Environmental protection in sustainable development in Can Thơ City today
ThS. Vũ Thị Cúc
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: vtcuc40@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và nâng cao chất lượng môi trường sống. Đây là một trong những nền tảng quan trọng để Cần Thơ phát triển theo hướng đô thị sinh thái, văn minh, hiện đại. Trên cơ sở làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, bài viết đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ thời gian qua, chỉ rõ những vấn đề đặt ra, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Từ khóa: Bảo vệ môi trường; phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế; tiến bộ xã hội; thành phố Cần Thơ.
Abstract: Environmental protection in the pursuit of sustainable development in Can Tho City is an indispensable requirement for ensuring harmony among economic growth, social progress, and the improvement of environmental quality. It constitutes an important foundation for Can Tho City to develop into an ecological, civilized, and modern city. Based on the Party’s viewpoints and policies, this article assesses the current state of environmental protection in sustainable development in Can Tho City in recent years, identifies the key issues, and proposes several solutions to enhance the effectiveness of this work in the coming period.
Keywords: Environmental protection; sustainable development; economic growth; social progress; Can Tho City.
1. Đặt vấn đề
Phát triển bền vững đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Trong mối quan hệ đó, môi trường không chỉ là điều kiện tự nhiên của quá trình phát triển mà còn là một tiêu chí phản ánh chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của quản trị địa phương. Thực tiễn cho thấy, việc ưu tiên tăng trưởng kinh tế nhưng thiếu kiểm soát tác động môi trường có thể làm suy giảm tài nguyên, gia tăng ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của người dân và tạo ra những chi phí xã hội lớn trong dài hạn.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang. Thành phố có diện tích tự nhiên 6.360,83 km², quy mô dân số 4.199.824 người; tiếp giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Biển Đông (Quốc hội, 2025, tr. 4). Thành phố Cần Thơ không chỉ mang đặc trưng của một đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long mà còn trở thành một không gian phát triển tổng hợp, bao gồm: khu vực đô thị, vùng sản xuất nông nghiệp, hệ thống sông, kênh, rạch, vùng cửa sông, ven biển và vùng biển. Sự kết hợp giữa không gian đô thị – công nghiệp với không gian nông nghiệp – thủy sản và sinh thái ven biển tạo cho thành phố Cần Thơ những điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp chế biến, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển, thương mại, dịch vụ và du lịch. Đồng thời, chính sự đa dạng đó cũng làm cho công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trở nên phức tạp hơn so với trước đây.
Trong không gian phát triển mới, các vấn đề môi trường không tồn tại riêng biệt theo từng địa bàn mà có tính liên thông và tác động qua lại giữa các khu vực. Nước thải sinh hoạt, chất thải rắn, khí thải giao thông và công nghiệp tập trung nhiều ở khu vực đô thị; chất thải chăn nuôi, phụ phẩm nông nghiệp, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật phát sinh ở khu vực nông thôn; nước thải, bùn thải từ nuôi trồng và chế biến thủy sản, rác thải nhựa, suy giảm hệ sinh thái và xói lở lại là những vấn đề đáng chú ý ở khu vực cửa sông, ven biển. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, mở rộng hạ tầng giao thông, logistics, nuôi trồng và chế biến thủy sản đang làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, nước, năng lượng và năng lực xử lý chất thải. Biến đổi khí hậu, ngập úng, sạt lở bờ sông, bờ biển, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan tiếp tục tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống và hệ thống hạ tầng của thành phố.
Những thay đổi trên cho thấy, bảo vệ môi trường cần được trở thành yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển bền vững của thành phố. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng để thành phố Cần Thơ khai thác có hiệu quả tiềm năng của không gian phát triển mới; đồng thời, hạn chế những nguy cơ chuyển các lợi thế về quy mô thành áp lực đối với các vấn đề tài nguyên và môi trường, góp phần xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển nhanh, bền vững, sinh thái, văn minh, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu.
2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững
Trong tiến trình đổi mới, quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ngày càng được bổ sung, phát triển theo hướng toàn diện, sâu sắc và thực chất hơn. Sự phát triển đó phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển đất nước. Trước hết, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta đã đặt nền móng cho tư duy phát triển có tính đến yếu tố môi trường. Cương lĩnh nhấn mạnh yêu cầu: “Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018, tr. 435). Nội dung này cho thấy, ngay từ thời kỳ đầu đổi mới, Đảng đã không nhìn nhận phát triển chỉ ở phương diện tăng trưởng kinh tế mà còn đặt ra yêu cầu bảo vệ môi trường sống, giữ gìn cân bằng sinh thái và bảo đảm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Đây là tiền đề quan trọng để tư duy của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững tiếp tục được bổ sung, phát triển ở các giai đoạn sau.
Bước phát triển quan trọng tiếp theo được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết khẳng định: “Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 688). Đây là luận điểm có ý nghĩa định hướng quan trọng, bởi bảo vệ môi trường không còn được xem là nhiệm vụ phụ trợ hoặc chỉ đặt ra sau quá trình phát triển mà đã trở thành một mục tiêu và nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 41-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục suy thoái môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và từng bước nâng cao chất lượng môi trường sống. Như vậy, bảo vệ môi trường đã được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với chất lượng tăng trưởng, sức khỏe Nhân dân và sự phát triển ổn định, lâu dài của đất nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), quan điểm về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững tiếp tục được hoàn thiện sâu sắc hơn. Cương lĩnh nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 22). So với Cương lĩnh (năm 1991), nội dung này thể hiện bước phát triển rõ hơn về chủ thể, trách nhiệm và phương thức bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Đồng thời, Cương lĩnh (năm 2011) cũng thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn khi kết hợp giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với phục hồi và bảo vệ môi trường sinh thái, qua đó, khẳng định yêu cầu phát triển bền vững trong điều kiện đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững tiếp tục được phát triển theo hướng gắn chặt hơn với ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và đổi mới mô hình tăng trưởng. Đặc biệt, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) xác định: “Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường… Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013, tr. 2).
Quan điểm trên cho thấy, tư duy của Đảng về bảo vệ môi trường đã được mở rộng và phát triển sâu sắc hơn. Đáng chú ý, Nghị quyết nhấn mạnh phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính, qua đó, thể hiện sự chuyển mạnh từ tư duy khắc phục hậu quả sang tư duy phòng ngừa, kiểm soát rủi ro môi trường ngay trong quá trình phát triển. Đến Đại hội XIII, tư duy này của Đảng tiếp tục được nhấn mạnh trong yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội XIII xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.117). Đồng thời, đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản đạt các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Những nội dung này cho thấy, Đảng ta ngày càng coi trọng việc đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào chỉnh thể phát triển bền vững, gắn với hoàn thiện thể chế, quản lý tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và cải thiện đời sống Nhân dân.
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tư duy về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững tiếp tục có bước phát triển mới. Văn kiện xác định yêu cầu tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đồng thời nhấn mạnh trong triển khai các nhiệm vụ trọng tâm: “phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 81-82). Việc đặt bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế – xã hội trong nhóm nhiệm vụ “trung tâm” cho thấy, nhận thức của Đảng về phát triển bền vững ngày càng toàn diện hơn. Môi trường không chỉ là điều kiện hỗ trợ tăng trưởng mà còn là một nội dung cấu thành của chất lượng phát triển, gắn trực tiếp với ổn định xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân và bảo đảm tương lai lâu dài của đất nước. Từ đó, bảo vệ môi trường cần được lồng ghép trong đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.
Có thể thấy, qua các Cương lĩnh, nghị quyết và Văn kiện Đại hội của Đảng, quan điểm, chủ trương về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và nâng lên tầm chiến lược. Nếu ở giai đoạn đầu đổi mới, bảo vệ môi trường chủ yếu được đặt ra như yêu cầu giữ gìn cân bằng sinh thái và điều kiện sống của con người thì đến nay, bảo vệ môi trường đã được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, quản lý tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương, trong đó có thành phố Cần Thơ cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn.
3. Thực trạng công tác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ thời gian qua
3.1. Những kết quả đạt được
Trên cơ sở quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững, thành phố Cần Thơ đã từng bước cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:
Thứ nhất, nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và Nhân dân đối với công tác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững từng bước được nâng lên. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định quan điểm: “phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, cân bằng tổng thể, toàn diện cả ba lĩnh vực: kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển (Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, 2025, tr. 5). Quan điểm này cho thấy, yêu cầu bảo vệ môi trường đã được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của thành phố, gắn trực tiếp với chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành từng bước quan tâm hơn đến việc kết hợp mục tiêu phát triển kinh tế với quản lý tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thích ứng với biến đổi khí hậu trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng được mở rộng đến doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và từng người dân thông qua yêu cầu tuân thủ pháp luật, giảm phát sinh chất thải, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giữ gìn cảnh quan, môi trường sống. Sự chuyển biến này tạo nền tảng quan trọng để công tác bảo vệ môi trường từng bước trở thành một nội dung thường xuyên trong quản lý phát triển, góp phần bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và duy trì các điều kiện sinh thái cho sự phát triển lâu dài của thành phố Cần Thơ.
Thứ hai, công tác thể chế hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững từng bước được tăng cường, tạo cơ sở cho việc hình thành cơ chế quản trị thống nhất trong không gian phát triển mới. Ngày 20/4/2026, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Chương trình số 12/CTr-UBND triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030, gắn với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 – 2030. Trong đó, quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu được xác định là một nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Cùng với việc xác lập định hướng chung, thành phố từng bước lượng hóa các yêu cầu môi trường thành chỉ tiêu để tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá. Đến năm 2030, thành phố phấn đấu có 100% khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt trên 95,8%; tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; chất thải y tế được xử lý đạt 100%; 85% hộ gia đình nông thôn sử dụng nước sạch và tỷ lệ che phủ rừng đạt 2% (Ánh Nguyên, 2026a). Việc xác định chỉ tiêu cụ thể trên cho thấy, công tác bảo vệ môi trường đang chuyển dần từ chỉ đạo định tính sang quản lý dựa trên mục tiêu, trách nhiệm và kết quả đầu ra.
Trong lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt, Thành phố đã ban hành mức giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển trên phạm vi toàn địa bàn; đồng thời, phân công trách nhiệm cho các sở, ngành, đơn vị cung ứng dịch vụ và chính quyền cấp xã trong tổ chức thực hiện. Đối với nước sạch, Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND ngày 12/5/2026 (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026) tiếp tục phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý hoạt động sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Những văn bản này có ý nghĩa quan trọng trong việc từng bước khắc phục sự khác biệt về cơ chế quản lý, đơn giá, phương thức cung ứng dịch vụ, năng lực hạ tầng giữa các địa bàn trước và sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.
Thứ ba, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đạt được những kết quả tích cực, góp phần hạn chế ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường sống. Kết quả khảo sát của Hội đồng nhân dân thành phố cho thấy, tỷ lệ thu gom chất thải rắn tại khu vực nông thôn đạt từ 80%, khu vực đô thị đạt từ 95%; hoạt động thu gom được duy trì tương đối thường xuyên, góp phần bảo đảm vệ sinh và mỹ quan đô thị. Công tác quản lý chất thải y tế, chất thải công nghiệp cơ bản được thực hiện theo quy định từ khâu phân loại, lưu giữ đến vận chuyển và xử lý. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý trên địa bàn thành phố hiện dao động khoảng 1.200 – 1.712,95 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, xử lý tại khu vực đô thị đạt khoảng 96,76% (Ánh Nguyên, 2026b). Thành phố đang duy trì hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải trên địa bàn, trong đó có các nhà máy sử dụng công nghệ đốt rác phát điện. Việc kết hợp xử lý chất thải với thu hồi năng lượng bước đầu góp phần giảm sự phụ thuộc vào phương thức chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên đất và phù hợp hơn với định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn. Công tác bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt cũng được quan tâm thông qua việc xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước, rà soát nhu cầu khai thác và yêu cầu các đơn vị cấp nước xây dựng phương án bảo đảm cung cấp nước ổn định, liên tục trong mùa khô. Việc tăng cường quản lý khai thác nước dưới đất, thiết lập vùng cấm và vùng hạn chế khai thác góp phần bảo vệ an ninh nguồn nước, hạn chế nguy cơ suy giảm mực nước, sụt lún đất và các tác động môi trường trong dài hạn.
Thứ tư, công tác bảo vệ môi trường từng bước được lồng ghép vào định hướng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức không gian phát triển và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thành phố đã đặt yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, logistics, thương mại, du lịch và kinh tế biển. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển biến từ xử lý ô nhiễm như một nhiệm vụ riêng biệt sang xem xét các tác động môi trường ngay trong quá trình lựa chọn dự án, bố trí hạ tầng và tổ chức hoạt động sản xuất.
Trong lĩnh vực thủy sản, thành phố triển khai kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2026 – 2030, chú trọng kiểm soát chất thải từ nuôi trồng, khai thác và chế biến; phòng ngừa ô nhiễm tại vùng ven biển và khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao; quản lý rác thải nhựa đại dương; đồng thời, xây dựng, nhân rộng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong thu gom, xử lý và tái sử dụng chất thải. Đây là nội dung có tính mới, phù hợp với không gian phát triển mở rộng của thành phố Cần Thơ hiện nay, khi thành phố vừa có khu vực đô thị, công nghiệp, nông nghiệp nội đồng, vừa có vùng cửa sông, ven biển và hoạt động kinh tế thủy sản.
Bên cạnh đó, định hướng phát triển công nghiệp tái chế, giảm chôn lấp, thu hồi năng lượng từ chất thải, xây dựng khu công nghiệp sinh thái và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp đang từng bước được đưa vào các chương trình phát triển. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ số, xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu về nguồn thải, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tạo điều kiện nâng cao khả năng giám sát, cảnh báo và xử lý kịp thời các vấn đề môi trường. Qua đó, bảo vệ môi trường ngày càng được gắn chặt hơn với nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, đổi mới công nghệ và chất lượng tăng trưởng.
Thứ năm, sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở tôn giáo và các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường ngày càng được mở rộng, bước đầu hình thành nền tảng xã hội quan trọng cho phát triển bền vững. Điểm nổi bật không chỉ nằm ở số lượng các hoạt động tuyên truyền mà còn ở việc từng nhóm chủ thể được khuyến khích tham gia bằng những hình thức phù hợp với chức năng và điều kiện thực tế. Các cơ sở tôn giáo vận động chức sắc, chức việc và tín đồ giữ gìn cảnh quan, hạn chế rác thải; các tổ chức đoàn thể duy trì hoạt động tự quản tại khu dân cư; trường học lồng ghép giáo dục ý thức giảm nhựa dùng một lần; doanh nghiệp từng bước quan tâm đến giảm phát sinh, tái sử dụng và tái chế chất thải. Các mô hình “Tôn giáo với môi trường xanh”, “6 không, 6 có”, phân loại chất thải tại nguồn và ủ phân compost từ rác hữu cơ đã tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề môi trường gắn với sinh hoạt hằng ngày. Giá trị của các mô hình này không chỉ thể hiện ở lượng rác được thu gom hoặc cảnh quan được cải thiện mà còn ở việc phát huy tinh thần tự quản, củng cố sự đồng thuận và từng bước hình thành chuẩn mực ứng xử thân thiện với môi trường trong cộng đồng.
Kế hoạch số 133/KH-UBND ngày 31/3/2026 về Phong trào “Chống rác thải nhựa” tiếp tục mở rộng phạm vi tham gia của xã hội khi xác định trách nhiệm cụ thể đối với cơ quan nhà nước, xã, phường, trường học, siêu thị, trung tâm thương mại, doanh nghiệp và hộ gia đình. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% cơ quan, đơn vị và địa phương triển khai hoạt động giảm thiểu rác thải nhựa; 100% xã, phường duy trì ít nhất một mô hình cộng đồng; tối thiểu 50% trường học xây dựng mô hình giảm rác thải nhựa; 80% siêu thị, trung tâm thương mại giảm sử dụng túi ni lông khó phân hủy và ít nhất 70% hộ gia đình thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026). Việc ban hành kế hoạch với hệ thống chỉ tiêu cụ thể đã góp phần mở rộng phạm vi tham gia của các chủ thể, xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, đồng thời tạo cơ sở để tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ một cách đồng bộ và thực chất hơn trong giai đoạn mới.
3.2. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ vẫn còn một số hạn chế, khó khăn cần được nhận diện đầy đủ.
Một là, hạ tầng và tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trên địa bàn Thành phố còn thiếu đồng bộ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, sự khác biệt về điều kiện hạ tầng, mật độ dân cư và phương thức thu gom giữa khu vực đô thị, nông thôn, ven sông và ven biển vẫn gây khó khăn cho quản lý chất thải. Ở một số nơi, mạng lưới thu gom, điểm tập kết, phương tiện vận chuyển và năng lực xử lý chưa đáp ứng yêu cầu; việc phân loại, tái chế và thu hồi tài nguyên từ chất thải còn hạn chế. Thực trạng này làm giảm hiệu quả của toàn bộ quy trình quản lý chất thải và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm thứ cấp.
Hai là, việc thống nhất cơ chế quản lý môi trường trên địa bàn thành phố sau sắp xếp cần thêm thời gian và nguồn lực. Không gian hành chính mới được hình thành từ các địa bàn có điều kiện hạ tầng, phương thức cung ứng dịch vụ, đơn giá thu gom và công nghệ xử lý khác nhau. Việc ban hành quy định chung bước đầu tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất nhưng quá trình chuyển tiếp còn phát sinh những vấn đề về hợp đồng dịch vụ, phân bổ kinh phí, phạm vi hoạt động của đơn vị thu gom và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Dữ liệu về chất thải, nước thải, chất lượng nguồn nước và các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm chưa hoàn toàn đồng bộ. Một số số liệu vẫn được tổng hợp theo phạm vi địa giới cũ, gây khó khăn cho việc so sánh, đánh giá và xây dựng chỉ tiêu chung cho toàn Thành phố. Việc thiếu một hệ thống dữ liệu môi trường thống nhất, cập nhật thường xuyên có thể ảnh hưởng đến chất lượng dự báo, phân bổ nguồn lực và kiểm tra kết quả thực hiện.
Ba là, công tác phân loại chất thải tại nguồn và thay đổi hành vi của cộng đồng chưa đạt hiệu quả đồng đều. Kết quả khảo sát tại một số địa bàn cho thấy, việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện hiệu quả; tình trạng bỏ rác không đúng nơi quy định vẫn còn xảy ra (Trọng Thi, 2026). Nhiều hộ gia đình chưa có đủ điều kiện, dụng cụ hoặc hướng dẫn cụ thể để phân loại; trong khi hệ thống thu gom, vận chuyển riêng đối với từng nhóm chất thải chưa hoàn chỉnh. Nếu chất thải sau phân loại tiếp tục được thu gom chung, động lực tham gia của người dân sẽ bị hạn chế. Việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, túi ni lông khó phân hủy vẫn phổ biến trong sinh hoạt, mua bán và dịch vụ. Một số mô hình bảo vệ môi trường mới dừng lại ở quy mô nhỏ, phụ thuộc vào hoạt động vận động của tổ chức đoàn thể hoặc các đợt cao điểm, chưa hình thành được cơ chế duy trì ổn định và nhân rộng trên toàn địa bàn.
Bốn là, năng lực kiểm soát nước thải, nguồn thải phân tán và ô nhiễm liên thông giữa các khu vực còn hạn chế. Nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, chất thải chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chế biến nông sản phát sinh từ nhiều nguồn nhỏ, phân tán trên địa bàn rộng nên khó kiểm soát đầy đủ. Trong khi đó, hệ thống sông, kênh, rạch tạo sự liên thông cao, khiến chất ô nhiễm phát sinh ở một khu vực có thể tác động đến nhiều địa phương khác. Đối với vùng cửa sông, ven biển và hoạt động thủy sản, yêu cầu quản lý nước thải, bùn thải, bao bì, ngư cụ và rác thải nhựa đặt ra ngày càng cấp thiết. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu, hệ thống quan trắc và nguồn lực kiểm tra tại các khu vực này còn cần tiếp tục hoàn thiện. Việc phối hợp giữa quản lý môi trường đô thị, nông nghiệp, thủy sản, tài nguyên nước và môi trường biển chưa phải lúc nào cũng bảo đảm tính liên thông cần thiết.
Năm là, áp lực từ đô thị hóa, phát triển sản xuất và biến đổi khí hậu tiếp tục gia tăng. Với quy mô dân số và không gian phát triển mở rộng, lượng chất thải, nước thải và nhu cầu sử dụng tài nguyên của thành phố có xu hướng tăng nhanh. Phát triển công nghiệp, logistics, giao thông, nông nghiệp và thủy sản vừa tạo động lực tăng trưởng, vừa làm gia tăng áp lực lên đất, nước, năng lượng và hạ tầng xử lý môi trường. Bên cạnh đó, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và suy giảm nguồn nước tiếp tục tác động đến đời sống, sản xuất và kết cấu hạ tầng. Việc khai thác nước dưới đất kéo dài có thể làm tăng nguy cơ suy giảm nguồn nước và sụt lún đất, buộc thành phố phải đẩy mạnh khoanh định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác và chuyển sang sử dụng nguồn nước bền vững hơn. Những áp lực này cho thấy thành quả bảo vệ môi trường có thể bị suy giảm nếu tốc độ đầu tư hạ tầng và đổi mới phương thức quản lý không theo kịp quá trình phát triển.
4. Những vấn đề đặt ra
Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, công tác bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ thời gian tới đang đặt ra một số vấn đề cần tập trung giải quyết.
Thứ nhất, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu tăng trưởng nhanh với yêu cầu duy trì chất lượng môi trường và khả năng chịu tải của các hệ sinh thái. Thành phố đặt mục tiêu trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia và giữ vai trò động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Điều này đòi hỏi bảo vệ môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu hoạch định chính sách, lựa chọn dự án, quy hoạch sử dụng đất, phát triển hạ tầng và phân bố các ngành sản xuất. Vấn đề đặt ra không chỉ là xử lý chất thải sau khi phát sinh mà còn phải kiểm soát từ đầu công nghệ, mức tiêu hao tài nguyên, phát thải và nguy cơ tác động cộng hưởng giữa các dự án.
Thứ hai, sớm xây dựng cơ chế quản trị môi trường thống nhất, liên thông và dựa trên dữ liệu cho toàn thành phố. Không gian phát triển mới đòi hỏi phải chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu, phương pháp thống kê, cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo; bảo đảm số liệu về chất thải, nước thải, nguồn nước, chất lượng không khí, đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu được cập nhật theo cùng một phạm vi, thời điểm và phương pháp. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn, chính quyền cấp xã, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và chủ nguồn thải; thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu, phối hợp kiểm tra và xử lý các vấn đề liên địa bàn. Việc vận hành đường dây nóng, tiếp nhận phản ánh và công khai kết quả xử lý vi phạm cần được gắn với cơ sở dữ liệu môi trường để tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, thu hẹp khoảng cách về tiếp cận dịch vụ môi trường giữa khu vực đô thị, nông thôn, vùng ven sông và ven biển. Tỷ lệ thu gom chất thải ở nông thôn còn thấp hơn đáng kể so với khu vực đô thị. Vì vậy, thành phố cần giải quyết bài toán về tuyến thu gom, phương tiện phù hợp, điểm trung chuyển, chi phí dịch vụ và khả năng chi trả của người dân. Việc mở rộng dịch vụ không chỉ nhằm nâng tỷ lệ thống kê, mà phải bảo đảm chất thải được vận chuyển và xử lý đúng quy định, không chuyển ô nhiễm từ nơi này sang nơi khác. Cùng với chất thải rắn, cần ưu tiên đầu tư hạ tầng cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải ở những khu vực còn thiếu hoặc có nguy cơ chịu tác động của hạn, mặn và ô nhiễm nguồn nước.
Thứ tư, chuyển mạnh từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa, giảm phát sinh và tuần hoàn tài nguyên. Khối lượng chất thải phát sinh lớn cho thấy, chỉ mở rộng cơ sở xử lý sẽ không đủ nếu không kiểm soát lượng rác từ đầu nguồn. Thành phố cần đồng bộ giữa phân loại tại hộ gia đình, hệ thống thu gom riêng, cơ sở tái chế và thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế. Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, giảm nhựa dùng một lần, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và chất thải thủy sản cần được gắn với chính sách hỗ trợ công nghệ và cơ chế kinh tế phù hợp. Việc phát triển các nhà máy điện rác cần đi đôi với kiểm soát chặt chẽ khí thải, tro xỉ và hiệu quả năng lượng; không xem đốt rác là giải pháp thay thế cho giảm phát sinh, tái sử dụng và tái chế.
Thứ năm, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý môi trường theo hệ sinh thái. Đặc điểm mới của thành phố Cần Thơ đòi hỏi cách tiếp cận từ lưu vực sông đến vùng cửa sông, ven biển và vùng biển; kết nối quản lý nước, đất, chất thải, nông nghiệp, thủy sản và đa dạng sinh học. Các chương trình kiểm soát sạt lở, ngập úng, xâm nhập mặn, khai thác nước dưới đất và ô nhiễm nguồn nước phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá rủi ro tổng hợp, thay vì xử lý tách biệt theo từng ngành. Đối với các vấn đề vượt ra ngoài địa giới thành phố, như: nguồn nước sông Hậu, rác thải trên sông, xâm nhập mặn và ô nhiễm vùng ven biển, cần tăng cường phối hợp liên tỉnh, liên vùng và chia sẻ dữ liệu. Đây là yêu cầu khách quan để thành phố Cần Thơ vừa bảo vệ môi trường của địa phương, vừa thực hiện vai trò trung tâm, dẫn dắt và điều phối phát triển bền vững của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ sáu, cần biến các phong trào bảo vệ môi trường thành hành vi thường xuyên, có thể đo lường và duy trì lâu dài. Việc ban hành nhiều chương trình và mô hình mới là bước khởi đầu cần thiết, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào mức độ thay đổi hành vi của cơ quan, doanh nghiệp và người dân. Thành phố cần xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể đối với mô hình cộng đồng, trường học, chợ, cơ sở tôn giáo và doanh nghiệp; công khai kết quả, biểu dương những mô hình hiệu quả và kịp thời khắc phục biểu hiện hình thức.
5. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu đối với công tác bảo vệ môi trường. Các cấp, các ngành cần cụ thể hóa quan điểm phát triển cân bằng giữa kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I thành nhiệm vụ, chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển hằng năm. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu môi trường cần được xem là một căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, địa phương và người đứng đầu; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các điểm ô nhiễm, vi phạm pháp luật về môi trường.
Hai là, hoàn thiện cơ chế quản lý môi trường thống nhất, phù hợp với không gian phát triển mới của thành phố. Cần rà soát, đồng bộ các quy định về quản lý chất thải, nước thải, tài nguyên nước, quan trắc và dịch vụ môi trường; phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan chuyên môn cấp thành phố với chính quyền cấp xã. Đồng thời, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu môi trường chung, bảo đảm số liệu được cập nhật, kết nối và sử dụng hiệu quả trong dự báo, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện.
Ba là, ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, nước thải. Thành phố cần rà soát mạng lưới thu gom, bổ sung phương tiện, điểm tập kết và trạm trung chuyển phù hợp với khu vực nông thôn, dân cư phân tán, ven sông và ven biển. Các cơ sở xử lý phải được nâng cấp theo hướng hiện đại, giảm chôn lấp, kiểm soát chặt khí thải, nước thải và chất thải thứ cấp. Cùng với xử lý chất thải rắn, cần đẩy nhanh đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị, khu, cụm công nghiệp và cơ sở chế biến nông sản, thủy sản.
Bốn là, chuyển mạnh sang phòng ngừa ô nhiễm, giảm phát sinh chất thải và phát triển kinh tế tuần hoàn. Yêu cầu bảo vệ môi trường phải được xem xét ngay từ khâu quy hoạch, lựa chọn dự án và công nghệ sản xuất; hạn chế các dự án tiêu hao nhiều tài nguyên, có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Việc phân loại chất thải tại nguồn cần được triển khai đồng bộ với thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý; khuyến khích tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ và phụ phẩm thủy sản, qua đó giảm lượng chất thải phải xử lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Năm là, tăng cường quản lý tài nguyên nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù. Thành phố cần kiểm soát chặt nước thải đổ vào sông, kênh, rạch; bảo vệ nguồn nước sinh hoạt; hạn chế khai thác nước dưới đất và phòng ngừa sụt lún. Các nhiệm vụ chống ngập, sạt lở, hạn hán và xâm nhập mặn cần được lồng ghép vào quy hoạch đô thị, nông nghiệp, giao thông và thủy lợi. Đối với vùng cửa sông, ven biển, cần tăng cường kiểm soát chất thải từ nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản và rác thải nhựa, gắn với phục hồi hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.
Sáu là, phát huy vai trò của doanh nghiệp, cộng đồng và tăng cường phối hợp liên vùng. Cần đổi mới tuyên truyền theo hướng gắn với hành vi cụ thể; nhân rộng các mô hình phân loại rác, giảm nhựa dùng một lần, khu dân cư, trường học, cơ sở tôn giáo và doanh nghiệp xanh. Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và công khai thông tin môi trường. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long trong quản lý nguồn nước, rác thải trên sông, sạt lở, xâm nhập mặn và xử lý ô nhiễm liên vùng; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, khoa học – công nghệ và hợp tác quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường.
6. Kết luận
Bảo vệ môi trường là một nội dung trọng yếu của phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ, gắn trực tiếp với chất lượng tăng trưởng, sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Thời gian qua, thành phố đã đạt được những kết quả bước đầu trong nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ chế quản lý, thu gom và xử lý chất thải, bảo vệ nguồn nước, lồng ghép yêu cầu môi trường vào phát triển kinh tế – xã hội và huy động sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, những hạn chế về hạ tầng, dữ liệu, phân loại chất thải, kiểm soát nguồn thải và sự chênh lệch giữa các khu vực vẫn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới phương thức quản trị môi trường theo hướng thống nhất, phòng ngừa, liên ngành và dựa trên dữ liệu. Thực hiện đồng bộ các giải pháp đề xuất sẽ góp phần xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển nhanh, bền vững, sinh thái, văn minh, hiện đại và nâng cao chất lượng sống của nhân dân trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Ánh Nguyên (2026a). Cần Thơ triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. https://cantho.gov.vn/trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang/can-tho-trien-khai-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang-334615?utm_source=chatgpt.com
Ánh Nguyên (2026): Tăng cường các giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. https://cantho.gov.vn/hoat-dong-lanh-dao-thanh-pho/tang-cuong-cac-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-thu-gom-van-chuyen-va-xu-ly-chat-thai-ran-341416?utm_source=chatgpt.com
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Thành ủy Cần Thơ (2025). Nghị quyết số 02-NQ/ĐH Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) (Tập 22). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 63). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 69). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Trọng Thi (2026). Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố khảo sát việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố. https://dbnd.cantho.gov.vn/hoi-dong-nhan-dan-thanh-pho/thuong-truc-hoi-dong-nhan-dan-thanh-pho-khao-sat-viec-thu-gom-van-chuyen-va-xu-ly-chat-thai-ran–340322
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026). Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND ngày 12/5/2026 về phân công, phân cấp quản lý hoạt động sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.



