với khung nghiên cứu đề xuất, không nhằm khái quát hóa kết quả cho toàn bộ doanh nghiệp logistics tại Việt Nam.

3. Cơ sở lý thuyết và đề xuất khung đo lường, phân tích hai tầng phục vụ phát triển doanh nghiệp logistics

Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”1. Trên cơ sở quy định này, doanh nghiệp logistics được hiểu là doanh nghiệp cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ trong chuỗi logistics. Điểm khác biệt giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp vận tải đơn thuần không chỉ nằm ở hoạt động vận chuyển mà còn ở khả năng tổ chức, phối hợp dòng hàng hóa, dòng thông tin, chứng từ, thời gian giao nhận và đáp ứng yêu cầu dịch vụ của khách hàng.

Phát triển doanh nghiệp logistics không chỉ được phản ánh qua sự gia tăng số lượng doanh nghiệp hoặc doanh thu mà là quá trình phát triển toàn diện về quy mô hoạt động, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, doanh nghiệp cần đồng thời mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường năng lực cạnh tranh để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu liên quan, bài viết cụ thể hóa phát triển doanh nghiệp logistics thành cấu trúc kết quả đa chiều gồm ba thành phần: (1) Quy mô phát triển, phản ánh sự mở rộng về doanh thu, khách hàng, đơn hàng, phạm vi hoạt động và tỷ trọng dịch vụ tích hợp; (2) Chất lượng dịch vụ, phản ánh mức độ giao hàng đúng hạn, đủ số lượng, tính minh bạch, khả năng giảm sai sót và vận hành theo thời gian thực; (3) Năng lực cạnh tranh, phản ánh hiệu quả chi phí, năng suất lao động, khả năng cung cấp dịch vụ 3PL/4PL và tham gia các phân khúc logistics có giá trị gia tăng cao. Ba thành phần này phản ánh kết quả phát triển của doanh nghiệp và được phân biệt với các nguồn lực đầu vào, như: tài chính, nhân lực hay công nghệ – những yếu tố giữ vai trò tác động đến quá trình phát triển.

Việc xác định các yếu tố tác động được xây dựng trên cơ sở kế thừa các lý thuyết và hướng tiếp cận chủ yếu trong nghiên cứu doanh nghiệp logistics. Theo Barney (1991)2, lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp được hình thành từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và khó thay thế; tiếp đó, Teece, Pisano và Shuen (1997)3 nhấn mạnh năng lực động, tức khả năng thích ứng và tái cấu trúc các nguồn lực trong môi trường biến động, là nhân tố quyết định khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Ở góc độ môi trường kinh doanh, North (1990)4 cho rằng, thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, trong khi Gulati (1998)5 khẳng định, vai trò của mạng lưới liên kết và hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về logistics 4.0 và logistics xanh đều cho thấy, chuyển đổi số và phát triển bền vững đang trở thành những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics.

 Trên cơ sở các cách tiếp cận này, bài viết phân chia các yếu tố tác động thành ba nhóm gồm: (1) Điều kiện bên ngoài (thể chế, hạ tầng, thủ tục, thị trường và chuẩn dữ liệu); (2) Năng lực nội tại của doanh nghiệp (tài chính, nhân lực, quy trình, công nghệ và mạng lưới); (3) Chuyển đổi kép (chuyển đổi số và logistics xanh).

Để làm rõ cơ sở của việc tách riêng nhóm chuyển đổi kép, cần phân biệt năng lực công nghệ với chuyển đổi số, cũng như phân biệt logistics xanh với các hoạt động đầu tư công nghệ đơn lẻ. Theo Cichosz, Wallenburg và Knemeyer (2020)6, chuyển đổi số là quá trình đổi mới mô hình quản trị và tổ chức hoạt động trên nền tảng công nghệ số, trong đó năng lực công nghệ là điều kiện cần nhưng không đồng nhất với chuyển đổi số. Bên cạnh đó, Jazairy, von Haartman và Björklund (2021)7 nhấn mạnh logistics xanh là cách tiếp cận toàn diện, bao gồm tối ưu hóa vận tải, quản trị năng lượng, đo lường phát thải và tăng cường hợp tác trong chuỗi logistics nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Vì vậy, trong nghiên cứu này, chuyển đổi số và logistics xanh được xác định là nhóm yếu tố tác động có khả năng thúc đẩy kết quả phát triển của doanh nghiệp logistics, thay vì được xem là các thành phần phản ánh trực tiếp kết quả phát triển.

Từ cơ sở lý thuyết trên, bài viết đề xuất khung đo lường và phân tích hai tầng phục vụ phát triển doanh nghiệp logistics.

Tầng thứ nhất phản ánh kết quả phát triển của doanh nghiệp thông qua ba thành phần: quy mô phát triển, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh; các thành phần này được theo dõi bằng hệ thống chỉ số đặc thù của ngành, như: OTIF, chi phí logistics trên doanh thu, tỷ lệ chứng từ điện tử trong khi các chỉ số về số hóa và xanh hóa, như tỷ lệ kết nối API/EDI và lượng phát thải CO₂e/tấn-km, được tách thành nhóm chỉ số theo dõi quá trình chuyển đổi.

Tầng thứ hai phản ánh các yếu tố tác động gồm điều kiện bên ngoài, năng lực nội tại của doanh nghiệp và chuyển đổi kép; trong đó năng lực nội tại và chuyển đổi kép giữ vai trò chuyển hóa tác động của các điều kiện bên ngoài thành kết quả phát triển của doanh nghiệp. Khung đo lường và phân tích này mang tính khái niệm, tạo cơ sở cho việc xây dựng bộ chỉ số theo dõi, phát triển hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và kiểm định mô hình trong các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo, được khái quát tại Sơ đồ 1.

Trên cơ sở khung nghiên cứu này, các thang đo và giả thuyết nghiên cứu sẽ được chuẩn hóa và kiểm định bằng các phương pháp định lượng phù hợp trong các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

4. Bộ chỉ số theo dõi và đối chiếu với thực tiễn

Do đặc thù của hoạt động logistics là sự phối hợp đồng thời giữa nhiều chủ thể trong chuỗi cung ứng, như: chủ hàng, hãng tàu, cảng, kho bãi, hải quan, ngân hàng, doanh nghiệp vận tải và khách hàng, nên kết quả phát triển của doanh nghiệp logistics không thể đánh giá chỉ bằng các chỉ tiêu đầu vào hoặc đầu ra thông thường. Vì vậy, khung đo lường hai tầng được cụ thể hóa bằng hệ thống chỉ số phản ánh đồng thời kết quả phát triển của doanh nghiệp và quá trình chuyển đổi số, logistics xanh. Bảng 1 đề xuất bộ chỉ số theo dõi, gồm hai nhóm: (1) Nhóm chỉ số kết quả phát triển; (2) Nhóm chỉ số theo dõi quá trình chuyển đổi.

Bảng 1. Gợi ý bộ chỉ số theo dõi phát triển và chuyển đổi của doanh nghiệp logistics

Nhóm chỉ sốChỉ số/KPI gợi ýVai trò trong khungÝ nghĩa quản lý
A. Chỉ số kết quả phát triển
Quy mô và khả năng mở rộngDoanh thu dịch vụ logistics; số khách hàng; số đơn hàng; phạm vi địa bàn; tỷ trọng dịch vụ tích hợpĐo thành phần quy mô phát triển (tầng kết quả)Theo dõi cả mức tăng trưởng và khả năng dịch chuyển khỏi dịch vụ đơn lẻ
Chất lượng dịch vụ, vận hànhOTIF (giao đúng hạn, đủ hàng); tỷ lệ hư hỏng, khiếu nại; thời gian xử lý đơn hàng; mức độ tracking; tỷ lệ chứng từ điện tửĐo thành phần chất lượng dịch vụ (tầng kết quả)Phản ánh độ tin cậy, tính minh bạch và năng lực vận hành theo thời gian thực
Hiệu quả và năng lực cạnh tranhChi phí logistics trên doanh thu; năng suất lao động; tỷ lệ xe chạy rỗng; khả năng cung cấp 3PL/4PL; khách hàng lớn, quốc tếĐo thành phần năng lực cạnh tranh (tầng kết quả)Cho thấy khả năng tạo giá trị, giảm chi phí tương đối và tham gia phân khúc giá trị cao
B. Chỉ số quá trình chuyển đổi
Số hóaTỷ lệ kết nối API/EDI; tỷ lệ e-DO, e-BL, e-invoice (lệnh giao hàng, vận đơn, hóa đơn điện tử)Theo dõi quá trình chuyển đổi số (tầng yếu tố tác động)Đo mức độ liên thông dữ liệu; không thay thế các chỉ số kết quả phát triển
Xanh hóaCO2e/tấn-km; tiêu hao nhiên liệu; tỷ lệ kho, phương tiện đạt tiêu chuẩn xanhTheo dõi quá trình xanh hóa (tầng yếu tố tác động)Theo dõi mức cải thiện phát thải và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn bền vững
Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2025.

Các chỉ số trong Bảng 1 vừa phản ánh mức độ phát triển của doanh nghiệp logistics, vừa hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước theo dõi hiệu quả thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035. Trong đó, nhóm chỉ số kết quả cho biết mức độ mở rộng quy mô, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; nhóm chỉ số quá trình phản ánh mức độ chuyển đổi số và logistics xanh – những yếu tố có tác động đến kết quả phát triển nhưng không thay thế các chỉ số kết quả.

Thực tiễn phát triển logistics tại Việt Nam cho thấy, sự cần thiết của cách tiếp cận này. Theo Chỉ số năng lực logistics (LPI) năm 2023, Việt Nam đạt 3,3 điểm và xếp thứ 43/139 nền kinh tế8. Tuy nhiên, LPI chủ yếu phản ánh năng lực logistics ở cấp quốc gia chưa đánh giá được mức độ phát triển của từng doanh nghiệp logistics. Trong khi đó, chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức khoảng 16 – 17% GDP9; phần lớn doanh nghiệp logistics có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính, công nghệ, nhân lực và liên kết mạng lưới còn hạn chế, nhất là trong cung cấp các dịch vụ logistics tích hợp, 3PL/4PL, fulfillment và logistics quốc tế10. Điều đó cho thấy, việc theo dõi quy mô thị trường là chưa đủ mà cần có hệ thống chỉ số phản ánh trực tiếp năng lực phát triển của doanh nghiệp logistics.

Khả năng vận dụng khung đo lường cũng được minh họa thông qua hai doanh nghiệp tiêu biểu. Viettel Post đã từng bước đầu tư trung tâm phân loại tự động, ứng dụng AI và phát triển dịch vụ fulfillment, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành và chất lượng dịch vụ11. Tân Cảng Sài Gòn triển khai các nền tảng ePort, eDO và eBooking, góp phần rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí giao dịch và tăng cường kết nối dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng12. Các minh chứng này góp phần làm rõ rằng, chuyển đổi số và logistics xanh là nhóm yếu tố tác động, tạo động lực nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, thay vì là các thành phần phản ánh trực tiếp kết quả phát triển của doanh nghiệp logistics.

5. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển doanh nghiệp logistics

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống theo dõi và đánh giá doanh nghiệp logistics trên cơ sở dữ liệu thống nhất. Các cơ quan quản lý cần xây dựng bộ dữ liệu theo dõi doanh nghiệp logistics hằng năm với các nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả phát triển, năng lực doanh nghiệp, mức độ chuyển đổi số và logistics xanh. Trong đó, cần ưu tiên các chỉ số đặc thù, như: tỷ lệ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL/4PL, OTIF, tỷ lệ chứng từ điện tử, tỷ lệ theo dõi đơn hàng theo thời gian thực và lượng phát thải khí nhà kính. Việc thu thập, chia sẻ và khai thác dữ liệu cần bảo đảm thống nhất, đồng bộ và tuân thủ các quy định của pháp luật về dữ liệu, tạo cơ sở chuyển từ quản lý dựa trên kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu và bằng chứng.

Thứ hai, từng bước triển khai mô hình logistics số – xanh tại các khu vực trọng điểm. Việc triển khai cần ưu tiên tại các cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics và cửa khẩu có lưu lượng hàng hóa lớn, tập trung vào kết nối dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi logistics, mở rộng sử dụng chứng từ điện tử và theo dõi phát thải trong quá trình vận chuyển. Đây vừa là cơ sở để đánh giá hiệu quả của chuyển đổi số và logistics xanh, vừa góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý hoạt động logistics.

Thứ ba, đổi mới cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng gắn với kết quả thực hiện. Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần được thiết kế trên cơ sở các mục tiêu nâng cao năng lực cụ thể và được theo dõi thông qua các chỉ số trước và sau khi thực hiện, như: mức độ sử dụng chứng từ điện tử, khả năng theo dõi đơn hàng theo thời gian thực, tỷ lệ xe chạy rỗng, mức tiêu hao nhiên liệu và lượng phát thải khí nhà kính. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ và tăng cường khả năng đánh giá kết quả thực hiện.

Thứ tư, thúc đẩy kết nối và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái logistics. Nhà nước cần xây dựng và ban hành các chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối phục vụ trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp logistics với cảng biển, hải quan, kho bãi, doanh nghiệp vận tải và các chủ thể liên quan. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý, phân quyền truy cập và bảo đảm an toàn dữ liệu, tạo điều kiện cho việc hình thành hệ sinh thái logistics số có tính liên thông và đồng bộ.

Thứ năm, từng bước hoàn thiện cơ chế theo dõi và đánh giá phát thải trong hoạt động logistics. Cần xây dựng hướng dẫn thống nhất về phương pháp đo lường phát thải khí nhà kính trong hoạt động logistics; đồng thời, từng bước đưa các chỉ số phát thải vào hệ thống theo dõi doanh nghiệp logistics. Đây sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ chuyển đổi xanh của doanh nghiệp, hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Các đề xuất trên được cụ thể hóa theo chủ thể thực hiện, điều kiện triển khai và kết quả cần theo dõi như trình bày tại Bảng 2.

Bảng 2. Công cụ chính sách đề xuất theo chủ thể thực hiện

Công cụCơ quan/chủ thể chủ trìĐiều kiện thực hiệnKết quả cần đo
Bộ dữ liệu doanh nghiệp logisticsBộ Công Thương phối hợp Bộ Tài chính (thống kê, hải quan), địa phươngChuẩn phân lớp doanh nghiệp; biểu mẫu dữ liệu tối thiểu; cập nhật hằng năm; Nghị định số 165/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dữ liệuSố lượng, cấp độ dịch vụ, OTIF, tỷ lệ e-docs, tracking, năng lực xanh – số
Thí điểm logistics số – xanhBộ Công Thương, Bộ Tài chính/Hải quan, Bộ Xây dựng, địa phương trọng điểmDanh mục chứng từ điện tử; cơ chế công nhận dữ liệu; phân quyền truy cập; quản lý rủi roThời gian xử lý chứng từ, thời gian chờ, tỷ lệ thủ tục trực tuyến, chi phí phát sinh
Gói hỗ trợ xanh – số có điều kiệnBộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Quỹ Bảo vệ môi trường, ngân hàng thương mạiDự án nâng cấp cụ thể; hồ sơ dữ liệu trước – sau; cam kết KPIGiảm nhiên liệu, giảm xe rỗng, tăng tỷ lệ tracking/e-docs, giảm phát thải ước tính
Chuẩn API logisticsBộ Công Thương phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, hải quan, doanh nghiệp cảng/kho/nền tảngBộ chuẩn dữ liệu tối thiểu; quy định bảo mật; trách nhiệm cập nhật dữ liệu; phân quyền khai thác theo pháp luật về dữ liệuTỷ lệ kết nối hệ thống, số giao dịch điện tử, mức độ khai thác dữ liệu của SME
Lộ trình phát thải logisticsBộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, hiệp hội ngànhHướng dẫn tính CO2e; giai đoạn tự nguyện; cơ chế chuyển tiếp cho SMECO2e/tấn-km, tiêu hao nhiên liệu, tỷ lệ phương tiện/kho đáp ứng chuẩn
Nguồn: Tác giả đề xuất.

6. Kết luận

Phát triển doanh nghiệp logistics là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics và tăng cường khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu của Việt Nam. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và phân tích thực tiễn, bài viết đã cụ thể hóa khái niệm phát triển doanh nghiệp logistics thành cấu trúc kết quả đa chiều, gồm: quy mô phát triển, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh; đồng thời, phân định rõ các nhóm yếu tố tác động, như: điều kiện bên ngoài, năng lực nội tại của doanh nghiệp và chuyển đổi kép (chuyển đổi số, logistics xanh). Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung đo lường và phân tích hai tầng cùng hệ thống chỉ số theo dõi, góp phần hoàn thiện cách tiếp cận nghiên cứu và tạo cơ sở cho việc đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp logistics ở cấp doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để đề xuất một số nội dung, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển doanh nghiệp logistics, trọng tâm là hoàn thiện hệ thống dữ liệu và bộ chỉ số theo dõi, thúc đẩy kết nối và chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ chuyển đổi số và logistics xanh. Đồng thời, từng bước hoàn thiện các công cụ quản lý phục vụ theo dõi, đánh giá và hỗ trợ doanh nghiệp. Các đề xuất này có thể được nghiên cứu, vận dụng phù hợp trong quá trình triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Chú thích:
1. Quốc hội (2005). Điều 233 Luật Thương mại năm 2005.
2. Barney, J. (1991). Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
3. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic Capabilities and Strategic Management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533.
4. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press.
5. Gulati, R. (1998). Alliances and Networks. Strategic Management Journal, 19(4), 293-317.
6. Cichosz, M., Wallenburg, C. M., & Knemeyer, A. M. (2020). Digital transformation at logistics service providers: barriers, success factors and leading practices. The International Journal of Logistics Management, 31(2), 209-238. https://doi.org/10.1108/IJLM-08-2019-0229
7. Jazairy, A., von Haartman, R., & Björklund, M. (2021). Unravelling collaboration mechanisms for green logistics: The perspectives of shippers and logistics service providers. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, 51(4), 423-448. https://doi.org/10.1108/IJPDLM-09-2019-0274
8. Arvis, J.-F., Ojala, L., Shepherd, B., Ulybina, D., & Wiederer, C. (2023). Connecting to Compete 2023: Trade Logistics in an Uncertain Global Economy – The Logistics Performance Index and Its Indicators. Washington, DC: World Bank.
9. Cổng thông tin logistics Việt Nam (2024). Tối ưu cho logistics, ngày 11/3/2024. https://logistics.gov.vn/, truy cập ngày 09/7/2026.
10. Bộ Công Thương (2021). Báo cáo Logistics Việt Nam 2021: Phát triển nhân lực logistics. H. NXB Công Thương.
11. Viettel Post (2025). Báo cáo thường niên năm 2024. Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel.
12. Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn (2025). Tân Cảng Sài Gòn – Kiến tạo hệ sinh thái logistics xanh, kết nối bền vững toàn cầu, ngày 10/10/2025. https://saigonnewport.com.vn/tin-tuc/tin-tuc-chuyen-nganh/tan-cang-sai-gon-kien-tao-he-sinh-thai-logistics-xanh-ket-noi-ben-vung-toan-cau.html.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2017). Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 165/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dữ liệu.
3. Bộ Công Thương (2021, 2023). Báo cáo Logistics Việt Nam 2021, 2023: Chuyển đổi số trong logistics. H. NXB Công Thương.
4. Bộ Công Thương (2022). Báo cáo Logistics Việt Nam 2022: Logistics xanh. H. NXB Công Thương.
5. Bộ Công Thương (2024). Báo cáo Logistics Việt Nam 2024: Khu thương mại tự do. H. NXB Công Thương.
6. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025: Logistics thông minh. H. NXB Công Thương.
7. Bộ Công Thương (2026). Quyết định số 458/QĐ-BCT ngày 13/3/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
8. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 09/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
10. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu số năm 2024.
11. Nguyễn Thị Dung, Vũ Thị Hải Anh, & Nguyễn Ngọc Thuyên (2025). Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam. Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông, 5(2), 90 – 98. https://doi.org/10.58845/jstt.utt.2025.vn.5.2.90-98
12. Dịch vụ Logistics và bến bãi tại Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/16/dich-vu-logistics-va-ben-bai-tai-khu-kinh-te-cua-khau-dong-dang-lang-son/
13. Xu hướng chuyển đổi số của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong thời đại 4.0. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/15/xu-huong-chuyen-doi-so-cua-cac-doanh-nghiep-logistics-viet-nam-trong-thoi-dai-4-0/
14. Giải pháp phát triển logistic thương mại điện tử ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/26/giai-phap-phat-trien-logistic-thuong-mai-dien-tu-o-viet-nam/
15. Christopher, M. (2016). Logistics and Supply Chain Management (5th ed.). Harlow: Pearson.
16. Winkelhaus, S., & Grosse, E. H. (2020). Logistics 4.0: A systematic review towards a new logistics system. International Journal of Production Research, 58(1), 18-43. https://doi.org/10.1080/00207543.2019.1612964