Hoàn thiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ với sản phẩm khởi nghiệp của sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học

Strengthening intellectual property governance for student startup innovations in higher education institutions

ThS. Bùi Đức Thịnh
Trường Đại học Thành Đô
Email: Bdthinh@thanhdouni.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ VIII năm 2026, với chủ đề “Khởi nghiệp từ trường học, tăng tốc đổi mới sáng tạo, vươn mình cùng đất nước” đã đánh dấu những chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của toàn ngành giáo dục. Dự án khởi nghiệp của sinh viên phát triển từ các đề tài nghiên cứu khoa học hoặc phòng thí nghiệm của trường có đặc thù về tỷ lệ sở hữu trí tuệ giữa sinh viên và nhà trường hoặc giảng viên hướng dẫn; điều này có thể dẫn đến tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ do khái niệm “tài sản của trường” và “tài sản của sinh viên” hiện nay chưa được phân định rõ ràng. Do đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động khởi nghiệp của sinh viên tại các cơ sở giáo dục hiện nay sẽ giúp thương mại hóa các sáng kiến, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường học.

Từ khóa: Dự án khởi nghiệp, học sinh, sinh viên, quản lý, sở hữu trí tuệ, tranh chấp.

Abstract: The 8th National Entrepreneurship Festival for High School and College Students in 2026, with the theme “Entrepreneurship from School, Accelerating Innovation, and Growing Alongside the Nation,” marked significant shifts in awareness and action across the entire education sector. Student startup projects that stem from school-based scientific research topics or laboratory work have a unique characteristic regarding the division of intellectual property rights between students and the school or their academic advisors; this can lead to disputes over intellectual property rights because the concepts of “school property” and “student property” are not yet clearly defined. Therefore, government oversight of student startup activities at educational institutions will help commercialize these initiatives, protect legal rights, and foster an innovation ecosystem within schools.

Keywords: Startup projects; students; management; intellectual property; disputes.

1. Đặt vấn đề

Ngày nay, các quốc gia thể hiện năng lực cạnh tranh ở khả năng tạo ra tri thức mới và chuyển hóa tri thức đó thành giá trị kinh tế – xã hội. Điều này đòi hỏi ngành Giáo dục cần thay đổi căn bản trong chiến lược giáo dục và đào tạo với sứ mệnh của một hệ thống tạo giá trị gia tăng trực tiếp cho nền kinh tế. Trên tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024) và Nghị quyết số 71-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2025), Quyết định số 336 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 – 2035 (Thủ tướng Chính phủ, 2026); Nghị quyết số 86 của Chính phủ về chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo (Chính phủ, 2026); Quyết định số 1112/QĐ-BGDĐT ngày 11/5/2026 kèm theo Kế hoạch triển khai Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 – 2035” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026) của ngành Giáo dục cho thấy, Nhà nước đang tạo nền tảng động lực để chuyển đổi mô hình giáo dục: từ tiếp cận tri thức sang kiến tạo tri thức; từ cung cấp đầu vào lao động sang trực tiếp tham gia vào tăng trưởng GDP quốc gia.

Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 – 2035” điều chỉnh theo hướng chuyển từ hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp riêng lẻ sang hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong ngành giáo dục; từ hỗ trợ phong trào sang tăng cường chuẩn hóa, chuyển đổi số, gắn trách nhiệm tổ chức thực hiện với nguồn lực và hiệu quả triển khai. Điểm nhấn của Chương trình là bổ sung các nhiệm vụ liên quan cơ chế thí điểm có kiểm soát đối với mô hình doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo; hướng dẫn thực hiện các quy định về xác lập, quản lý, chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích đối với sản phẩm nghiên cứu, dự án khởi nghiệp của nhà giáo và người học.

Các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp trở thành những mắt xích trung tâm, là hạ tầng chiến lược – nơi tri thức được tạo ra, thử nghiệm và thương mại hóa; điều này hình thành mối liên quan mật thiết với nhà trường như hỗ trợ của giảng viên, cơ sở vật chất, ngân sách của nhà trường với sản phẩm trí tuệ của dự án khởi nghiệp. Chương trình cũng yêu cầu bảo đảm “6 rõ” trong tổ chức thực hiện: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ nguồn lực – đây là cách tiếp cận góp phần giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ bằng sự minh bạch pháp lý và các thỏa thuận bằng văn bản ngay từ đầu để tránh các rủi ro đáng tiếc. Hoàn thiện thể chế pháp lý không những hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp mà còn tạo môi trường khởi nghiệp minh bạch, thúc đẩy phong trào khởi nghiệp của sinh viên ngay từ ghế nhà trường. Vấn đề này cần được nhìn nhận từ cả phía sinh viên và nhà trường và các văn bản hướng dẫn cụ thể của Nhà nước.

2. Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Tổng quan tài liệu

Mars, Slaughter & Rhoades định nghĩa sinh viên khởi nghiệp là những sinh viên sử dụng “lớp học và phòng thí nghiệm như những nền tảng, nguồn lực và sự hỗ trợ để xây dựng các sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ có thể bán được trên thị trường” (Mars, Slaughter & Rhoades, 2008).

Khởi sự kinh doanh là việc tự mở một doanh nghiệp dựa trên các mô hình và ý tưởng đã có sẵn với mục tiêu tạo ra lợi nhuận ổn định. Ngược lại, khởi nghiệp là quá trình tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, mang tính đột phá nhằm giải quyết một vấn đề lớn và hướng tới sự tăng trưởng quy mô theo cấp số nhân. Đối với một công ty khởi nghiệp, để có sự đột phá và tính mới cần một lượng tài chính lớn đầu tư cho nghiên cứu. Các công ty khởi nghiệp do sinh viên đại học thành lập nhận được sự hỗ trợ tài chính đáng kể từ trường đại học. Các khoản tiền được xem xét trong khía cạnh này là các khoản tiền mà các trường đại học cung cấp cho các công ty khởi nghiệp không chỉ dành riêng cho quỹ nghiên cứu mà còn nhằm giảm chi phí phát triển và vận hành. Các trường đại học đã hỗ trợ và đầu tư đáng kể vào các công ty khởi nghiệp của sinh viên thông qua các chương trình tăng tốc (Breznitz & Zhang, 2019).

Các hoạt động khởi nghiệp do sinh viên thực hiện được khẳng định là kết quả của sự tương tác đồng thời giữa các giá trị xã hội và các thuộc tính cá nhân, trong đó môi trường đại học và sự hỗ trợ từ cộng đồng, xã hội hoặc các tổ chức được coi là các giá trị xã hội. Các thuộc tính cá nhân bao gồm định hướng, ý định và động lực của sinh viên để trở thành doanh nhân, tạo ra cơ hội việc làm cho người khác và tăng thêm giá trị cho doanh nghiệp của họ (Bosma và cộng sự, 2020). Ngoài ra, các yếu tố có thể cải thiện kỹ năng khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm giáo dục khởi nghiệp, sự hỗ trợ từ các chuyên gia bên ngoài, và hệ sinh thái đại học có thể tác động tích cực đến các hoạt động khởi nghiệp của sinh viên (Bazan và cộng sự, 2019). Ở hầu hết các quốc gia, giáo dục đại cương dài hạn hướng đến phát triển nhân cách quốc gia, dẫn đến việc sinh viên thiếu nhận thức về khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới, giáo dục khởi nghiệp chắc chắn sẽ giúp những sinh viên sẽ hoặc đang học khởi nghiệp ở bậc đại học phù hợp với điều kiện của bản thân và các nhu cầu khác nhau về kiến ​​thức và khả năng, thúc đẩy nhà trường hoàn thành nhiệm vụ đào tạo nhân tài.

Julien Marchand & Antoine Hermens cho rằng, sinh viên khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là sinh viên tham gia các lớp học về khởi nghiệp mà còn là người điều hành một doanh nghiệp trong/gần khuôn viên trường đồng thời tham gia các khóa học chính quy cấp bằng của trường đại học. Để làm rõ hơn định nghĩa về hiện tượng sinh viên khởi nghiệp, doanh nghiệp đó phải mang tính đổi mới (không phải là sự sao chép của một doanh nghiệp truyền thống) và ít nhất phải ở giai đoạn ươm tạo/khởi nghiệp (tạo ra doanh thu). Do đó, định nghĩa về sinh viên khởi nghiệp trong chương trình nghiên cứu này như sau: Sinh viên khởi nghiệp là cá nhân tham gia các lớp học cấp bằng tại trường đại học và thực hiện các hoạt động khởi nghiệp mang tính đổi mới và tạo ra doanh thu (Julien Marchand & Antoine Hermens, 2014).

Lâm Thị Kim Liên (2019) đã quan tâm nghiên cứu về khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam và đưa ra khái niệm “Khởi nghiệp trong sinh viên là hoạt động của sinh viên hoặc nhóm sinh viên tận dụng cơ hội thị trường và năng lực bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới, mang tính sáng tạo cao nhằm tạo ra giá trị cho bản thân sinh viên và xã hội”. Tác giả cho rằng, khởi nghiệp trong sinh viên có đặc điểm nổi bật là đối tượng khởi nghiệp có sức trẻ, sáng tạo, được đào tạo bài bản nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm; muốn tham gia khởi nghiệp để khẳng định bản thân; thường ít chú trọng đến nghiên cứu thị trường và gặp khó khăn về nguồn vốn. Hoạt động khởi nghiệp có vai trò góp phần giúp sinh viên phát triển các kỹ năng, như sáng tạo, đổi mới, chủ động, trách nhiệm, khả năng đối phó với rủi ro và độc lập thông qua việc học tập trong thực tế.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Về thu thập dữ liệu: Nghiên cứu dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu đã được công bố về kết quả triển khai Đề án 1665 và Luật Sở hữu trí tuệ. Từ đó, đánh giá tình hình triển khai Đề án 1665, kết quả khởi nghiệp của học sinh sinh viên, các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành cùng các văn bản hướng dẫn; mức độ phù hợp và rào cản của chính sách quản lý nhà nước đối với các dự án khởi nghiệp trong nhà trường.

Về xử lý dữ liệu: Sau khi tổng hợp được bộ dữ liệu từ các nguồn trên, tác giả áp dụng các phương pháp thống kê mô tả như sử dụng biểu đồ, bảng biểu để tổng hợp, đánh giá kết quả triển khai Đề án 1665. Đánh giá việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ chính thức cho các dự án khởi nghiệp tại các cơ sở giáo dục, rào cản trong việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ sản phẩm dự án khởi nghiệp. Điều này giúp tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ với sản phẩm khởi nghiệp của sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học

3. Kết quả thực hiện Đề án“Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”

Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” được ban hành theo Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ và do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện đã đạt các kết quả nổi bật trong quá trình triển khai, như sau (xem Bảng 1):

Bảng 1: Tổng hợp kết quả triển khai đề án 1665 giai đoạn 2020-2024

Tiêu chí đánh giáKết quả ghi nhận
Vốn và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp10 cơ sở đào tạo đã thành lập Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên (chủ yếu hỗ trợ các hoạt động ươm tạo, sản xuất thử nghiệm). 12 doanh nghiệp khởi nghiệp gọi được vốn từ các nhà đầu tư, trong đó mức vốn lớn nhất đạt 1 tỷ đồng/dự án. Nhiều dự án đoạt giải tại Cuộc thi SV.STARTUP nhận được đầu tư từ Nhà nước và triển khai sản xuất tại một số địa phương.
Không gian làm việc chung và cơ sở hạ tầng hỗ trợ khởi nghiệp110 cơ sở đào tạo bố trí không gian làm việc chung hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên (tăng 20 cơ sở so với năm 2023). 50 cơ sở đào tạo thành lập Trung tâm Hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp (tăng 5 cơ sở so với năm 2023). 60% trường đại học thành lập được các câu lạc bộ khởi nghiệp theo lĩnh vực ưu tiên dựa trên thế mạnh của trường.
Đào tạo, tập huấn kỹ năng, tuyên truyền về khởi nghiệp58% cơ sở giáo dục đại học đưa khởi nghiệp thành môn học bắt buộc hoặc tự chọn (tối thiểu 2 tín chỉ/môn); một số trường cao đẳng sư phạm đưa thành môn tự chọn. 75% cơ sở đào tạo tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên. 100% cơ sở giáo dục đại học xây dựng chương trình truyền cảm hứng khởi nghiệp qua diễn đàn, Tuần sinh hoạt công dân đầu khóa. 90% học sinh Trung học phổ thông, sinh viên được tuyên truyền, trang bị kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp trước khi tốt nghiệp. 100% cơ sở giạo đại học & giáo dục nghề nghiệp có kế hoạch triển khai công tác hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ, chuyển giao và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp80% dự án tham gia SV.STARTUP đã có sản phẩm; 20% dự án ở mức ý tưởng hoặc sản xuất thử. Các dự án khả thi được các trường hỗ trợ chuyển giao cho cộng đồng hoặc tiếp tục ươm tạo. Xấp xỉ 300 doanh nghiệp khởi nghiệp/khởi nguồn do các cơ sở giáo dục đại học ươm tạo tính từ năm 2020 đến 2024. Nhiều dự án của học sinh, sinh viên chuyển sang giai đoạn có lãi với doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng ấn tượng.
Kết nối mạng lưới doanh nghiệp, quỹ đầu tư và hệ sinh thái khởi nghiệpTổ chức 7 lần cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp”, thu hút tổng cộng:
– 2.239 dự án từ các cơ sở giáo dục đại học.
– 4.598 ý tưởng/dự án trong giáo dục nghề nghiệp.
– 1.299 dự án từ các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở. 50% các trường đại học/học viện tự tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp cấp trường (trung bình 10 – 20 dự án/trường/năm). 100% Sở Giáo dục và Đào tạo có học sinh tham gia cuộc thi quốc gia; nhiều địa phương tổ chức riêng cuộc thi. Kết nối hiệu quả các doanh nghiệp và quỹ đầu tư tham gia cố vấn, đánh giá, tài trợ và tiếp nhận công nghệ chuyển giao. Tổ chức chuỗi hội thảo, diễn đàn giao lưu doanh nhân, trình diễn công nghệ cao và kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp.
Số lượng dự án và tuyên dương, khen thưởng• Số lượng dự án khởi nghiệp giai đoạn 2020 – 2024:
– Khối đại học: 33.808 dự án (trung bình 5.635 dự án/năm).
– Khối trung học cơ sở, trung học phổ thông: 8.700 dự án (trung bình 1.465 dự án/năm). Tỷ lệ sinh viên khởi nghiệp sau 5 năm tốt nghiệp duy trì ổn định ở mức 8%. Tuyên dương, khen thưởng: Hơn 2.100 cán bộ, giảng viên và gần 10.000 học sinh, sinh viên có thành tích xuất sắc.
(Nguồn: Nguyễn Minh, 2025)

Kết quả 7 năm triển khai Đề án 1665 giúp thấy rõ bức tranh chuyển dịch từ ý tưởng trên giấy sang giá trị kinh tế thực tế trong môi trường học đường. Số lượng dự án gia tăng mạnh mẽ, tỷ lệ 80% có sản phẩm cho thấy sinh viên không chỉ dừng lại ở các slide thuyết trình suông. Các ý tưởng đã qua giai đoạn nghiên cứu & phát triển (R&D) ban đầu, chế tạo mẫu thử và kiểm thử thực tế, sự xuất hiện của các công nghệ sâu (AI, IoT, Big Data) chứng minh chất lượng R&D trong nhà trường ngày càng sát với nhu cầu thị trường. Việc 58% trường đại học tích hợp môn học khởi nghiệp và 100% cơ sở giáo dục có kế hoạch hỗ trợ đã biến khởi nghiệp từ trào lưu tự phát thành một hoạt động chuyên môn chính quy, đánh dấu sự chuyển dịch tư duy ngành giáo dục sang hướng ứng dụng. Hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng vững chắc và dần hình thành hệ sinh thái học đường theo mô hình liên kết “3 nhà”. Có thể thấy, Đề án 1665 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh “Gieo mầm và Dựng khung” cho hệ sinh thái khởi nghiệp trong môi trường giáo dục Việt Nam. Nó đã giải bài toán “thay đổi nhận thức” và “tạo không gian trải nghiệm” cho học sinh, sinh viên Việt Nam.

4. Bàn luận và hàm ý quản trị

4.1. Bàn luận

Dù số lượng và chất lượng dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên tăng lên, việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ chính thức cho các dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên vẫn gặp rào cản về chi phí đăng ký, duy trì và thủ tục pháp lý phức tạp, đòi hỏi vai trò kết nối tư vấn chuyên sâu hơn từ phía nhà trường và Bộ Khoa học & Công nghệ. Nhiều dự án dừng lại ở mức sản phẩm thử nghiệm hoặc thương mại hóa quy mô nhỏ nhưng thiếu bảo hộ sở hữu trí tuệ (bằng sáng chế, thương hiệu) bài bản, dẫn đến rủi ro bị mất bản quyền hoặc khó định giá khi gọi vốn lớn. Mặc dù hành lang pháp lý chung đã có, hệ sinh thái khởi nghiệp sinh viên tại Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều khoảng trống pháp lý lớn.

Thứ nhất, khoảng trống về quyền sở hữu trí tuệ.

Một dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được hình thành trong nhà trường luôn có sự đan xen giữa nguồn lực của nhà trường và nguồn lực của sinh viên. Luật Sở hữu trí tuệ quy định tài sản được tạo ra từ ngân sách hoặc cơ sở vật chất của tổ chức sẽ thuộc về tổ chức đó. Tuy nhiên, chưa có quy định định lượng rõ ràng. Nếu sinh viên chỉ sử dụng máy tính, mạng Wi‑Fi của trường, hoặc phòng lab của khoa để thực hiện dự án khởi nghiệp, thì sản phẩm đó có bị tính là tài sản của trường hay không? Sự thiếu chi tiết này dễ dẫn đến tranh chấp về quyền sở hữu khi dự án được thương mại hóa và bắt đầu mang lại doanh thu.

Thứ hai, khoảng trống về phân phối lợi nhuận.

Dự án khởi nghiệp học sinh, sinh viên mang tính chất đa thành phần tham gia nhưng lại vận hành trên nền tảng thiếu cam kết pháp lý thương mại, điều đó dẫn tới việc phân chia lợi nhuận bị kẹt giữa các luật. Luật Quản lý sử dụng tài sản công, Luật Doanh nghiệp và Quy chế chi tiêu nội bộ của nhà trường… là các căn cứ cho việc định giá, chuyển nhượng hoặc chia lợi nhuận. Tuy nhiên, Quy chế chi tiêu nội bộ của các trường thường không thiết kế sẵn tỷ lệ phân chia doanh thu/lợi nhuận đối với các sản phẩm do sinh viên làm ra dưới sự bảo trợ của quỹ trường. Điều này dẫn đến tình trạng “vừa làm vừa dò”, mỗi trường áp dụng một kiểu dựa trên thương lượng cảm tính.

Thứ ba, khoảng trống về về vai trò và trách nhiệm của các bên.

Bên cạnh các rào cản về sở hữu trí tuệ và phân phối lợi nhuận, khoảng trống về phân định vai trò và trách nhiệm cũng là khoảng trống pháp lý của dự án khởi nghiệp. Dự án khởi nghiệp học sinh, sinh viên có sự tham gia của đa thành phần; tuy nhiên, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của từng bên hiện vẫn ở trong “vùng xám”. Nếu dự án thất bại “vùng xám” ngay lập tức bộc lộ hậu quả:

(1) Năng lực chịu trách nhiệm dân sự của sinh viên: Nhiều sinh viên khởi nghiệp khi còn chưa đủ 18 tuổi hoặc dù đã đủ tuổi nhưng chưa có kinh nghiệm pháp lý, dẫn đến việc ký kết các hợp đồng đầu tư bất lợi, bị thâu tóm mất dự án hoặc gánh các nghĩa vụ tài chính vượt quá khả năng chi trả mà nhà trường hoàn toàn không có cơ chế bảo vệ. Khi ra trường, bận đồ án, hoặc nhận được cơ hội việc làm tốt, sinh viên sẵn sàng bỏ dở dự án nửa chừng dự án mà không có bất kỳ ràng buộc hay trách nhiệm đền bù nào cho nhà trường, hay nhà đầu tư.

(2) Trách nhiệm về an toàn và chất lượng sản phẩm: Khi sản phẩm thử nghiệm (thực phẩm, mỹ phẩm, thiết bị điện…) gây rủi ro cho người tiêu dùng, ai là người có trách nhiệm đền bù tổn thất cho người tiêu dùng.

(3) Trách nhiệm của nhà trường: Trường cung cấp thương hiệu, phòng lab, kinh phí; nếu dự án của sinh viên vi phạm luật (sở hữu trí tuệ, thuế…), nhà trường chịu trách nhiệm đến đâu?

(4) Trách nhiệm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp tham gia các cuộc thi khởi nghiệp học sinh, sinh viên thường dừng lại ở vai trò “tài trợ lấy hình ảnh” hơn là một cổ đông, đối tác có trách nhiệm giám sát. Khi cuộc thi kết thúc, doanh nghiệp rút lui và không có ràng buộc phải tiếp tục đồng hành hay thương mại hóa sản phẩm.

4.2. Hàm ý quản trị

(1) Đối với các bên tham gia dự án khởi nghiệp học sinh, sinh viên.

Do khung pháp lý đang chạy sau thực tiễn triển khai dự án khởi nghiệp trong nhà trường, để bảo vệ quyền lợi và thực thi trách nhiệm cho các bên tham gia dự án khởi nghiệp trước khi các bộ luật được cập nhật chi tiết, tác giả đề xuất một số giải pháp thực tế, có tính thực thi cao mà các bên có thể áp dụng, như sau:

Một là, minh bạch hóa Hợp đồng hỗ trợ ngay khi bắt đầu dự án khởi nghiệp. Mọi dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên trước khi triển khai phải ký Thỏa thuận sử dụng nguồn lực & Phân chia bằng sáng chế (MOU) rõ ràng ngay từ.

Hai là, chuẩn hóa Hợp đồng phân chia lợi nhuận. Các bên cần ký kết hợp đồng thỏa thuận lợi nhuận trước khi dự án nhận kinh phí hoặc nhận hạ tầng, cơ sở vật chất, trong hợp đồng cần quy định rõ tỷ lệ trích nộp quỹ trường, tỷ lệ dành cho Mentors/giảng viên hướng dẫn và tỷ lệ dành cho doanh nghiệp, quỹ đầu tư. Bên cạnh thỏa thuận phân chia lợi nhuận, hợp đồng cần quy định rõ cơ chế cổ phần diễn tiến (phân chia cổ phần/lợi nhuận theo thời gian gắn bó và KPI hoàn thành) cho các bên, bên nào nào rời đi sớm sẽ phải trả lại phần cổ phần/lợi nhuận chưa cam kết cho các bên còn lại tiếp tục triển khai dự án.

Ba là, thành lập doanh nghiệp thuộc trường. Nhà trường nên thành lập một công ty trung gian có tư cách pháp nhân độc lập. Công ty này sẽ thay mặt trường ký các hợp đồng góp vốn, hợp đồng đầu tư, hoặc nhận cổ phần từ các dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên.

Bốn là, xây dựng một khung trách nhiệm khởi nghiệp học đường. Trước khi nhận kinh phí, hỗ trợ cơ sở vật chất, các bên phải ký cam kết về KPIs đầu ra, quy trình bàn giao/thanh lý dự án nếu rời khỏi dự án và trách nhiệm bảo mật thông tin của dự án khởi nghiệp.

(2) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Từ thực tiễn tồn tại các khoảng trống pháp lý đối với dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên, tác giả đề xuất một số kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ để giải quyết các bất cập về pháp lý với dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên, như: bổ sung quy định về cơ chế tài chính cho dự án khởi nghiệp học đường; bổ sung quy định quyền sở hữu trí tuệ với tài sản trí tuệ hình thành trong trường học; hướng dẫn về phân phối lợi nhuận với mô hình doanh nghiệp khởi nghiệp, khởi nguồn do cơ sở giáo dục đại học ươm tạo; ban hành quy định việc triển khai vai trò, trách nhiệm và xử lý rủi ro đối với dự án khởi nghiệp học đường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định việc triển khai các dự án khởi nghiệp học sinh, sinh viên nhận hỗ trợ chính thức phải đi kèm hợp đồng cam kết trách nhiệm; trong đó quy định rõ KPIs đầu ra, nghĩa vụ bảo mật, quy trình bàn giao/thanh lý khi dừng dự án để tránh tình trạng “bỏ dở giữa chừng” gây lãng phí nguồn lực. Đồng thời, các Bộ, ngành chức năng cần có cơ chế bảo trợ pháp lý cho học sinh, sinh viên dưới 18 tuổi tham gia dự án khởi nghiệp học đường.

5. Kết luận

Dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được hình thành khi học sinh, sinh viên đang học tại nhà trường, quá trình hình thành, phát triển và thương mại hóa dự án có liên quan mật thiết với giữa các bên như nhà trường, giảng viên hướng dẫn, doanh nghiệp/quỹ đầu tư. Do đó có thể phát sinh tranh chấp từ dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên do thiếu rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi nhuận, và vai trò, trách nhiệm của các bên. Giải quyết các tranh chấp này đòi hỏi sự minh bạch pháp lý và các thỏa thuận bằng văn bản ngay từ đầu để tránh các rủi ro đáng tiếc. Một cơ chế quản lý chuyên nghiệp của các bên tham gia và sự chi tiết, minh bạch, sát thực tiễn của hành lang pháp lý sẽ tạo dựng môi trường kết nối nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, tối ưu hóa các nguồn lực hạ tầng và đảm bảo đồng hành của các bên cùng dự án vượt qua “thung lũng tử thần”. Đây chính là chìa khóa then chốt để hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn, khởi nghiệp bền vững, gia tăng giá trị kinh tế tri thức và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia ngay từ môi trường đại học.

Tài liệu tham khảo:
Bazan, C., Shaikh, A., Frederick, S., Amjad, A., Yap, S., Finn, C., et al. (2019). Effect of Memorial University’s environment and support system in shaping entrepreneurial intention of students. J. Entrep. Educ. 22, 1–35.
Bosma, N., Hill, S., Ionescu-Somers, A., Kelley, D., Levie, J., Tarnawa, A., et al. (2020). The Global Entrepreneurship Monitor (GEM): 2019/2020 Global Report. London.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024  về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Quyết định số 1112/QĐ-BGDĐT ngày 11/5/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 – 2035” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Breznitz, S., & Zhang, Q. (2019). Fostering the growth of student start-ups from university accelerators: An entrepreneurial ecosystem perspective. Industrial and Corporate Change, 28(4), 855–873. https://doi.org/10.1093/icc/dtz033
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 05/4/2026 ban hành chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.
Julien Marchand, Antoine Hermens (2014). Student Entrepreneurship: a Research Agenda. Conference: Annual Conference of the Australian and New Zealand Academy of Management (ANZAM). Sydney, Australia. https://www.researchgate.net/publication/282372827_Student_Entrepreneurship_a_Research_Agenda.
Lâm Thị Kim Liên (2019). Thực trạng nhận thức về hoạt động khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tạp chí Khoa học Quản lý Giáo dục số 03(23), tháng 9/2019. https://tapchikhqlgd.edu.vn/wp-content/uploads/2023/11/8-LamThiKimLien.pdf.
Mars, M.M., Slaughter, S. & Rhoades, G. (2008). The state-sponsored student entrepreneur. The Journal of Higher Education, vol. 79, no. 6, pp. 638-70.
Nguyễn Minh (2025). 7 năm triển khai Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp”. Tạp chí Giáo dục. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/89630/211/7-nam-trien-khai-de-an-ho-tro-hoc-sinh-sinh-vien-khoi-nghiep/.
Quốc Hội (2005). Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 25/02/2026 về chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 – 2035.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2027 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.