Ensuring sustainable livelihoods for ethnic minority communities in the Northern Border Provinces of Vietnam today
ThS. Nguyễn Thị Linh
Học viện Cảnh sát nhân dân
Email: Linhnguyen5285@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng biên giới phía Bắc, bao gồm các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh không chỉ giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh mà còn là địa bàn sinh sống tập trung của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với bản sắc văn hóa phong phú. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình chia cắt và trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế, sinh kế của một bộ phận đồng bào vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp quy mô nhỏ, dễ bị tác động bởi thiên tai, biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Bài viết phân tích thực trạng sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn 2021 – 2026, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm sinh kế bền vững trong thời gian tới.
Từ khóa: Sinh kế bền vững; đồng bào dân tộc thiểu số; vùng biên giới phía Bắc; giảm nghèo bền vững; phát triển vùng dân tộc thiểu số; an ninh biên giới.
Abstract: Vietnam’s northern border region, comprising the provinces of Dien Bien, Lai Chau, Lao Cai, Tuyen Quang, Cao Bang, Lang Son, and Quang Ninh, holds not only a strategic position in terms of national defense and security but also serves as a major settlement area for numerous ethnic minority communities with rich cultural identities. However, due to harsh natural conditions, fragmented terrain, and relatively limited socio-economic development, the livelihoods of some ethnic minority communities remain heavily dependent on small-scale agriculture and forestry, making them vulnerable to natural disasters, climate change, and market fluctuations. Therefore, this article analyzes the livelihood situation of ethnic minority communities in Vietnam’s northern border provinces during the 2021-2026 period and proposes several solutions to ensure sustainable livelihoods in the coming years.
Keywords: Sustainable livelihoods; ethnic minority communities; northern border region; sustainable poverty reduction; development of ethnic minority areas; border security.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng, miền còn chênh lệch, khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc vẫn là địa bàn có nhiều khó khăn, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số với điều kiện sinh kế còn nhiều hạn chế. Địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp đã làm giảm khả năng khai thác các nguồn lực phục vụ phát triển. Sinh kế của phần lớn đồng bào vẫn dựa vào nông, lâm nghiệp quy mô nhỏ, năng suất chưa cao, dễ bị tác động bởi thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và biến động của thị trường.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ sinh kế truyền thống sang sinh kế bền vững, thích ứng còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tiếp cận tín dụng, khoa học – công nghệ, thông tin thị trường và các dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này không chỉ làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng biên giới và các khu vực khác mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững và củng cố thế trận lòng dân ở khu vực biên giới.
Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh phát triển xanh, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu thực trạng sinh kế và đề xuất các giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
2. Thực trạng bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc
Các tỉnh biên giới phía Bắc là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời là nơi sinh sống tập trung của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, công tác bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc được định hướng và thực hiện theo các chủ trương của Đảng về công tác dân tộc, trọng tâm là Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc và Kết luận số 81-KL/TW ngày 04/6/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (giai đoạn I: 2021 – 2025); Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I: 2021 – 2025. Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025. Việc triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách đã góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và mặt bằng chung của cả nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn phát triển mới. Nhờ đó, việc bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Thứ nhất, nguồn nhân lực phục vụ phát triển sinh kế từng bước được nâng cao thông qua đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Các địa phương đã quan tâm mở rộng quy mô, đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, từng bước gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Trong những năm gần đây, công tác đào tạo nghề tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã đạt được một số kết quả tích cực. Cụ thể, Lào Cai tuyển mới trên 29.500 người, gồm 3.550 người trình độ cao đẳng, 6.500 người trình độ trung cấp và 19.450 người trình độ sơ cấp, đào tạo trong thời gian dưới 3 tháng, trong đó có 5.000 lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề. Tuyên Quang đào tạo 13.555 người, gồm 1.740 người trình độ cao đẳng, 2.170 người trình độ trung cấp, 3.375 người trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, đào tạo lao động nông thôn, nghề truyền thống, chuyển đổi nghề và nhân lực phục vụ Chương trình OCOP; 6.270 người thuộc các chương trình đào tạo khác. Đồng thời, triển khai Tiểu dự án phát triển giáo dục nghề nghiệp vùng nghèo, vùng khó khăn trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xác định phát triển giáo dục nghề nghiệp cả về quy mô và chất lượng, gắn chặt với việc tạo việc làm, sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân.
Giai đoạn 2025 – 2030 đặt mục tiêu mỗi năm giảm từ 3 – 4% tỷ lệ hộ nghèo; trong đó, phát triển nghề nghiệp và tạo việc làm được xem là giải pháp cốt lõi. Cao Bằng tuyển mới 28.472 người học nghề, trong đó 479 người trình độ cao đẳng, 2.676 người trình độ trung cấp và 25.317 người trình độ sơ cấp, đào tạo trong thời gian dưới 3 tháng. Lai Châu tuyển sinh 4.654 người, đạt 99% kế hoạch; trong đó, trình độ cao đẳng và trung cấp 550 người, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng 4.150 người, tập trung vào các nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp phục vụ lao động nông thôn. Điện Biên tuyển sinh và đào tạo nghề cho 45.103 người, gồm 879 người trình độ cao đẳng, 2.958 người trình độ trung cấp và 41.266 người trình độ sơ cấp, với thời gian đào tạo dưới 3 tháng. Lạng Sơn tuyển mới và đào tạo trên 20.950 người, trong đó trình độ cao đẳng khoảng 700 người/năm, trung cấp trên 300 người/năm, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng gần 2.000 người.
Nhìn chung, đào tạo nghề tại các địa phương từng bước chuyển theo hướng gắn với nhu cầu thị trường lao động và phát triển ngành nghề phù hợp với điều kiện thực tế, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho người dân. Theo đó, đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập và hạn chế tình trạng lao động di cư tự do; đồng thời, tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ hai, nhiều địa phương đã chú trọng phát triển sinh kế gắn với bảo vệ và phát triển rừng, qua đó vừa tạo việc làm, thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái. Năm 2025, tỷ lệ che phủ rừng tại Lai Châu duy trì ở mức 54%; Tuyên Quang: 62,2%; Quảng Ninh: 45,5%; và Lào Cai: 61,5%. Cùng với duy trì và nâng cao độ che phủ rừng, các mô hình giao khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp đã góp phần đa dạng hóa sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ ba, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế tiếp tục được quan tâm đầu tư. Nhiều công trình cấp nước sinh hoạt, phục vụ sản xuất được xây dựng, như hệ thống hồ treo tại các xã vùng cao biên giới thuộc tỉnh Tuyên Quang (tỉnh Hà Giang cũ) và dự án cụm hồ chứa nước của tỉnh Cao Bằng. Bên cạnh đó, các dự án giao thông trọng điểm, như đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng), hệ thống điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế và trung tâm logistics tại Lào Cai, Lạng Sơn được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện điều kiện tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, mở rộng kết nối thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực biên giới.
Thứ tư, kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là hệ thống giao thông, điện, nước sinh hoạt và các công trình thiết yếu tại các địa bàn vùng cao, vùng biên giới. Việc đầu tư, nâng cấp hạ tầng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản, mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hóa mà còn hỗ trợ phát triển sản xuất, kết nối thị trường và đa dạng hóa sinh kế. Qua đó, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững gắn với củng cố quốc phòng, an ninh tại khu vực biên giới.
Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 trước thời hạn; đến năm 2023, tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, tỉnh ban hành và áp dụng chuẩn nghèo riêng cao hơn mức chuẩn nghèo của Trung ương, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương theo Nghị quyết số 13/2023/NQ-HĐND. Theo chuẩn nghèo mới, năm 2023, toàn tỉnh còn 246 hộ nghèo và 3.063 hộ cận nghèo; đến đầu năm 2025, số hộ nghèo giảm còn 8 hộ và số hộ cận nghèo còn 1.197 hộ. Kết quả này góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc vẫn chưa ổn định, chưa bền vững và đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
(1) Nguồn lực phát triển sinh kế còn hạn chế, vì phần lớn vẫn dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp quy mô nhỏ, giá trị gia tăng thấp và khả năng chống chịu trước rủi ro còn yếu. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao về trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tiếp cận khoa học – công nghệ, tín dụng và thông tin thị trường.
(2) Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tuy đã được cải thiện nhưng chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông tại các địa bàn miền núi, vùng cao, thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Năm 2025, Lào Cai ghi nhận hơn 5.000 điểm sạt lở taluy dương và hàng trăm vị trí sạt lở taluy âm, với khối lượng đất đá lên tới hàng trăm nghìn mét khối; Lạng Sơn có gần 250 điểm giao thông bị sạt lở, trong đó riêng đợt mưa bão số 11 ghi nhận hơn 103 vị trí sạt lở taluy dương và nhiều vị trí sạt lở taluy âm, với khối lượng đất đá lên tới hàng chục nghìn mét khối; Điện Biên xảy ra sạt lở taluy dương tại hơn 300 điểm. Tình trạng này ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống của người dân, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực biên giới.
(3) Quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất và đa dạng hóa sinh kế còn chậm, chưa hình thành nhiều mô hình sản xuất quy mô lớn, gắn với chuỗi giá trị và nhu cầu thị trường. Hoạt động sản xuất của đồng bào vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với quy mô nhỏ, khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học – công nghệ, cũng như chuyển đổi số còn hạn chế.
(4) Tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao so với bình quân chung của cả nước. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều tại Điện Biên: 17,66%; Lào Cai: 11,06%; Lai Châu: 17,24%; Cao Bằng: 20,71%… Thực trạng này cho thấy đời sống của một bộ phận đồng bào còn khó khăn; khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và cơ hội phát triển kinh tế còn hạn chế, đòi hỏi tiếp tục có các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh xã hội.
Nhìn chung, công tác bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Từ thực tiễn trên, việc bảo đảm sinh kế bền vững cần tiếp tục được thực hiện theo hướng phát huy nội lực của đồng bào, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, biến đổi khí hậu và những thay đổi của thị trường. Đồng thời, gắn bảo đảm sinh kế với chuyển đổi số, phát triển xanh, giảm nghèo bền vững và củng cố quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào.
3. Giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Hoàn thiện thể chế, chính sách là điều kiện quan trọng để tạo cơ sở pháp lý và huy động nguồn lực phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh biên giới phía Bắc. Trên cơ sở tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng nhóm dân tộc và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Quá trình xây dựng và thực hiện chính sách cần lấy người dân làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào trong việc lựa chọn và tổ chức thực hiện các mô hình sinh kế phù hợp.
Đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ có điều kiện, chú trọng nâng cao năng lực sản xuất, khả năng tiếp cận tín dụng, đất đai, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và thị trường. Đồng thời, tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương trong việc lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với điều kiện thực tế; nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc tổ chức thực hiện chính sách.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh xã hội hóa và thu hút sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế vào phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ và công nghiệp chế biến tại khu vực biên giới. Có chính sách phù hợp về tín dụng, thuế, đất đai và hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư. Đồng thời, tăng cường lồng ghép, sử dụng hiệu quả nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển vùng, chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu và các dự án hợp tác quốc tế, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và hạn chế sự phân tán, chồng chéo nguồn lực.
Hai là, phát triển nông nghiệp sinh thái, lâm nghiệp bền vững gắn với khai thác lợi thế bản địa và chuyển đổi số.
Tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng phát triển xanh, sinh thái, ứng dụng khoa học – công nghệ và thích ứng với biến đổi khí hậu; hình thành các vùng sản xuất tập trung đối với cây dược liệu, cây ăn quả ôn đới, cây lâm nghiệp và các giống vật nuôi đặc sản có lợi thế cạnh tranh, như: quế, hồi, thảo quả, chè Shan tuyết, bò Mông, lợn đen bản địa… gắn với bảo tồn nguồn gen và phát huy giá trị tri thức bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, thực hiện hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng; phát triển kinh tế dưới tán rừng, kinh tế tuần hoàn và từng bước tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng. Đây vừa là giải pháp tạo sinh kế ổn định, vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh.
Khuyến khích hình thành và phát triển các hợp tác xã, doanh nghiệp và mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; ưu tiên đầu tư vào cơ sở sơ chế, chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và tiêu thụ sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử. Phát huy hiệu quả Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), gắn với xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của vùng biên giới phía Bắc, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Ba là, phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch cộng đồng và các ngành dịch vụ nhằm đa dạng hóa sinh kế.
Phát huy lợi thế của hệ thống cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và các khu kinh tế cửa khẩu trên tuyến biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy phát triển thương mại, logistics và dịch vụ. Đầu tư đồng bộ hạ tầng logistics, kho lạnh, trung tâm kiểm định chất lượng, cơ sở sơ chế nông sản và trung tâm giao dịch hàng hóa tại khu vực cửa khẩu, nhằm giảm chi phí lưu thông, hạn chế rủi ro trong xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm địa phương.
Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tham gia chuỗi cung ứng hàng hóa phục vụ xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý cửa khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại biên giới.
Bên cạnh đó, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa gắn với việc bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc. Hỗ trợ người dân phát triển các mô hình homestay, sản phẩm thủ công truyền thống, ẩm thực địa phương và dịch vụ trải nghiệm văn hóa; tăng cường đào tạo kỹ năng quản trị, ngoại ngữ, kỹ năng số và kỹ năng phục vụ du lịch. Qua đó, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch vụ, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và bố trí dân cư gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực gắn với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của từng địa phương. Triển khai hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng trường học tại các xã biên giới; ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ cơ sở và lao động kỹ thuật phục vụ các ngành kinh tế có lợi thế của vùng.
Đẩy mạnh đào tạo nghề trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông – lâm sản, logistics, thương mại điện tử, du lịch và dịch vụ cửa khẩu; khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã. Tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm sau tốt nghiệp.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác định canh, định cư, bố trí, sắp xếp dân cư phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch thế trận quốc phòng toàn dân. Gắn phát triển các khu dân cư biên giới với việc xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống, yên tâm sản xuất, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị địa phương.
Xây dựng cơ sở dữ liệu số về dân cư, đất đai, tài nguyên rừng, mô hình sinh kế và các chương trình hỗ trợ nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách, quản lý và giám sát.
Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) trong quản lý tài nguyên, dự báo thiên tai, quản lý vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc và cảnh báo thị trường. Đồng thời, phổ cập kỹ năng số cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương nhằm nâng cao năng lực tiếp cận thương mại điện tử, dịch vụ tài chính số và các nền tảng quản trị sản xuất.
Bên cạnh đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình, dự án phát triển sinh kế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá độc lập việc thực hiện chính sách. Kịp thời nhân rộng các mô hình; đồng thời, xử lý những hạn chế, bất cập phát sinh trong quá trình triển khai. Việc nâng cao năng lực quản trị của chính quyền địa phương không chỉ góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững, giảm nghèo đa chiều và giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh khu vực biên giới.
4. Kết luận
Bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn 2021 – 2026, bài viết cho thấy, mặc dù việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao thu nhập và từng bước đa dạng hóa sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số, song tính bền vững của sinh kế vẫn còn hạn chế; khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, biến động của thị trường và yêu cầu phát triển mới chưa cao.
Chính vì vậy, việc triển khai đồng bộ các giải pháp không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số mà còn phát huy lợi thế của khu vực biên giới, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đây cũng là cơ sở để các địa phương tham khảo trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Tuyên Quang (2024). Hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. https://btgdvtu.tuyenquang.dcs.vn/tin/mat-tran-va-doan-the-nhan-dan/ho-tro-sinh-ke-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-ngheo-10869
Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW khóa IX về công tác dân tộc.
Bộ Chính trị (2024). Kết luận số 81-KL/TW ngày 04/6/2024 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 về công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo số 169/BC-BDTTG ngày 30/3/2025 về tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030; giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025; và kiến nghị, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2025). Quyết định số 217/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/02/2025 về việc công bố kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025.
Cục Thống kê tỉnh Lai Châu (2025). Báo cáo số 03/BC-CTK ngày 02/01/2025 về tình hình kinh tế – xã hội tháng 12 và năm 2024 của tỉnh Lai Châu.
Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai (2025). Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 08/7/2025 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.
Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2023). Nghị quyết số 13/2023/NQ-HĐND ngày 30/3/2023 quy định chuẩn nghèo đa chiều áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025.
Quốc hội (2019). Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I (2021 – 2025).
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo số 02/BC-UBND ngày 06/01/2025 về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh tháng 12 và cả năm 2024; nhiệm vụ chủ yếu tháng 01 và Quý I/2025 của tỉnh Lào Cai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025). Kế hoạch số 81/KH-UBND ngày 12/9/2025 về công tác đào tạo nghề trong 4 tháng cuối năm 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2026). Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 09/01/2026 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III, giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (2025). Hơn 56.500 lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Cao Bằng được tư vấn, hỗ trợ tạo việc làm. https://caobang.gov.vn/van-hoaxa-hoi/hon-56-500-lao-dong-dan-toc-thieu-so-tren-dia-ban-tinh-cao-bang-duoc-tu-van-ho-tro-tao-viec-lam-1065967
Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2026). Sở Nông nghiệp và Môi trường: Tổng kết năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. https://laichau.gov.vn/tin-tuc-su-kien/hoat-dong-cua-lanh-dao-tinh/so-nong-nghiep-va-moi-truong-tong-ket-nam-2025-trien-khai-nhiem-vu-nam-20262.html
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025). Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2025. https://vpubnd.laocai.gov.vn/thong-tin-kinh-te-xa-hoi/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tinh-lao-cai-thang-10-va-10-thang-nam-2025-1574691
Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2025). Hướng nghiệp, đào tạo nghề là “chìa khóa” để nâng cao thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/huong-nghiep-dao-tao-nghe-chia-khoa-nang-cao-thu-nhap-bao-dam-an-sinh-xa-hoi
Tạp chí Quản lý nhà nước (2025). Bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số gắn với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/25/bao-dam-sinh-ke-ben-vung-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-gan-voi-cung-co-tiem-luc-quoc-phong-an-ninh-tren-dia-ban-cac-tinh-bien-gioi-phia-bac-hien-nay/
Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang. (2025). Tăng cường tuyển sinh đào tạo nghề phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. https://nongthonmoituyenquang.gov.vn/tin-tuc/tang-cuong-tuyen-sinh-dao-tao-nghe-phi-nong-nghiep-tren-dia-ban-tinh-4068.html



