Institutional reform and defining the role of the developmental state in development-oriented national governance in Vietnam
TS. Đoàn Văn Dũng
Bộ Nội vụ
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển ở Việt Nam, thể chế là phương diện nền tảng, quy định khuôn khổ và động lực vận hành của toàn hệ thống. Sau cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, các vấn đề về cơ cấu và điểm nghẽn có tính gốc rễ đã cơ bản được giải quyết; chuyển sang hạn chế ở tư duy quản trị chậm đổi mới và ở thể chế còn thiên về kiểm soát, với khoảng cách đáng kể giữa quy định và thực thi. Trên cơ sở làm rõ vai trò của Nhà nước kiến tạo và thể chế phát triển trong nền quản trị quốc gia, bài viết phân tích thực trạng và đề xuất ba quyết sách chiến lược có quan hệ hữu cơ: xác lập lại chức năng của Nhà nước theo hướng kiến tạo; xây dựng thể chế khuyến khích đổi mới, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm; đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Từ khóa: Nền quản trị quốc gia; nhà nước kiến tạo; thể chế phát triển; hoàn thiện thể chế; kỷ nguyên mới.
Abstract: In Vietnam’s development-oriented national governance framework, institutions serve as the foundation, defining the framework and driving the operation of the entire system. Following the organizational streamlining reform, structural issues have been largely resolved; the root causes of bottlenecks now lie in a governance mindset that is slow to innovate and in institutions that remain overly focused on control, with a significant gap between regulations and their implementation. Based on a clarification of the role of the enabling state and development-oriented institutions in national governance, this article analyzes the current situation and proposes three strategically interconnected policy measures: redefining the state’s functions toward an enabling approach; establishing institutions that encourage innovation, accept controlled risks, and protect officials who dare to think and act; and fundamentally reforming the processes of lawmaking and law enforcement.
Keywords: National governance; proactive state; development institutions; institutional reform; new era.
1. Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả” và Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về xây dựng nền quản trị quốc gia: Nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc dẫn dắt và điều phối, đồng thời, coi trọng hơn vai trò của thị trường và xã hội. Trong bước chuyển đó, câu hỏi có tính nền tảng nhất đối với nền quản trị quốc gia không phải là tổ chức bộ máy như thế nào, mà là Nhà nước nên làm gì và làm bằng cách nào; trả lời câu hỏi này chính là xác lập lại vai trò của Nhà nước và hoàn thiện thể chế phát triển.
Nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển ở Việt Nam có thể được tiếp cận theo 4 phương diện cấu thành. Đó là, hoàn thiện thể chế; nâng cao năng lực của các chủ thể; tăng cường đổi mới, sáng tạo; và phát triển các lĩnh vực trọng điểm. Trong bốn phương diện đó, thể chế giữ vai trò nền tảng, quy định cấu trúc động lực để các phương diện còn lại được hình thành và vận hành, năng lực của các chủ thể chỉ phát triển được trong một khuôn khổ thể chế phù hợp; đổi mới, sáng tạo chỉ lan tỏa khi thể chế khuyến khích và bảo vệ; các lĩnh vực trọng yếu chỉ được quản trị hiệu quả khi có nền tảng thể chế đồng bộ.
Việt Nam đang thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy chưa từng có tiền lệ, với việc sắp xếp lại các bộ theo hướng đa ngành; giảm số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xuống còn 34 và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi những vấn đề về cơ cấu đã cơ bản được giải quyết, trọng tâm cải cách nền quản trị quốc gia trong giai đoạn tới không còn là tiếp tục điều chỉnh tổ chức mà chuyển sang đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển. Thực tiễn cho thấy, đây cũng là điểm nghẽn còn đậm nét nhất.
2. Thể chế và vai trò Nhà nước kiến tạo trong nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển
2.1. Nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển và vị trí nền tảng của thể chế
Nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển là tổng thể các thể chế, cơ chế, công cụ và chuẩn mực điều phối hành động giữa Nhà nước, thị trường và xã hội nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững và bao trùm. Ở Việt Nam, đó là nền quản trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Việc tiếp thu các mô hình, công cụ quản trị hiện đại của thế giới phải trên cơ sở chọn lọc, phù hợp với thể chế chính trị, hệ thống pháp luật và điều kiện thực tiễn của đất nước, chứ không sao chép máy móc.
Nền quản trị quốc gia được cấu thành bởi nhiều trụ cột có quan hệ tương tác chặt chẽ: thể chế phát triển; bộ máy hành pháp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; nền công vụ kiến tạo và chuyên nghiệp; sự tham gia của xã hội; nền tảng quản trị số; và cơ chế kiểm soát quyền lực. Trong các trụ cột đó, thể chế là trụ cột nền tảng, bởi nó xác lập khuôn khổ pháp lý và cấu trúc động lực để các trụ cột còn lại vận hành. Chính vì vậy, khi bàn về đổi mới nền quản trị quốc gia, việc hoàn thiện thể chế và xác lập lại vai trò của Nhà nước phải được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu.
Nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển được nhận diện qua một số đặc trưng cơ bản, làm căn cứ để đánh giá mức độ hiện đại và hiệu quả của nền quản trị này. Đó là, lấy định hướng phát triển và tạo giá trị công cho Nhân dân làm trục trung tâm, coi quản trị là phương thức chứ không phải mục đích tự thân; kết hợp hài hòa quản lý và điều phối giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; đặt trọng tâm vào năng lực thể chế và năng lực thực thi của Nhà nước; ra quyết định ngày càng dựa trên dữ liệu, bằng chứng và học hỏi chính sách; gắn kết chặt chẽ giữa minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực; bảo đảm tính bao trùm và lấy người dân làm trung tâm. So chiếu các đặc trưng này với thực tiễn nước ta cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay nằm ở khâu năng lực thể chế và năng lực thực thi.
2.2. Nhà nước kiến tạo phát triển – đổi mới vai trò của Nhà nước trong nền quản trị quốc gia
Trong mô hình quản lý hành chính trước đây, Nhà nước thường thực hiện đồng thời nhiều chức năng, vừa hoạch định, vừa trực tiếp làm, dẫn tới có lĩnh vực, có thời điểm dàn trải nguồn lực và suy giảm hiệu quả ở những chức năng cốt lõi. Đổi mới nền quản trị quốc gia đòi hỏi chuyển sang mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển, trong đó Nhà nước dành sự quan tâm nhiều hơn cho nhiệm vụ định hướng chiến lược, xây dựng thể chế và bảo đảm việc thực thi. Theo đó, Nhà nước tập trung vào những chức năng chiến lược mà không chủ thể nào khác có thể thay thế, gồm hoạch định chiến lược và định hướng phát triển, xây dựng và bảo đảm thực thi pháp luật, đầu tư phát triển hạ tầng nền tảng, quản trị rủi ro quốc gia, bảo đảm công bằng xã hội và an sinh cho người dân; đồng thời, chuyển giao cho thị trường và xã hội những hoạt động mà các chủ thể này đảm nhiệm hiệu quả hơn, theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và định hướng xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Cần nhấn mạnh rằng, kiến tạo không đồng nghĩa với việc không thực hiện đầy đủ chức năng quản lý. Trong nền quản trị quốc gia hiện đại, việc dẫn dắt một hệ thống có sự tham gia của nhiều chủ thể đòi hỏi năng lực điều tiết, giám sát và bảo đảm thực thi ở mức độ cao hơn. Đây chính là nội hàm của việc nâng cao năng lực nhà nước theo nghĩa rộng, bao gồm: năng lực hoạch định chính sách, năng lực điều phối liên ngành, năng lực thực thi và năng lực giám sát, phản hồi. Sự lãnh đạo của Đảng, với việc xác lập tầm nhìn, thứ tự ưu tiên và chuẩn mực đánh giá, là nhân tố bảo đảm tính tự chủ và tính liên tục của định hướng phát triển, một lợi thế thể chế mà nền quản trị quốc gia của nước ta cần phát huy tối đa thông qua phương thức lãnh đạo chiến lược bằng thể chế, thay vì can thiệp vào các quyết định quản lý cụ thể.
2.3. Thể chế phát triển và nút thắt của khuynh hướng thiên về kiểm soát
Thể chế của nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển là hệ thống các quy tắc pháp lý, chính sách và chuẩn mực điều chỉnh hành vi của các chủ thể theo hướng tạo điều kiện cho phát triển, thay vì chỉ kiểm soát hoặc hạn chế. Sự phân biệt giữa luật để quản lý và luật để phát triển có ý nghĩa thực tiễn trực tiếp đối với nền quản trị quốc gia ở nước ta. Một quy định được thiết kế chủ yếu để thuận tiện cho việc kiểm soát của cơ quan quản lý có thể vô tình làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian và thu hẹp không gian sáng tạo của doanh nghiệp, người dân; ngược lại, một quy định xuất phát từ mục tiêu phát triển sẽ đặt câu hỏi trước hết về việc làm thế nào để tạo thuận lợi, giảm rào cản và khuyến khích đầu tư, đổi mới, trong khi vẫn bảo đảm các mục tiêu quản lý cần thiết bằng những công cụ ít tốn kém hơn. Chuyển từ tư duy thứ nhất sang tư duy thứ hai chính là nội dung cốt lõi của việc hoàn thiện thể chế trong nền quản trị quốc gia.
Một vấn đề đặt ra là vì sao khuynh hướng thiên về kiểm soát trong nền quản trị quốc gia của nước ta lại có sức ì lớn. Có thể chỉ ra 3 nguyên nhân đan xen.
Một là, sức ì của mô hình kế hoạch hóa tập trung: các quy tắc, quy trình và thói quen hình thành trong mô hình quản lý tập trung trước đây tiếp tục định hình hành vi của tổ chức và cá nhân, ngay cả khi bối cảnh và mục tiêu đã thay đổi.
Hai là, cấu trúc động lực bất đối xứng trong khu vực công: đối với người thực thi, chi phí của một sai sót do chủ động đổi mới thường cao và cụ thể, có thể quy về trách nhiệm cá nhân, trong khi lợi ích của đổi mới lại khuếch tán và khó ghi nhận, còn chi phí của việc chỉ làm đúng thủ tục lại gần như bằng không.
Ba là, sự thiếu vắng ranh giới pháp lý rõ ràng giữa sai sót do đổi mới, thử nghiệm và vi phạm vì vụ lợi khiến lựa chọn an toàn nhất là làm đúng quy trình một cách hình thức. Nhận diện đúng 3 nguyên nhân này cho thấy, khuynh hướng thiên về kiểm soát không phải là biểu hiện của sự yếu kém hay thiếu quyết tâm ở từng cá nhân, mà là hệ quả của cấu trúc thể chế và động lực; do đó, chỉ có thể khắc phục bằng cách thay đổi thể chế, chứ không chỉ bằng lời kêu gọi đổi mới nhận thức.
3. Thực trạng phương diện thể chế của nền quản trị quốc gia ở Việt Nam
Trên phương diện tích cực, hệ thống thể chế của nền quản trị quốc gia tiếp tục được hoàn thiện theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện. Một dấu mốc quan trọng là Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, lần đầu tiên xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; đồng thời định hướng xóa bỏ cơ chế xin phép, chấp thuận và cắt giảm ít nhất 30% thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ. Đây là biểu hiện cụ thể của sự dịch chuyển thể chế trong nền quản trị quốc gia từ kiểm soát sang kiến tạo, thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng trong việc mở rộng không gian cho thị trường và xã hội.
Tuy nhiên, hạn chế bao trùm và có tính gốc rễ nhất của nền quản trị quốc gia hiện nay là tư duy quản trị chưa chuyển đổi tương xứng với yêu cầu của mô hình quản trị phục vụ phát triển. Nghiên cứu về thực trạng cho thấy, tư duy quản trị, chứ không phải năng lực bộ máy hay nguồn lực, mới là hạn chế lớn nhất; tư duy phục vụ phát triển tuy đã hình thành ở tầm quan niệm nhưng chưa được chuyển hóa đầy đủ vào thực hành. Biểu hiện cụ thể là sự tồn tại dai dẳng của tâm lý hành chính, quy trình, né tránh rủi ro; một bộ phận cán bộ còn đồng nhất đổi mới với việc tinh gọn bộ máy mà chưa nhận thức được yêu cầu sâu xa hơn là đổi mới cơ chế, phương thức hoạt động và tư duy phục vụ. Đúng như phân tích ở trên, đây là hệ quả của cấu trúc động lực trong nền quản trị quốc gia chứ không đơn thuần là vấn đề nhận thức cá nhân.
Trên phương diện thể chế, dù đã có nhiều tiến bộ, khuynh hướng thiên về kiểm soát vẫn còn rõ rệt và pháp luật chưa gắn kết thật chặt chẽ với mục tiêu phát triển; thể chế còn thiếu tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ, thiếu ổn định và khả năng dự báo còn hạn chế. Biểu hiện nổi bật nhất là khoảng cách giữa quy định và thực thi, trong đó khâu tổ chức thực hiện được đánh giá là yếu nhất trong chu trình chính sách. Điều này còn được phản ánh qua tình trạng mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính còn dao động đáng kể giữa các địa phương, cho thấy kết quả cải cách phụ thuộc nhiều vào điều kiện và quyết tâm của từng nơi hơn là vào một chuẩn mực thống nhất được bảo đảm trên toàn hệ thống. Nói cách khác, vấn đề của nền quản trị quốc gia ở giai đoạn hiện nay không còn chủ yếu là thiếu quy định, mà là năng lực chuyển hóa các quy định thành kết quả thực tế.
Về nguyên nhân, các hạn chế nêu trên chủ yếu xuất phát từ năng lực thực thi của hệ thống, chứ không phải do thiếu quyết tâm chính trị. Trong quan hệ giữa nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định; nguyên nhân gốc rễ là sự chuyển đổi tư duy, nhận thức chưa theo kịp yêu cầu; việc chuyển hóa mô hình quản trị mới thành chuẩn mực hành vi và văn hóa tổ chức còn chậm. Đi sâu hơn, có thể nhận diện một số nút thắt cụ thể: năng lực hoạch định và tổ chức thực thi chính sách còn hạn chế, có nguồn gốc ở công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với thực tiễn và ở cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ chưa thực sự dựa trên năng lực và kết quả; cơ chế phối hợp, điều phối chưa được thiết kế và vận hành hiệu quả; thiếu cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám đổi mới; công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và dự báo chiến lược chưa theo kịp yêu cầu. Những nút thắt này đều thuộc nhóm có thể chủ động khắc phục, và chính vì vậy mà trở thành đối tượng trực tiếp của các quyết sách trong phần sau.
Bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy vừa qua đặt ra yêu cầu về thể chế mới. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp và giảm mạnh số đơn vị hành chính cấp tỉnh mở ra dư địa lớn để tinh gọn và nâng cao hiệu quả, nhưng đồng thời cũng làm phát sinh hàng loạt vấn đề về phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, về việc thiết lập cơ chế phối hợp và về bảo đảm tính liên tục trong cung ứng dịch vụ công. Nếu khung thể chế về phân cấp, phân quyền và chức năng của từng cấp không được hoàn thiện đồng bộ với việc sắp xếp tổ chức, thì những kết quả về cơ cấu có thể không chuyển hóa thành hiệu quả vận hành. Đây là lý do vì sao việc hoàn thiện thể chế phải được xác định là trọng tâm của giai đoạn tiếp theo, kế thừa và phát huy những thành quả của cuộc cải cách tổ chức bộ máy.
4. Ba quyết sách chiến lược hoàn thiện thể chế của nền quản trị quốc gia
Việc đề xuất các quyết sách quán triệt hai quan điểm chỉ đạo xuyên suốt. Một là, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và định hướng xã hội chủ nghĩa như nguyên tắc nền tảng của nền quản trị quốc gia, đồng thời đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng lãnh đạo chiến lược thông qua thể chế. Hai là, lấy phát triển nhanh, bao trùm, bền vững và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu tối cao, đồng thời làm thước đo cuối cùng của mọi quyết sách.
Trên cơ sở đó, ba quyết sách chiến lược về thể chế được thiết kế để giải quyết ba khâu then chốt, tác động lần lượt vào cấu trúc chức năng của Nhà nước, cấu trúc động lực của đội ngũ và cơ chế hiện thực hóa pháp luật. Cần lưu ý rằng ba đề xuất này đều đạt tầm quyết sách chiến lược vì chúng xác lập lại một ranh giới hoặc một thước đo ở tầm cấu trúc của nền quản trị quốc gia, đòi hỏi cam kết dài hạn, khó đảo ngược và thuộc thẩm quyền của Trung ương, Bộ Chính trị và Quốc hội.
Thứ nhất, xác lập lại chức năng của Nhà nước theo hướng Nhà nước kiến tạo và phát triển.Đây là quyết sách nền tảng của nền quản trị quốc gia, có tầm chi phối cao nhất, bởi nó không dừng ở việc cải tiến quy trình hay tinh giản bộ máy, mà xác lập lại từ tận gốc quan hệ giữa Nhà nước với thị trường và xã hội, tức là thay đổi mô hình quản trị. Bản chất của quyết sách là xác định lại phạm vi và phương thức hoạt động của Nhà nước theo tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Điểm mới đáng chú ý là đề xuất xác lập một cơ chế điều phối chiến lược quốc gia thống nhất theo nguyên tắc toàn chính phủ, bảo đảm liên thông về mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm giữa các nghị quyết chiến lược đã ban hành, khắc phục tình trạng mỗi nghị quyết vận hành theo một chương trình riêng, thiếu kết nối tổng thể.
Các nhiệm vụ trọng tâm, gồm: rà soát, xác định rõ chức năng của từng cấp, từng cơ quan theo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp tỉnh và cấp xã, gắn phân quyền với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát; hoàn thiện cơ chế để khu vực tư nhân và tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công; kiện toàn bộ máy theo hướng bộ quản lý đa ngành, tập trung vào xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và thanh tra, kiểm tra, không làm thay các chủ thể thực hiện. Quyết sách thuộc thẩm quyền quyết định của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, được Quốc hội và Chính phủ thể chế hóa; lộ trình cơ bản hoàn thành trong giai đoạn 2026-2030 và vận hành ổn định trong giai đoạn 2031-2035. Tác động dự kiến là giúp bộ máy tập trung nguồn lực vào các chức năng cốt lõi, giảm chồng chéo, đùn đẩy hoặc bỏ trống trách nhiệm, đồng thời mở rộng không gian để thị trường và xã hội phát huy vai trò.
Thứ hai, xây dựng thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.Đây là quyết sách có ý nghĩa đột phá đối với động lực của nền quản trị quốc gia, vì tác động đến cấu trúc động lực và tâm lý hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong thực tế, nhiều mô hình tốt, cách làm sáng tạo còn gắn với quyết tâm cá nhân của người đứng đầu mà chưa được thể chế hóa và nhân rộng, do thiếu cơ chế bảo vệ; tâm lý e ngại rủi ro, giữ an toàn đang là trạng thái phổ biến. Đây không phải là vấn đề của từng cá nhân, mà là vấn đề của cấu trúc động lực chung, chỉ có thể giải quyết bằng thể chế.
Bản chất của quyết sách là chuyển từ tư duy quản lý thiên về phòng ngừa rủi ro sang thể chế cho phép thử nghiệm có kiểm soát, xác lập rõ trong pháp luật ranh giới giữa sai sót do đổi mới, thử nghiệm với vi phạm do vụ lợi, tiêu cực; đây là sự thể chế hóa và phát triển tinh thần Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 và cụ thể hóa định hướng chấp nhận rủi ro tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm: xây dựng khung pháp lý về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, quy định rõ phạm vi, điều kiện, thời hạn và cơ chế giám sát; quy định tiêu chí cụ thể để phân biệt và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm; đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra theo hướng quản trị rủi ro. Do liên quan đến chế độ trách nhiệm và việc áp dụng pháp luật, các quyết sách cần được thể chế hóa ở cấp luật hoặc nghị quyết của Quốc hội, ưu tiên hoàn thiện sớm trong giai đoạn 2026-2030. Tác động dự kiến là giải phóng tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống, khắc phục tâm lý sợ trách nhiệm, tạo điều kiện để các mô hình mới được thử nghiệm, tổng kết và nhân rộng.
Thứ ba, đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật gắn kết chặt chẽ với mục tiêu phát triển và được thực thi nghiêm minh, hiệu quả. Đây là quyết sách trực tiếp thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị, tác động đến khâu hiện thực hóa trong nền quản trị quốc gia. Pháp luật vừa là công cụ, vừa là môi trường vận hành của toàn bộ nền quản trị; chất lượng và hiệu lực thực thi của pháp luật quyết định khả năng chuyển hóa mọi chủ trương thành kết quả phát triển.
Trong bối cảnh nước ta đã ban hành một khối lượng lớn văn bản pháp luật nền tảng, thách thức lớn nhất không còn là thiếu quy định, mà là bảo đảm các quy định được thi hành nghiêm minh, thống nhất và hiệu quả. Ở khâu xây dựng, cần chuyển mạnh tư duy từ bị động sang chủ động kiến tạo và phát triển, bảo đảm pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, gắn với việc đánh giá tác động chính sách thực chất và tham vấn rộng rãi. Ở khâu thi hành, cần coi tổ chức thi hành là khâu then chốt, tăng cường hiệu lực gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong việc theo dõi việc thi hành, đồng thời xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá tác động và cập nhật chính sách thường xuyên trên cơ sở phản hồi từ thực tiễn. Mục tiêu là thu hẹp khoảng cách giữa quy định và thực thi, đưa công tác xây dựng và thi hành pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia, phấn đấu đưa môi trường đầu tư, kinh doanh vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Tác động dự kiến là nâng cao chất lượng và hiệu lực của hệ thống pháp luật, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Ba quyết sách nêu trên có quan hệ tuần tự và bổ sung, tạo thành một chỉnh thể trong nền quản trị quốc gia: quyết sách thứ nhất định hình cấu trúc chức năng; quyết sách thứ hai giải phóng động lực bên trong; quyết sách thứ ba bảo đảm hiệu lực trong việc chuyển hóa chủ trương thành kết quả. Nếu chỉ xác lập lại chức năng mà không thay đổi động lực thì bộ máy mới vẫn vận hành theo quán tính cũ; nếu chỉ khuyến khích đổi mới mà không bảo đảm hiệu lực pháp luật thì đổi mới thiếu khuôn khổ ổn định; và nếu chỉ chú trọng pháp luật mà không xác lập lại chức năng thì pháp luật vẫn phản ánh mô hình quản lý cũ. Vì vậy, ba quyết sách cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm.
Trong ba quyết sách, đề xuất về cơ chế điều phối chiến lược quốc gia thống nhất là một điểm mới cần được luận chứng thêm về hình thức pháp lý phù hợp với thể chế chính trị nước ta. Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết chiến lược bao phủ hầu hết các trụ cột của nền quản trị quốc gia, từ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân đến giáo dục, y tế, hội nhập quốc tế. Đây là một hệ thống chủ trương tương đối đầy đủ, song mỗi nghị quyết lại được tổ chức thực hiện theo một chương trình riêng, có ban chỉ đạo và cơ chế theo dõi riêng, trong khi chưa có cơ chế bảo đảm sự liên thông về mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm giữa các nghị quyết. Việc xác lập một cơ chế điều phối chiến lược thống nhất ở tầm quốc gia sẽ khắc phục nguy cơ chồng chéo, phân tán và cạnh tranh nguồn lực giữa các chương trình, bảo đảm cả hệ thống cùng hướng tới các ưu tiên phát triển chung của đất nước.
5. Điều kiện và lộ trình thực hiện
Các quyết sách chiến lược về thể chế của nền quản trị quốc gia có đặc điểm là chi phí thường phát sinh trước, trong khi lợi ích đến muộn và tác động vượt ra ngoài phạm vi của một nhiệm kỳ. Vì vậy, điều kiện then chốt đầu tiên là bảo đảm tính liên tục, nhất quán của định hướng qua các nhiệm kỳ, tránh tình trạng cải cách bị gián đoạn hoặc đảo chiều. Sự lãnh đạo của Đảng chính là nhân tố bảo đảm tính liên tục đó; bối cảnh hiện nay, với hệ mục tiêu được xác lập tại Đại hội XIV và chùm nghị quyết chiến lược đã bao phủ các trụ cột của nền quản trị quốc gia, đang tạo ra thời cơ thuận lợi cần được tận dụng kịp thời. Điều kiện thứ hai là chuyển hóa quyết tâm chính trị đã có thành cơ chế trách nhiệm cụ thể, đo lường được và có hệ quả thực chất đối với cán bộ. Điều kiện thứ ba là năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là năng lực thiết kế và vận hành thể chế mới, đòi hỏi phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và cơ chế tuyển dụng, đánh giá, đãi ngộ theo năng lực và kết quả.
Về lộ trình tổng thể, ba quyết sách được triển khai gối đầu nhau: giai đoạn 2026-2030 tập trung tạo lập nền tảng, hoàn thiện khung pháp lý về chức năng của Nhà nước, về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và về đổi mới xây dựng, thi hành pháp luật; giai đoạn 2031-2035 hoàn thiện và vận hành ổn định các thiết chế mới; giai đoạn tiếp theo tiếp tục nâng cao chất lượng, gắn với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045. Cả ba điều kiện cần được triển khai đồng bộ, bởi thể chế, con người và động lực là những cấu phần bù trừ lẫn nhau trong nền quản trị quốc gia.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện thể chế và xác lập lại vai trò của Nhà nước chỉ phát huy hiệu quả khi đồng thời phát huy được vai trò của các chủ thể ngoài Nhà nước. Khi Nhà nước chuyển giao cho thị trường và xã hội những hoạt động mà các chủ thể này đảm nhiệm hiệu quả hơn, cần đồng thời hoàn thiện thể chế để khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia thực chất vào cung ứng dịch vụ công và vào quá trình hoạch định, giám sát chính sách. Đây là điều kiện để nền quản trị quốc gia thực sự trở thành nền quản trị đa chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm nhưng không ôm đồm, còn thị trường và xã hội được phát huy đầy đủ vai trò của mình. Chỉ khi đó, việc xác lập lại chức năng của Nhà nước mới đạt được mục tiêu kép: vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, vừa giải phóng và huy động tối đa các nguồn lực của xã hội cho phát triển.
6. Kết luận
Hoàn thiện thể chế và xác lập lại vai trò của Nhà nước kiến tạo là nhiệm vụ nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với việc đổi mới nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển ở Việt Nam. Các nút thắt về tư duy và thể chế mang tính cấu trúc, bắt nguồn từ sức ì và cấu trúc động lực trong khu vực công, nên không thể tháo gỡ chỉ bằng lời kêu gọi đổi mới nhận thức, mà phải bằng những thay đổi về cấu trúc chức năng, động lực và cơ chế thực thi. Ba quyết sách chiến lược nêu trên, khi được thực hiện đồng bộ, có lộ trình và dưới sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, sẽ tạo nền tảng để nền quản trị quốc gia vận hành hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.



