Quản lý lễ hội Quán thế Âm trong phát triển du lịch tâm linh ở đồng bằng sông Cửu Long

Managing the Quan The Am Festival for spiritual tourism development in the Mekong Delta

ThS. Nguyễn Tấn Trạng
Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp
Nghiên cứu sinh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: nguyentantrang.tct@outlook.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu quản lý nhà nước khi lễ hội, hành hương và chiêm bái Quán Thế Âm ngày càng gắn với du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu định tính giai đoạn 2025 – 2026 được thu thập tại Quan Âm Phật Đài (Cà Mau), chùa Liên Hoa (Đồng Tháp), chùa Quan Âm Linh Ứng (Cần Thơ) và chùa Vạn Linh (An Giang). Kết quả cho thấy, sức hấp dẫn của các địa điểm này được tạo nên từ ý nghĩa tôn giáo, cảnh quan, hành trình chiêm bái và sinh hoạt cộng đồng; đồng thời, làm nảy sinh những yêu cầu về giao thông, dịch vụ, môi trường, thông tin và tổ chức tham quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất quản lý theo đặc điểm của từng địa điểm, xác định đúng loại hình hoạt động, bảo đảm việc lễ bái và tổ chức dịch vụ, dòng người trong giới hạn tiếp nhận thực tế.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; Quán Thế Âm; du lịch tâm linh; hành hương Phật giáo; đồng bằng sông Cửu Long.

Abstract: This article examines state management requirements arising as Avalokiteśvara festivals, pilgrimage, and devotional visits become increasingly connected with tourism in the Mekong Delta. Qualitative data collected in 2025–2026 cover Quan Am Phat Dai, Lien Hoa Pagoda, Quan Am Linh Ung Pagoda, and Van Linh Pagoda. The findings show that the appeal of these sites is shaped by religious meanings, landscape, pilgrimage journeys, and community activities, while also creating management demands related to transport, services, the environment, information, and the organization of visitor activities. On that basis, the study proposes differentiated management according to the characteristics of each site, accurate identification of activity types, protection of devotional practices, and regulation of services and visitor flows within local capacity.

Keywords: state management; Avalokiteśvara worship; spiritual tourism; Buddhist pilgrimage.

1. Đặt vấn đề

Du lịch chỉ thật sự bền vững khi việc gia tăng lượng người đến không làm suy giảm những giá trị vốn tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến. Với các địa điểm tôn giáo, yêu cầu này càng rõ: cảnh quan, nghi lễ, ký ức cộng đồng và niềm tin không chỉ là “tài nguyên” để khai thác, mà còn là nền tảng của đời sống văn hóa tại chỗ. Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017 xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn (Bộ Chính trị, 2017). Luật Du lịch năm 2017 đồng thời đặt phát triển du lịch trong quan hệ với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (Quốc hội, 2017). Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục nhấn mạnh việc phát triển sản phẩm dựa trên lợi thế tài nguyên và bản sắc văn hóa của từng vùng (Thủ tướng Chính phủ, 2024).

Ở đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động lễ bái, hành hương và chiêm bái Quán Thế Âm diễn ra trong những điều kiện cảnh quan và sinh hoạt tôn giáo khác nhau. Có nơi lượng người tập trung tăng mạnh vào các dịp lễ hội, ngày vía; có nơi duy trì dòng hành hương, chiêm bái tương đối thường xuyên. Khi lượng người đến tăng, nhu cầu hành lễ thường đi cùng đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, tham quan, quay chụp và sử dụng dịch vụ. Vì vậy, quản lý không thể chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động tôn giáo mà còn phải tính đến giao thông, dịch vụ, vệ sinh môi trường, thông tin và khả năng tiếp nhận người đến.

Yêu cầu đặt ra là vừa bảo đảm việc lễ bái diễn ra thuận lợi, tôn trọng giá trị tôn giáo và quyền tự chủ hợp pháp của cơ sở thờ tự, vừa tổ chức tốt các điều kiện phục vụ người hành hương và du khách. Nếu chỉ chú trọng thu hút khách, nơi thờ tự có thể bị thương mại hóa và mất dần nét riêng; nhưng nếu xem nhẹ nhu cầu tham quan và dịch vụ, việc tổ chức cũng khó đáp ứng thực tế. Vì vậy, vấn đề không phải có phát triển du lịch hay không, mà là phát triển đến mức nào và bằng cách nào để không làm mờ giá trị văn hóa, tôn giáo của từng địa điểm. Từ thực tế trên, ba vấn đề cần được làm rõ: những yếu tố thu hút người hành hương và du khách; những yêu cầu quản lý nảy sinh khi lễ bái, tham quan và dịch vụ cùng diễn ra; và cách phát triển du lịch mà không làm mờ ý nghĩa tôn giáo, văn hóa của từng địa điểm. Việc phân tích không đồng nhất người đi lễ với khách du lịch, cũng không mặc định mọi cơ sở thờ Quán Thế Âm đều cần trở thành điểm du lịch.

2. Cách tiếp cận, phương pháp và nguồn dữ liệu

Trong phạm vi bài viết, “du lịch tâm linh” được hiểu là những chuyến đi trong đó hành hương, chiêm bái, tìm hiểu đời sống tôn giáo, trải nghiệm cảnh quan văn hóa hoặc tìm kiếm sự tĩnh tâm giữ một vị trí đáng kể. Cách hiểu này không dùng để gán cùng một động cơ cho tất cả những người có mặt tại nơi thờ tự. Một người có thể đi lễ, đi cùng gia đình, tham quan cảnh quan hoặc kết hợp nhiều mục đích trong cùng chuyến đi. Các nghiên cứu về hành hương và du lịch tôn giáo cho thấy ranh giới giữa người hành hương và khách du lịch trên thực tế thường linh hoạt (Collins-Kreiner, N. 2010).

Quan Âm Phật Đài và chùa Liên Hoa nổi bật ở những đợt quy tụ đông người gắn với lễ hội và sinh hoạt cộng đồng. Trong khi đó, chùa Vạn Linh và chùa Quan Âm Linh Ứng có dòng người hành hương, chiêm bái diễn ra thường xuyên; đầu năm, Núi Cấm có nhiều thời điểm đông vui như trẩy hội, còn chùa Quan Âm Linh Ứng thường xuyên đón các đoàn hành hương đến lễ bái và tham quan. Sự khác biệt này cho thấy hoạt động gắn với Quán Thế Âm ở bốn địa điểm diễn ra theo cả những đợt tập trung đông người và dòng hành hương thường xuyên, vì vậy không nên đồng nhất mọi khóa lễ, sinh hoạt tự viện hay chuyến chiêm bái với lễ hội. Tư liệu do tác giả trực tiếp thu thập trong giai đoạn 2025 – 2026 gồm 6 cuộc phỏng vấn sâu, 22 đoạn ghi âm điền dã, 33 ghi chép hiện trường và 10 đợt ghi nhận thực địa có ảnh tư liệu. Nguồn tư liệu này được sử dụng để làm rõ hoạt động hành hương, cảnh quan, dịch vụ, dòng người, giao thông, môi trường, truyền thông và cách người tham dự sử dụng địa điểm. Những nhận xét về lượng khách, giá dịch vụ, vi phạm hoặc hiệu quả kinh tế chỉ được sử dụng trong phạm vi nguồn ghi nhận; lời kể cá nhân được xem là tư liệu phản ánh trải nghiệm cụ thể, không dùng để suy rộng thành kết luận cho toàn bộ địa bàn. Về pháp lý, Luật Du lịch năm 2017 tạo nền tảng cho hoạt động du lịch; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội (Chính phủ, 2018).

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Nghị định số 137/2025/NĐ-CP phân định thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, còn Nghị định số 124/2025/NĐ-CP quy định việc phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Chính phủ, 2025). Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống năm 2023 bổ sung những yêu cầu thực tiễn về cơ sở vật chất, an ninh, môi trường, dịch vụ và ứng xử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023). Vì vậy, quản lý tại những địa điểm này cần bắt đầu từ việc xác định đúng tính chất của từng hoạt động, thay vì gom tất cả vào một khung “quản lý lễ hội”.

Bảng 1. Đặc điểm bốn địa điểm và những vấn đề đặt ra đối với quản lý du lịch tâm linh

Địa điểmĐặc điểm nổi bậtHoạt động nổi bậtVấn đề quản lý đặt ra
Quan Âm Phật Đài, Cà MauVen biển, gắn với hình tượng Mẹ Nam Hải; lượng người tăng mạnh vào những dịp lễ hội tập trungLễ bái, hành hương và tham quan tập trung mạnh vào những thời điểm đông ngườiGiao thông, phân luồng người, bãi xe, dịch vụ, vệ sinh môi trường và tổ chức khu vực lễ bái
Chùa Liên Hoa, Đồng ThápVen sông Tiền, gắn với đời sống cộng đồng; có những đợt sinh hoạt lễ hội tập trungLễ bái, sinh hoạt cộng đồng và tham quan cùng diễn ra trong những đợt tập trung đông ngườiGiao thông, khu vực ven sông, dịch vụ, vệ sinh môi trường và tổ chức các hoạt động tập trung đông người
Chùa Quan Âm Linh Ứng, Cần ThơTrong bối cảnh đô thị; thường xuyên đón người dân và các đoàn hành hương đến lễ bái, tham quanHành hương, chiêm bái và tham quan diễn ra thường xuyên, cùng với hoạt động quay chụp và chia sẻ hình ảnh sốGiao thông, tổ chức tham quan, quay chụp, cung cấp thông tin và bảo đảm việc lễ bái không bị ảnh hưởng
Chùa Vạn Linh, An GiangNằm trong cảnh quan Núi Cấm; dòng người hành hương, chiêm bái diễn ra thường xuyên, đặc biệt đông vào đầu nămHành hương, chiêm bái và du lịch cùng diễn ra trong hành trình lên Núi CấmVận chuyển, dòng người, hàng quán, vệ sinh môi trường, hướng dẫn khách và tổ chức hoạt động du lịch quanh khu vực tự viện
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tư liệu điền dã, 2025 – 2026.

3. Những yếu tố thu hút người hành hương và du khách

3.1. Ý nghĩa của hình tượng Quán Thế Âm gắn với cảnh quan từng địa điểm

Quán Thế Âm có sức sống lâu dài không chỉ vì được thờ phụng rộng rãi, mà còn vì hình tượng này có khả năng đi vào những môi trường văn hóa khác nhau. Chün-fang Yü cho thấy quá trình Avalokiteśvara trở thành Guanyin gắn với sự thay đổi của hình tượng, truyện kể và thực hành theo bối cảnh văn hóa (Yü, Chün-fang, 2001). Ở bằng sông Cửu Long, niềm tin Quan Âm Nam Hải cũng được ghi nhận trong đời sống của một bộ phận cư dân ven biển, nơi nhu cầu cầu an và chở che gắn chặt với môi trường sông biển (Dương Hoàng Lộc, 2020). Điều đó gợi ra một điểm quan trọng cho du lịch, sức hấp dẫn của nơi thờ Quán Thế Âm không nằm riêng ở quy mô tôn tượng hay kiến trúc, mà ở cách hình tượng ấy được đặt vào cảnh quan và đời sống của cộng đồng địa phương.

Tại Quan Âm Phật Đài, “Mẹ Nam Hải” hiện ra trong một khoảng mở hướng biển, nơi dòng người dâng hương quy tụ rõ vào các dịp vía. Ở Chùa Liên Hoa, tôn tượng, sông Tiền, hoa đăng và sinh hoạt cộng đồng tạo nên sắc thái riêng của ngày vía ven sông. Tại chùa Vạn Linh, người hành hương đi qua địa hình Núi Cấm, các điểm dừng, phương tiện vận chuyển và cảnh quan trên cao; chính hành trình trở thành một phần của trải nghiệm. Chùa Quan Âm Linh Ứng lại dẫn người viếng qua nhiều tôn tượng, tiểu cảnh và điểm nhìn trong khuôn viên. Sự khác nhau về cảnh quan và cách tiếp cận tạo nên nét riêng của từng địa điểm, đồng thời là điều quản lý du lịch cần tôn trọng. Tại bốn nơi, ý nghĩa từ bi và chở che của Quán Thế Âm luôn được cảm nhận trong quan hệ với cảnh quan: qua hành trình lên núi, khoảng mở hướng biển, mặt nước ven sông, tiếng chuông, ánh sáng hay nhịp của một buổi lễ. Những yếu tố ấy có thể tạo nên giá trị cho du lịch, nhưng không phải thứ có thể tách ra và sao chép tùy ý. Nếu nghi lễ chỉ còn là cảnh để xem, cảnh quan chỉ còn là phông nền chụp ảnh hoặc các địa điểm cùng chạy theo một kiểu trang trí, giá trị ban đầu có thể bị bào mòn. Du lịch vì thế cần dựa vào chiều sâu của nơi chốn, chứ không chỉ vào khả năng tạo hình ảnh bắt mắt.

3.2. Sự kết hợp giữa hành hương, chiêm bái và tham quan

Người đến bốn địa điểm không tạo thành một nhóm đồng nhất. Có người trở lại theo ngày vía để hành lễ; có người đi cùng gia đình; có người chú ý đến cảnh quan; có người quay chụp rồi chia sẻ lên mạng. Sự đan xen ấy đòi hỏi cách tổ chức mềm dẻo hơn. Người tham quan cần biển chỉ dẫn, nơi nghỉ, vệ sinh, giao thông và thông tin dễ tiếp cận. Người hành lễ lại cần khoảng lặng, dòng di chuyển ổn định và điều kiện để thực hiện nghi thức mà không bị cản trở. Không nên lấy cách hành xử của Phật tử làm chuẩn duy nhất cho mọi người có mặt, nhưng cũng không thể biến khu vực hành lễ thành một điểm tham quan thông thường. Yêu cầu đặt ra là tạo điều kiện cho các nhu cầu khác nhau cùng tồn tại; đồng thời, xác định rõ khu vực và thời điểm cần ưu tiên cho nghi lễ.

4. Những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước

Một là, phân biệt loại hình hoạt động trong quản lý.

Muốn quản lý đúng, trước hết phải gọi đúng tên hoạt động. Một ngày vía có chương trình tập trung, một khóa lễ trong tự viện, một đợt hành hương tự phát và một tuyến tham quan trong khu du lịch không thể được xử lý như cùng một loại sự kiện. Nghị định số 110/2018/NĐ-CP điều chỉnh việc quản lý và tổ chức lễ hội; pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo điều chỉnh các hoạt động tôn giáo; còn những vấn đề về văn hóa, thể thao và du lịch được phân định thẩm quyền theo quy định hiện hành (Chính phủ, 2018). Nhận diện sai ngay từ đầu có thể kéo theo việc lựa chọn sai công cụ hoặc sai đầu mối quản lý.

Thực tế tại bốn địa điểm cho thấy yêu cầu phân biệt loại hình hoạt động là rất rõ. Nếu gọi mọi hoạt động chiêm bái ở chùa Vạn Linh là “lễ hội Quán Thế Âm”, một khung quản lý lễ hội có thể bị áp vào hoạt động thực chất thuộc hành hương, tự viện và khu du lịch. Ngược lại, nếu xem một ngày vía đông người chỉ là công việc nội bộ của cơ sở tôn giáo, những vấn đề về giao thông, dịch vụ, an toàn và môi trường bên ngoài khuôn viên dễ bị bỏ sót. Vì vậy, mỗi địa phương cần xác định rõ loại hình hoạt động, phạm vi không gian, quy mô dự kiến và những lĩnh vực công cộng có liên quan trước khi xây dựng phương án tổ chức.

Hai là, tổ chức tham quan không làm gián đoạn việc lễ bái.

Du lịch có thể đưa nhiều người đến gần hơn với một địa điểm văn hóa, tạo thêm sinh kế và mở rộng khả năng giới thiệu giá trị địa phương. Tuy vậy, điều đưa nhiều người tìm đến bốn địa điểm trước hết vẫn là nhu cầu lễ bái, cầu nguyện, hành hương hoặc tìm một khoảng lắng. Khi hoạt động tham quan mở rộng, vấn đề không phải làm sao có thêm nhiều thứ để xem, mà là tổ chức thế nào để người đến vì nghi lễ vẫn có điều kiện thực hiện điều họ tìm kiếm.

Tại chùa Quan Âm Linh Ứng, một người làm nội dung số cho rằng hình ảnh Quán Thế Âm, hoa đăng và cảnh quan của chùa có khả năng lan tỏa rộng qua mạng xã hội. Tuy nhiên, đại diện nữ tu tại chùa cũng cho biết có thời điểm việc quay chụp và trò chuyện lớn tiếng gần khu vực tôn tượng làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh cần thiết cho hoạt động lễ bái. Tại Chùa Liên Hoa, khu vực tôn tượng và cảnh quan ven sông đồng thời được người hành lễ và người tham quan sử dụng, nhất là vào những thời điểm đông người. Những ghi nhận này cho thấy, truyền thông và quay chụp có thể góp phần quảng bá hình ảnh của cơ sở tôn giáo, nhưng cần được tổ chức theo từng khu vực và thời điểm để không cản trở việc lễ bái và sinh hoạt tôn giáo.

Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống đặt việc bảo tồn giá trị văn hóa trong quan hệ với tổ chức dịch vụ, an ninh, môi trường và ứng xử của người tham gia (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023).Với lễ hội Quán Thế Âm, yêu cầu đó nên được hiểu cụ thể hơn: bảo tồn không phải giữ nguyên mọi hình thức, mà trước hết là giữ được khả năng hành lễ, cảm nhận không gian và tiếp cận những ý nghĩa văn hóa, tôn giáo vốn làm nên bản sắc của địa điểm.

Ba là, quản lý dịch vụ tại các địa điểm hành hương, chiêm bái.

Một điểm đến có người từ xa tìm đến thì dịch vụ là điều khó tránh và cũng không nên xem là yếu tố tiêu cực mặc nhiên. Giữ xe, vận chuyển, ăn uống, nước uống, nơi nghỉ, hàng hóa thiết yếu và thông tin đều đáp ứng những nhu cầu có thật. Vấn đề chỉ xuất hiện khi cách cung cấp dịch vụ làm cản trở giao thông, gây phiền hà, tạo thêm rác thải hoặc chiếm dụng những khoảng không cần dành cho hành lễ và di chuyển.

Tại Quan Âm Phật Đài, một người hành hương lâu năm phản ánh hiện tượng chèo kéo khách mua nhang đèn, trái cây và sử dụng dịch vụ ở khu vực bãi xe vào những thời điểm đông người. Đây là trải nghiệm cá nhân, chưa đủ cơ sở để xác định mức độ phổ biến của hiện tượng, nhưng cho thấy việc quản lý không thể chỉ giới hạn trong khuôn viên nơi thờ tự mà cần bao quát cả bãi xe, đường vào và khu vực tập trung dịch vụ. Tại chùa Liên Hoa, một người hành hương ghi nhận tình trạng xe đông, hàng bán lưu động và rác thải trên tuyến đường vào chùa; đại diện cơ sở tôn giáo cũng bày tỏ lo ngại về việc mua bán chim, cá nhằm đáp ứng nhu cầu phóng sinh. Ở Núi Cấm, tư liệu điền dã cho thấy hành trình đến chùa Vạn Linh gắn với cáp treo, phương tiện vận chuyển, hàng quán và hoạt động hướng dẫn khách. Những dịch vụ này đáp ứng nhu cầu thực tế của người hành hương và du khách, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu về tổ chức giao thông, niêm yết giá, vệ sinh môi trường và trật tự tại các khu vực có đông người.

Những dữ liệu trên gợi ra một cách quản lý thực tế hơn: dịch vụ phải được bố trí theo đặc điểm của từng khu vực. Bến bãi và tuyến vào cần ưu tiên an toàn, niêm yết giá và không cản trở giao thông. Khu vực gần nơi hành lễ nên hạn chế những hình thức bán hàng gây tiếng ồn hoặc chắn lối. Những hoạt động tạo thêm áp lực môi trường phải đi kèm trách nhiệm thu gom và xử lý sau thời điểm cao điểm. Hiệu quả của điểm đến vì thế không nên chỉ đo bằng mức chi tiêu; khả năng tiếp cận thuận tiện, chi phí hợp lý và chất lượng không gian chung cũng là những tiêu chí cần được xem xét.

Bốn là, truyền thông số trong quảng bá du lịch tâm linh.

Ngày nay, nhiều người biết đến một địa điểm tôn giáo trước hết qua màn hình điện thoại. Một tôn tượng hướng biển, một đêm hoa đăng hay một góc nhìn từ Núi Cấm có thể được chia sẻ rất xa khỏi nơi diễn ra nghi lễ. Đây là lợi thế lớn cho quảng bá, nhưng cũng làm xuất hiện một khoảng cách: người xem dễ nhìn thấy hình ảnh đẹp mà không biết câu chuyện, nghi thức và giới hạn ứng xử gắn với hình ảnh đó. Khi thông tin về thời gian, quy mô hoạt động hoặc “điểm check-in” lan truyền nhanh hơn khả năng tiếp nhận tại chỗ, sức ép lên điểm đến cũng có thể tăng.

Vai trò của quản lý nhà nước ở đây không phải can thiệp vào nội dung giáo lý, mà là làm cho thông tin công cộng chính xác và dễ tiếp cận hơn. Chính quyền và đơn vị quản lý điểm đến có thể công bố chỉ dẫn giao thông, thời gian hoạt động, thông tin cảnh báo và kết nối với kênh chính thức của cơ sở tôn giáo. Về phía cơ sở tôn giáo và đơn vị du lịch, nội dung giới thiệu nên giúp người xem hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và bối cảnh của hình ảnh, thay vì chỉ nhấn vào quy mô hay sự hoành tráng. Khi thông tin đầy đủ hơn, truyền thông số có thể đưa người xem đến gần điểm đến mà không làm mỏng đi câu chuyện văn hóa của nơi ấy.

Năm là, khai thác giá trị du lịch từ đặc trưng của từng địa điểm.

Bốn địa điểm có những điều kiện rất khác nhau, vì vậy khó có thể áp dụng một cách phát triển du lịch giống nhau. Quan Âm Phật Đài có khoảng mở ven biển và lượng người tập trung tăng trong ngày vía, nên vấn đề nổi bật là phân luồng, bến bãi, vệ sinh và khu vực dịch vụ. Chùa Liên Hoa nằm bên sông Tiền, vì vậy quản lý phải lưu ý tuyến đường bộ, khu vực ven nước, hoa đăng và hoạt động ở vùng tiếp cận. Chùa Vạn Linh nằm trong hệ thống du lịch Núi Cấm, nơi hành trình lên núi, phương tiện vận chuyển, rác thải và quan hệ giữa khu du lịch với khu vực tự viện có ý nghĩa trực tiếp. Chùa Quan Âm Linh Ứng trong bối cảnh đô thị lại cần chú ý hơn đến mật độ giao thông, tham quan trong khuôn viên và truyền thông số.

Sự khác nhau ấy cũng nhắc rằng, phát triển không đồng nghĩa với thêm nhiều dịch vụ, sân khấu hay hạng mục trang trí. Có nơi sức hấp dẫn nằm ở sự quy tụ đông người; có nơi nằm ở hành trình lên núi; có nơi lại ở cảnh quan ven sông hoặc cảm giác tĩnh lặng. Vì thế, một địa điểm ít hoạt động phụ trợ chưa chắc là kém phát triển nếu chính sự giản dị và đặc trưng cảnh quan là điều người hành hương tìm kiếm. Quản lý du lịch cần bắt đầu từ câu hỏi “nơi này có gì đáng giữ?”, trước khi hỏi “có thể bổ sung thêm gì để thu hút khách?”.

5. Một số định hướng quản lý

Thứ nhất, cần xác định rõ tính chất của từng hoạt động và trách nhiệm của từng cơ quan. Trước những thời điểm tập trung đông người, địa phương cần làm rõ đâu là lễ hội, đâu là hoạt động tôn giáo, đâu là dịch vụ du lịch và đâu là phần việc liên quan đến không gian công cộng. Nghị định số 137/2025/NĐ-CP và Nghị định số 124/2025/NĐ-CP là hai căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền giữa lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (Chính phủ, 2025). Trên cơ sở đó, cần hình thành đầu mối xử lý và cơ chế phối hợp rõ ràng, để cơ sở tôn giáo, người dân và đơn vị kinh doanh biết liên hệ với ai khi có vấn đề phát sinh.

Thứ hai, phạm vi quản lý không nên dừng ở bên trong khuôn viên cơ sở tôn giáo. Vào những thời điểm đông người, sức ép thường xuất hiện từ bên ngoài: bãi xe quá tải, tuyến đường ùn ứ, bến sông đông phương tiện, hàng quán lấn lối hoặc rác thải tăng nhanh. Vì vậy, phương án quản lý cần tính cả khu vực tiếp cận, các tuyến giao thông và nơi tập trung dịch vụ. Khi diễn ra hoạt động chính, ưu tiên trước hết là an toàn, dòng người và việc lễ bái; ở những thời điểm khác, tham quan, thuyết minh và trải nghiệm văn hóa có thể được tổ chức linh hoạt hơn.

Thứ ba, dịch vụ cần đáp ứng nhu cầu thực tế nhưng không làm xáo trộn cảnh quan và hoạt động lễ bái. Những dịch vụ thiết yếu như bến bãi, nhà vệ sinh, nước uống, thông tin, vận chuyển và nơi nghỉ nên được ưu tiên trước các hạng mục mang tính phô diễn. Hoạt động mua bán cần được bố trí gọn, có niêm yết giá, không chắn lối và không gây phiền hà cho người đi lễ. Ở những nơi thường chịu áp lực rác thải, trách nhiệm thu gom cần được xác định rõ cho đơn vị kinh doanh và đơn vị tổ chức, thay vì chỉ dừng ở việc nhắc nhở người tham dự giữ vệ sinh.

Thứ tư, phát triển du lịch cần chú trọng hơn đến nội dung giới thiệu giá trị văn hóa, tôn giáo của từng địa điểm. Giá trị tạo nên sự quan tâm của người đến không chỉ nằm ở quy mô tôn tượng hay cảnh quan đẹp, mà còn ở những lớp nghĩa về từ bi, cứu khổ, Mẹ Nam Hải, hành trình lên núi, sông nước và ký ức cộng đồng. Nếu người đến chỉ nhìn thấy một công trình lớn hay một nơi chụp ảnh đẹp mà không hiểu câu chuyện phía sau, trải nghiệm du lịch sẽ khó đi vào chiều sâu. Cơ sở tôn giáo cần giữ vai trò chủ động trong việc giới thiệu nội dung thuộc đời sống tôn giáo; cơ quan văn hóa và du lịch có thể hỗ trợ chuẩn hóa thông tin lịch sử, địa danh, biển chỉ dẫn và nội dung thuyết minh.

Thứ năm, quản lý dòng người cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu thực tế. Quy hoạch hệ thống du lịch và kế hoạch thực hiện quy hoạch đều đặt yêu cầu nâng cao năng lực quản lý, tổ chức thực hiện và phát triển du lịch bền vững. Với lễ hội và hành hương, dữ liệu không nhất thiết phải bắt đầu từ những hệ thống phức tạp. Chỉ cần theo dõi tương đối đều các thời điểm đông người, khả năng bãi xe, điểm dễ ùn tắc, lượng rác phải thu gom, nhu cầu vệ sinh và phản ánh của người dân cũng đã có thể giúp địa phương chủ động hơn. Mục tiêu không phải thu hút thật nhiều người trong cùng một thời điểm, mà là tổ chức dòng người trong giới hạn mà mỗi nơi có thể tiếp nhận.

Thứ sáu, cộng đồng địa phương và cơ sở tôn giáo cần được tham gia vào những quyết định có thể làm thay đổi diện mạo và cách sử dụng địa điểm. Người dân là những người chịu tác động trực tiếp từ giao thông, rác thải, giá dịch vụ và biến đổi cảnh quan; cơ sở tôn giáo lại là chủ thể gìn giữ nghi lễ và những giá trị tinh thần của nơi thờ tự. Vì vậy, các thay đổi lớn về tuyến tham quan, khu dịch vụ, hoạt động biểu diễn hay cách bố trí không gian cần được trao đổi và lấy ý kiến trước khi triển khai. Du lịch chỉ có thể phát triển bền vững khi cộng đồng vẫn được hiện diện và có tiếng nói trong chính không gian văn hóa mà họ đã góp phần tạo dựng và gìn giữ.

6. Kết luận

Lễ hội cùng các hoạt động hành hương, chiêm bái gắn với Quán Thế Âm có thể góp phần làm giàu thêm du lịch văn hóa, tâm linh ở bằng sông Cửu Long. Sức hấp dẫn của bốn địa điểm đến từ ý nghĩa tôn giáo, cảnh quan, hành trình chiêm bái và đời sống cộng đồng. Vì vậy, phát triển du lịch cần dựa trên chính những giá trị ấy; nếu dịch vụ và quảng bá lấn át bản sắc nơi chốn, lượng người đến có thể tăng nhưng chiều sâu văn hóa lại nhạt đi.

Mỗi địa điểm có một nhịp thu hút khác nhau: có nơi nổi bật ở những đợt tập trung đông người, có nơi duy trì dòng hành hương, chiêm bái thường xuyên. Quản lý nhà nước vì thế cần bám sát đặc điểm từng nơi, từ giao thông, dịch vụ, môi trường đến tổ chức khu vực tham quan và cung cấp thông tin; không đồng nhất mọi hoạt động chiêm bái với lễ hội, cũng không áp một mô hình phát triển giống nhau cho tất cả.

Điều cần giữ sau cùng là khả năng để mỗi nơi đón người tốt hơn mà vẫn còn là chính mình. Khi phát triển du lịch không làm mờ ý nghĩa tôn giáo, bản sắc và những giá trị đã tạo nên sức hấp dẫn ban đầu, những địa điểm này mới có thể trở thành nguồn lực bền vững cho địa phương.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023). Quyết định số 2068/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2023 ban hành Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống.
Chính phủ (2018). Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội.
Chính phủ (2025). Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền giữa chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
Chính phủ (2025). Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
Collins-Kreiner, N. (2010). Researching pilgrimage: Continuity and transformations. Annals of Tourism Research, 37(2), pp. 443–451; Timothy, D. J. & Olsen, D. H. (Eds.) (2006). Tourism, Religion and Spiritual Journeys. Routledge.
Dương Hoàng Lộc (2020). Tìm hiểu tín ngưỡng Quan Âm Nam Hải ở cộng đồng ngư dân ven biển Tây Nam Bộ. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 5(48), tr. 50 – 57.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 382/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Yü, Chün-fang (2001). Kuan-yin: The Chinese Transformation of Avalokitesvara. Columbia University Press, pp.1-27.