Solutions for developing Vietnam’s social policy system to adapt to extraordinary circumstances
ThS. Phan Tiến Âu
Trường Cao đẳng Công thương Việt Nam
Lê Thị Chung
Trường Chính trị tỉnh Lai Châu
Emai: aucetem@gmail.com; chungctlc@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh xã hội có thể gia tăng xuất hiện các tình huống bất thường, như: đại dịch, thiên tai, biến đổi khí hậu, khủng hoảng kinh tế… sẽ làm gia tăng thất nghiệp, giảm thu nhập và khiến các nhóm yếu thế dễ rơi vào tình trạng khó khăn. Điều này đặt ra yêu cầu hệ thống chính sách xã hội của quốc gia phải có khả năng ứng phó nhanh và linh hoạt. Theo đó, hệ thống chính sách xã hội cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu “khắc phục hậu quả” sang chủ động phòng ngừa và tăng khả năng chống chịu. Đây là cơ sở nền tảng để Việt Nam vừa bảo đảm ổn định xã hội, vừa nâng cao khả năng chống chịu của người dân trước những biến động khó lường. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề đặt ra; đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển hệ thống chính sách xã hội bảo đảm an sinh trong điều kiện bình thường và có khả năng “co giãn”, phản ứng nhanh và phục hồi sau các cú sốc thiên tai, dịch bệnh, tình huống bất thường.
Từ khóa: Chính sách xã hội; phát triển hệ thống; tình huống bất thường; khả năng chống chịu; ứng phó nhanh và linh hoạt.
Abstract: In a social context where the occurrence of extraordinary situations—such as pandemics, natural disasters, climate change, and economic crises—may increase, these events will lead to rising unemployment, reduced incomes, and make vulnerable groups more likely to fall into hardship. This necessitates that the nation’s social policy system be capable of responding quickly and flexibly. Accordingly, the social policy system needs to shift from a primarily “mitigating consequences” approach to one that proactively prevents problems and enhances resilience. This is the foundation for Vietnam to both ensure social stability and strengthen its people’s resilience in the face of unpredictable change. This article analyzes the issues at hand. It proposes solutions for building a social policy system that ensures social security under normal conditions while also being “resilient,” capable of rapid response, and able to recover from natural disasters, epidemics, and extraordinary situations.
Keywords: Social policy; system development; extraordinary situations; resilience; rapid and flexible response.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh thế giới chuyển dịch từ mô hình VUCA (Volatility-biến động; Uncertainty – bất định; Complexity – phức tạp; Ambiguity – mơ hồ) sang mô hình BANI (Brittle – mong manh; Anxious-lo âu; Nonlinear- phi tuyến tính; Incomprehensible – khó hiểu), được đề xuất bởi Jamais Cascio – nhà văn và nhà tương lai học người Mỹ vào năm 2020. Thế giới hiện đại đang chuyển từ thời đại VUCA sang BANI, từ một môi trường đầy biến động và phức tạp sang một thế giới dễ vỡ, lo âu và phi tuyến tính hơn.
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam phải đối mặt với nhiều tình huống bất thường, như: đại dịch Covid-19, thiên tai, biến đổi khí hậu và những biến động kinh tế – chính trị và an ninh thế giới… Những sự kiện này không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị – xã hội mà còn tác động trực tiếp đến đời sống của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là càng phải phát triển hệ thống chính sách xã hội có khả năng thích ứng linh hoạt và ứng phó hiệu quả với các tình huống bất thường. Những bài học từ đại dịch Covid-19 cho thấy, cần xây dựng một hệ thống chính sách xã hội hiện đại, toàn diện, linh hoạt và bền vững. Việc thực hiện tốt các giải pháp về hoàn thiện thể chế, mở rộng an sinh xã hội, chuyển đổi số, tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực quản lý sẽ giúp Việt Nam chủ động ứng phó với các rủi ro trong tương lai, bảo vệ quyền lợi của người dân và tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.
2. Phát triển hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam thích ứng với tình huống bất thường
Thực tiễn vận động của thế giới hiện nay cho thấy, xã hội càng đi vào quỹ đạo hiện đại và phát triển, càng có nguy cơ đối mặt với tình huống bất thường; song cũng càng có quyết tâm, năng lực, kinh nghiệm nhiều hơn để đối mặt và vượt qua tình huống bất thường. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam không thể xây dựng và phát triển một xã hội mà không có tình huống bất thường có thể xảy ra; nhưng cần phải xây dựng, phát triển một xã hội có quyết tâm cao, đủ năng lực, trách nhiệm để giải quyết thành công các tình huống bất thường có thể xảy ra.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, nhận định: “Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a).
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhận định: nhiều vấn đề về chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững đã được đặt ra nhưng chậm nghiên cứu, giải quyết như: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, già hoá dân số, chênh lệch giới tính, phân hoá giàu nghèo, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, vấn đề quản trị xã hội, nhất là trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp… (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026c).
Trong lĩnh vực phát triển hệ thống chính sách xã hội của đất nước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu: Dự báo đúng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a). Đồng thời, “Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng chủ nghĩa xã hội trong các chính sách xã hội. Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021b).
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập hết sức cụ thể đối với những vấn đề liên quan đến chính sách xã hội. Chẳng hạn: an sinh xã hội, an ninh con người, phúc lợi xã hội chưa được bảo đảm vững chắc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a). Nhận thức về các vấn đề xã hội, nhất là an sinh xã hội, trợ giúp xã hội…, chưa đầy đủ, toàn diện. Đổi mới tư duy về phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội còn chậm, nhất là cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, chưa phát huy tốt hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực và theo kịp yêu cầu phát triển xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b).
Tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ diễn ra ở một số địa phương, vùng, miền trong một số giai đoạn thời điểm. Lao động phi chính thức còn nhiều. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên còn cao. Bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, nhóm dân cư còn cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026d). Văn kiện Đại hội lần thứ XIV cũng xác định việc xử lý mối quan hệ cơ bản, toàn diện: giữa phát triển chính sách xã hội và định hướng chủ nghĩa xã hội; giữa chính sách xã hội với quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.
Có thể hiểu, tình huống bất thường chỉ một hiện tượng, sự kiện diễn ra trong xã hội có nguyên nhân từ tự nhiên khách quan hoặc chủ quan do con người tạo ra (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh trật tự xã hội…); để lại những hậu quả xã hội ở các mức độ khác nhau. Tình huống bất thường có những đặc điểm cơ bản như sau: (1) Diễn ra một cách bất ngờ, đột ngột, khó dự đoán, dự báo; xuất hiện trái quy luật, ngoài quy luật; (2) Sự việc có thực, tồn tại thực tế; (3) Gây ra hậu quả hoặc đe dọa gây ra hậu quả lớn về kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường và đặc biệt là sức khoẻ và tính mạng con người.
Chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường là đường lối và hành động của Đảng, Nhà nước, phương thức ứng xử của cá nhân và tổ chức mang tính linh hoạt, kịp thời, bền vững, bao trùm, hiện đại, hội nhập và hiệu quả để giải quyết những vấn đề xã hội nãy sinh bất ngờ, xảy ra trên diện rộng, nhằm mục tiêu bảo đảm căn bản quyền con người, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của con người, bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, góp phần phát triển bền vững xã hội. Do đó, chính sách xã hội ứng phó với tình huống bất thường là một tình huống “đặc biệt” trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách xã hội, đòi hỏi cần có sự ứng phó, can thiệp, tác động có tính chất “đặc biệt” của chính sách xã hội.
Chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường có chức năng cốt lõi hướng đến góp phần khắc phục, giảm tác động tiêu cực của tình huống bất thường có thể gây ra. Đồng thời, sớm đưa con người, xã hội trở lại nhịp điệu bình thường trước khi có tình huống bất thường xảy ra. Tình huống bất thường được nhận diện khi xảy ra các thảm họa lớn, do thiên nhiên, con người gây ra trên bình diện xã hội rộng lớn. Đại dịch Covid-19 diễn ra từ đầu năm 2020 – 2022 (Đỗ Văn Quân, 2023) là một biểu hiện tiêu biểu của tình huống bất thường mà Việt Nam và nhân loại phải đối mặt và chiến thắng trong bối cảnh phát triển mới. Khi dịch bệnh Covid-19 lây lan trên diện rộng vượt quá khả năng ứng phó của chính quyền, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức, nhà nước và toàn xã hội.
Chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường được quan tâm và xác định trên các tiêu chí, phương diện:
(1) Chủ thể trong ban hành, tổ chức thực hiện chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường trước hết và quan trọng nhất là Nhà nước, chủ thể Nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo trong ứng phó bất thường. Trong mọi tình huống bất thường, sự phản ứng của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng quyết định. Với vai trò là chủ thể quyền lực, Nhà nước có khả năng huy động và sử dụng các nguồn lực để ứng phó với tình huống bất thường;
(2)Hệ thống chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường nhấn mạnh đến mục tiêu thích ứng linh hoạt và chủ động, dự báo. Bên cạnh đó, chính sách xã hội trong tình huống bình thường cần phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tuân thủ quy quy định và quy trình sẵn và yêu cầu linh hoạt để ứng phó kịp thời, hiệu quả tình huống bất thường;
(3) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, năng lực của cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, nhất là trong những cơ quan, tổ chức liên quan và trực tiếp hoạch định và tổ chức triển khai chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường phải luôn sẵn sàng bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả; có năng lực đưa ra các kịch bản để khắc phục, kiểm soát hạn chế hậu quả của tình huống bất thường;
(4) Mục tiêu trọng tâm và quan trọng nhất của chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường là bảo đảm an toàn cho người dân, ổn định tình hình, sự ổn định về tâm lý xã hội, tránh mọi sự hoảng loạn, rối loạn và các hành vi lệch chuẩn trong bối cảnh tình huống bất thường;
(5) Chủ động chuẩn bị về nguồn lực từ các chủ thể xã hội khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu ngay lập tức, trên một diện rộng của xã hội là một điều kiện tiên quyết của CSXH thích ứng với tình huống bất thường;
(6) Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường không bao giờ là một vấn đề đơn giản; tình huống bất thường có xu hướng ngày càng gia tăng trong bối cảnh phát triển mới.
Các chính sách xã hội được ban hành và tổ chức thực hiện trong đại dịch Covid-19 (tình huống bất thường) ở Việt Nam từ năm 2020 – 2022 về cơ bản đã kịp thời, hoạt động hiệu quả, góp phần hỗ trợ người lao động có việc làm, tăng thu nhập, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; khi người dân gặp rủi ro, được trợ giúp từ các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và/hoặc từ ngân sách nhà nước và cả từ huy động cộng đồng. Đặc biệt, công tác rà soát, lập danh sách tại các địa phương được thực hiện nghiêm túc, kỹ lưỡng nên mặc dù tổ chức thực hiện khẩn cấp nhưng tình trạng trùng, lặp và lợi dụng chính sách không nhiều. Các địa phương đã chi đầy đủ, cơ bản kịp thời tới đối tượng đã được kê khai trong danh sách. Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và cộng đồng dân cư ở địa phương được tăng cường. Một số trường hợp vi phạm bị phát hiện đã và đang được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Từ thực tiễn ứng phó với đại dịch Covid-19 ở Việt Nam cho thấy, khi nhu cầu cuộc sống đòi hỏi phải được giải quyết, nhưng lại chưa có điều kiện xây dựng chính sách, pháp luật thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết, hoặc Chính phủ ban hành các nghị định, quy định để ban hành và tổ chức thực hiện chính sách xã hội, nhằm giải quyết vấn đề xã hội trong tình huống bất thường.
Các chính sách an sinh xã hội, tuy được ban hành nhiều, song vẫn còn có bất cập, nhiều đầu mối, thiếu đồng bộ, khi triển khai thực hiện thì không phù hợp với thực tế. chính sách xã hội chưa bao phủ hết đối tượng, chưa có sự hỗ trợ, kết nối trong tổ chức thực thi chính sách; chênh lệnh mức sống giữa các vùng miền, các đối tượng còn cao. Việc thực hiện chính sách người có công còn nhiều bất cập. Quy định hồ sơ, thủ tục xét và công nhận người có công còn rườm rà, phức tạp, đặc biệt là đối với các đối tượng bị mất giấy tờ do yếu tố khách quan (chiến tranh, hoạt động bí mật), dẫn đến tồn đọng hồ sơ. Mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công chưa phù hợp.
Quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách xã hội còn thiếu tính liên kết, chưa đồng bộ giữa các địa phương. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật về chính sách xã hội khá hoàn thiện, đầy đủ, song vẫn thiếu khung pháp lý về chính sách xã hội tổng thể, cũng như mức độ phối hợp và đồng bộ giữa các chính sách xã hội và các công cụ pháp lý trong quá trình thực hiện còn thấp. Sự chỉ đạo, quản lý của một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa sâu sát, thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc xét duyệt và quản lý đối tượng được hưởng chính sách xã hội còn sai sót, làm thất thoát ngân sách nhà nước. Nguồn lực thực thi chính sách còn hạn chế và thiếu chủ động…
Thành công và những hạn chế của Việt Nam trong ban hành, tổ chức thực hiện chính sách xã hội trong đại dịch Covid-19 (Đỗ Văn Quân, 2023) là một bằng chứng sinh động để Việt Nam tiếp tục thúc đẩy việc phát triển hệ thống chính sách xã hội trong thời gian tới. Thể hiện tính ưu việt của chế độ, uy tín, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò sức mạnh của chủ thể Nhà nước trong bối cảnh phát triển mới, nhất là tình huống bất thường có thể ngày càng gia tăng nhiều hơn, phức tạp hơn. Do đó, việc xác định và kiên định thực hiện mục tiêu cốt lõi trong xây dựng, phát triển hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam từ nay đến năm 2045 là hướng đến toàn dân, bao trùm và toàn diện; đáp ứng các nhu cầu an sinh xã hội và dịch vụ xã hội cho người dân, tạo cơ hội phát triển toàn diện cho mọi người dân và không để ai bị bỏ lại phía sau; hướng đến bảo đảm sự hài lòng, hạnh phúc cho mọi người dân; tạo nền tảng xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, bình đẳng, nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau; đáp ứng mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, đảm bảo định hướng chủ nghĩa xã hội.
3. Một số định hướng giải pháp thúc đẩy hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường
Một là, từng bước nghiên cứu, áp dụng tư duy, phương thức và mô hình quản lý phát triển hệ thống chính sách xã hội.
Bên cạnh tư duy, phương thức và mô hình quản lý nhà nước về chính sách xã hội, cần từng bước thực hiện quản lý phát triển xã hội trong phát triển hệ thống chính sách xã hội đáp ứng những vấn đề đặt ra của quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Do đó, tăng cường sự kết hợp hài hòa giữa tư duy, mô hình, phương thức quản lý nhà nước và tư duy, mô hình, phương thức quản lý phát triển xã hội trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách xã hội của đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045. Phát triển hệ thống chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường ở Việt Nam luôn đặt ra yêu cầu phải bảo đảm các tiêu chí linh hoạt, kịp thời, cụ thể, thống nhất, bền vững, toàn diện bao trùm, hiện đại, hội nhập và hiệu quả…
Hai là, phát triển hệ thống chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường dựa trên nền tảng vai trò và mối quan hệ của nhà nước, thị trường và xã hội.
Trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách xã hội phải thực hiện từ sớm từ xa, thực hiện đồng bộ phối hợp thật tốt, phát huy tối đa vai trò của các chủ thể Nhà nước – thị trường và xã hội. Thống nhất trong nhận thức, tư duy và hành động của hệ thống chính trị và hệ thống xã hội về xử lý mối quan hệ và phát huy vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội trong phát triển hệ thống chính sách xã hội; tức là tìm ra mức độ, nội dung, liều lượng gắn kết, tác động giữa ba thành tố để bảo đảm phát triển hệ thống chính sách xã hội bền vững. Việc xử lý mối quan hệ này có vai trò quan trọng của Nhà nước, thực hiện thông qua việc nhận diện bản chất, mức độ của mối quan hệ và từ đó đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp xử lý mối quan hệ này một cách phù hợp, đúng đắn. Đồng thời, tích cực chuẩn bị và sẵn sàng ứng phó với sự đồng hành quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, tinh thần khẩn trương của các chủ thể; phát huy sức mạnh tổng hợp, lấy lợi ích và nhu cầu người dân làm trung tâm, lấy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và hệ thống xã hội trong ban hành và tổ chức thực hiện chính sách xã hội.
Ba là, phát triển hệ thống chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường phù hợp với mục tiêu, yêu cầu, điều kiện phát triển của đất nước.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với việc phát triển hệ thống chính sách xã hội có khả năng thích ứng với tình huống bất thường là xác lập việc phát triển hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội trở thành một đòi hỏi bức thiết, nhu cầu tự thân, có tính chiến lược nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển của đất nước nhanh, bền vững và hài hoà; đặc biệt khắc phục những tác động tiêu cực của tình huống bất thường đến các tổ chức, nhóm, giai tầng xã hội, tiến tới phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, phải xác định được các ưu tiên bảo đảm nhu cầu tối thiểu, thiết yếu của các giai tầng xã hội trong tình huống bất thường, lấy sự an toàn của người dân là mục tiêu cao nhất; ổn định, trật tự xã hội là trọng tâm; phát triển bền vững của chế độ là cốt lõi.
Bốn là, phát triển hệ thống chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường phải phù hợp với điều kiện, mô hình, mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Từng bước hình thành và phát triển mô hình hệ thống chính sách xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới; giá trị cốt lõi của chính sách xã hội được thực thi bằng chính sách xã hội. Xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải đặt trong tổng thể quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Do đó, việc xác định và kiên định thực hiện mục tiêu cốt lõi trong xây dựng, phát triển hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam từ nay đến năm 2045 cần hướng đến mục tiêu toàn dân, bao trùm, toàn diện; đáp ứng các nhu cầu an sinh xã hội, dịch vụ xã hội cho nhân dân, tạo cơ hội phát triển toàn diện cho mọi người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau; hướng đến bảo đảm sự hài lòng, hạnh phúc cho mọi người dân; tạo nền tảng xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng, bình đẳng, nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau; đáp ứng mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, đảm bảo định hướng chủ nghĩa xã hội.
Năm là, xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về tình huống bất thường một cách đồng bộ.
Nghiên cứu, ban hành và thực hiện một hệ thống pháp luật quy định về trách nhiệm và năng lực quản lý hệ thống chính sách xã hội trong tình huống bất thường.Chẳng hạn, Quốc hội cần nghiên cứu sớm ban hành các dự luật mới, như: Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật Trợ giúp xã hội; Luật Quan hệ lao động; Luật Công tác xã hội…
Cần nghiên cứu xây dựng, phát triển cơ quan, tổ chức chuyên trách và chuyên nghiệp có chức năng ứng phó với tình huống bất thường; đầu tư thỏa đáng nguồn lực, thiết bị công nghệ, chuyển đổi số… nhằm ứng phó với tình huống bất thường. Việc ban hành các chế độ chính sách, khen thưởng, xử phạt cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên cơ sở của pháp luật, căn cứ vào thực tiễn, thăm dò dư luận xã hội, tham khảo ý kiến của chuyên gia… Các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới không được trái với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Nghiêm cấm các ngành, các địa phương cá nhân, tổ chức đặt ra các quy định trái với hệ thống pháp luật về chính sách xã hội trong các tình huống bất thường. Mọi hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện chính sách xã hội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời; nhưng cũng phải tính đến động cơ, bối cảnh cụ thể.
Sáu là, bảo đảm minh bạch hóa thông tin, thống nhất, đồng bộ trong ban hành và tổ chức thực hiện chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường.
Cần có cơ chế chia sẻ thông tin trong quá trình ứng phó, tạo ra sự phối hợp chặt chẽ của các chủ thể có trách nhiệm trong ứng phó với tình huống bất thường. Điều này sẽ tránh được hậu quả của tình huống bất thường, không để khoảng trống thông tin để người dân hoang mang và các thế lực thù địch âm mưu phá hoại có cơ hội thực hiện. Các quy định thực hiện chính sách xã hội của cơ quan chức năng phải dựa trên cơ sở luận cứ khoa học và thực tiễn, có tính khả thi cao; cũng như bảo đảm tính chính trị, tính hợp pháp, hợp lý, hợp tình. Việc thực hiện khen thưởng, xử phạt cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên cơ sở của pháp luật, căn cứ vào thực tiễn, thăm dò ý kiến nhân dân, tham khảo ý kiến của các nhà khoa học để tránh những sai lầm không đáng có. Mọi hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện chính sách xã hội đều phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời; nhưng cũng phải tính đến động cơ, bối cảnh xã hội cụ thể.
4. Kết luận
Để thích ứng với bối cảnh phát triển mới, cần xác lập việc phát triển hệ thống chính sách xã hội là một trong những động lực, mục tiêu, tiêu chí cơ bản để Việt Nam trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao và đảm bảo định hướng chủ nghĩa xã hội; từng bước hướng đến sự hài lòng, hạnh phúc của mọi giai tầng xã hội vào năm 2045. Chính phủ cần nhanh chóng mở rộng phạm vi bao phủ của các chương trình an sinh xã hội dựa trên đóng góp của tất cả các chủ thể xã hội như là một Chiến lược để phát triển hệ thống an sinh xã hội tiến bộ, bền vững, phù hợp nhằm giải quyết với các thách thức khách quan về già hóa dân số, biến đổi khí hậu, cạnh tranh quốc tế, dịch bệnh… Tập trung chuẩn bị nguồn lực tương xứng đáp ứng nhu cầu chính sách xã hội, an sinh xã hội thích ứng với tình huống bất thường.
Tập trung ưu tiên thực hiện tổng kết, hoàn thiện cũng như nghiên cứu, ban hành các đạo luật liên quan đến chính sách xã hội. Hoàn thiện chế tài, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công bằng, khách quan các hành vi vi phạm pháp luật về chính sách xã hội trong bối cảnh tình huống bất thường. Tăng cường thông tin, truyền thông và giáo dục nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động, tích cực, tự nguyện và trách nhiệm xã hội của các chủ thể liên quan trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách xã hội thích ứng với tình huống bất thường.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Năm (2021a). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia, tr. 30.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021b). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia, tr. 148.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 67.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.215.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026c). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 232.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026d). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 334.
Đỗ Văn Quân (2023). Chính sách xã hội ở Việt Nam trong và sau đại dịch Covid-19. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài cấp Bộ – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.



