Enhancing the quality of human resources in Hanoi in the context of the fourth industrial revolution
TS. Lê Thị Diệu Hoa
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: dieuhoa082@gmail.com
ThS. Nguyễn Thị Thanh Lan
Văn phòng HĐND và UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám
(Quanlynhanuoc.vn) – Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong phương thức sản xuất, quản trị và phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi toàn cầu. Với vai trò là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa và khoa học của cả nước, thành phố Hà Nội đứng trước yêu cầu cấp thiết phải xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường số. Trên cơ sở phân tích những tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với phát triển nguồn nhân lực, bài viết đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Hà Nội trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập còn tồn tại. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Nguồn nhân lực; chất lượng nguồn nhân lực; cách mạng công nghiệp 4.0; đô thị thông minh; thành phố Hà Nội.
Abstract: The Fourth Industrial Revolution (Industry 4.0) is driving profound transformations in production methods, governance, and human resource development on a global scale. As the national political, administrative, economic, cultural, and scientific center, Hanoi faces an urgent demand to develop a high-quality workforce with advanced professional expertise, innovative capacity, and adaptability to the digital environment. Based on an analysis of Industry 4.0’s impacts on human resource development, this article evaluates the current status of human resource quality enhancement in Hanoi over recent years, highlighting both key achievements and remaining limitations. On this basis, the paper proposes a set of solutions to elevate human resource quality, meeting the requirements for socio-economic development and advancing Hanoi into a smart, modern metropolis in the new era.
Keywords: Human resources; human resource quality; Industry 4.0; smart city; Hanoi city.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nguồn nhân lực ngày càng trở thành nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh cũng như chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia và địa phương. Nếu trước đây lợi thế phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, vốn và lao động giá rẻ thì hiện nay tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng bền vững. Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, robot thông minh và tự động hóa trong cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp và yêu cầu về kỹ năng lao động.
Những thay đổi đó vừa mở ra nhiều cơ hội để các địa phương nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức, vừa đặt ra không ít thách thức đối với lực lượng lao động truyền thống. Nhiều ngành, nghề có tính chất lặp lại đang dần được thay thế bằng công nghệ tự động, trong khi nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng số, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng liên tục gia tăng. Điều này đòi hỏi các địa phương phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với xu thế chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Là Thủ đô của cả nước, Hà Nội giữ vai trò đầu tàu về chính trị, hành chính, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những năm qua, thành phố đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, mở rộng hợp tác quốc tế và đẩy mạnh đào tạo nghề. Những kết quả đạt được đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Tuy nhiên, trước tốc độ phát triển rất nhanh của cách mạng công nghiệp 4.0, chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn, kỹ năng số của người lao động chưa đồng đều, sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp còn chưa chặt chẽ và khả năng thích ứng với những mô hình sản xuất mới còn nhiều bất cập. Những hạn chế này đang trở thành rào cản đối với mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành đô thị thông minh và trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Hà Nội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của Thủ đô trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở lý luận và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể năng lực thể chất, trí tuệ, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức và khả năng sáng tạo của con người có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ học vấn hay tay nghề của người lao động mà còn bao gồm năng lực đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại và tinh thần học tập suốt đời.
Trong nền kinh tế tri thức, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Các nghiên cứu hiện nay đều khẳng định rằng, tốc độ đổi mới công nghệ càng nhanh thì yêu cầu về trình độ, kỹ năng và khả năng thích ứng của người lao động càng cao. Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực được xem là đầu tư cho tăng trưởng dài hạn và phát triển bền vững.
Cách mạng công nghiệp 4.0 được đặc trưng bởi sự hội tụ của các công nghệ số, công nghệ sinh học và công nghệ vật lý trên nền tảng kết nối thông minh. AI, Big Data, Internet vạn vật, điện toán đám mây, robot thế hệ mới và công nghệ số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình quản trị và cơ cấu việc làm trên phạm vi toàn cầu.
Đối với phát triển nguồn nhân lực, cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại nhiều cơ hội quan trọng. Trước hết, công nghệ số tạo điều kiện đổi mới phương thức đào tạo thông qua các nền tảng học tập trực tuyến, đào tạo từ xa và mô hình giáo dục thông minh giúp người học dễ dàng tiếp cận tri thức hiện đại. Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế số thúc đẩy nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, như: công nghệ thông tin, AI, phân tích dữ liệu, an ninh mạng, tự động hóa và chuyển đổi số. Đồng thời, thị trường lao động ngày càng mở rộng phạm vi cạnh tranh từ quy mô quốc gia sang khu vực và toàn cầu, tạo điều kiện cho lao động có trình độ cao phát huy năng lực.
Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực. Nhiều công việc giản đơn có nguy cơ bị thay thế bởi robot và hệ thống tự động, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động phổ thông. Khoảng cách về trình độ giữa lao động kỹ năng cao và lao động kỹ năng thấp có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, hệ thống giáo dục và đào tạo nếu không kịp thời đổi mới sẽ khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện đại, dẫn tới tình trạng người học thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng số và khả năng thích ứng nghề nghiệp.
Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ chuyên môn mà cần chuyển mạnh sang phát triển toàn diện năng lực số, tư duy đổi mới sáng tạo, kỹ năng mềm, năng lực học tập suốt đời và khả năng làm việc trong môi trường số. Đây là yêu cầu tất yếu đối với các địa phương đang hướng tới mô hình phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như thành phố Hà Nội.
3. Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Hà Nội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
3.1. Những kết quả đạt được
Nhận thức rõ nguồn nhân lực là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, thành phố Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những khâu đột phá chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu phát triển Thủ đô theo hướng văn hiến, văn minh, hiện đại. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, thành phố đã ban hành nhiều chương trình, đề án và cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
Trước hết, Hà Nội tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công thông qua đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 115/KH-UBND triển khai Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2025-2030, định hướng đến năm 2035”; đồng thời, chú trọng chuẩn hóa trình độ chuyên môn, nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng thực thi công vụ và năng lực ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025a). Tiếp đó, Kế hoạch số 08-KH/TU của Thành ủy Hà Nội về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng khác năm 2026 tiếp tục định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực quản trị hiện đại, thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu chuyển đổi số. Nội dung đào tạo tập trung vào quản trị công, quản lý đô thị, phát triển đô thị thông minh, kỹ năng lãnh đạo và quản trị trong môi trường số (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025b).
Việc triển khai đồng bộ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đã góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và kỹ năng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tạo nền tảng quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ hiệu quả quá trình chuyển đổi số của Thủ đô.
Bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công, Hà Nội cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật thông qua đổi mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Thành phố tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế của Nhật Bản, CHLB Đức, Australia và Hàn Quốc; đồng thời, đẩy mạnh mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng nghề và khả năng thích ứng của người lao động trước yêu cầu của nền sản xuất thông minh.
Theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, năm 2025, tổng chỉ tiêu tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp của thành phố đạt 101.025 chỉ tiêu với hơn 330 ngành, nghề đào tạo. Trong đó, trình độ cao đẳng có 123 ngành, nghề với hơn 26.500 chỉ tiêu; trình độ trung cấp có 148 ngành, nghề với trên 34.000 chỉ tiêu; trình độ sơ cấp có 225 ngành, nghề với hơn 40.000 chỉ tiêu (Vĩnh Hà, 07/5/2025). Quy mô đào tạo ngày càng mở rộng cùng với cơ cấu ngành, nghề đa dạng đã góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho các ngành kinh tế trọng điểm; đồng thời, phản ánh định hướng phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số.
Song song với việc mở rộng quy mô đào tạo, Hà Nội tăng cường liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo nhu cầu thực tiễn. Tại các chương trình tư vấn hướng nghiệp và giao dịch việc làm năm 2025, khoảng 50 doanh nghiệp đã tham gia tuyển dụng với gần 3.000 vị trí việc làm thuộc 14 nhóm ngành, lĩnh vực, như: công nghệ thông tin, sản xuất linh kiện điện tử, cơ khí, công nghệ ô tô, kinh doanh, marketing, kế toán, dịch vụ và kỹ thuật (Vĩnh Hà, 07/5/2025). Việc gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động không chỉ giúp nâng cao khả năng có việc làm của người học mà còn góp phần giảm khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất, tạo tiền đề nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngoài ra, thành phố từng bước hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Hà Nội thực hiện tuyển dụng không qua thi tuyển đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, người có trình độ chuyên môn cao và chuyên gia có kinh nghiệm; đồng thời, bố trí công việc phù hợp với năng lực, tạo môi trường làm việc thuận lợi và từng bước triển khai các chính sách hỗ trợ nhằm thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài phục vụ phát triển Thủ đô.
Nhìn chung, các chính sách phát triển nguồn nhân lực của Hà Nội thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên, hệ thống đào tạo được mở rộng, mối liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp được tăng cường và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày càng đi vào chiều sâu. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần tiếp tục khắc phục.
3.2. Những khó khăn, hạn chế
Thứ nhất, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ số, AI, bán dẫn, Big Data, tự động hóa và an ninh mạng vẫn diễn ra khá phổ biến. Trong khi nhu cầu của doanh nghiệp đối với lao động có trình độ cao ngày càng gia tăng thì khả năng cung ứng của hệ thống đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp phải tuyển dụng chuyên gia nước ngoài hoặc mất nhiều thời gian đào tạo lại sau tuyển dụng, làm gia tăng chi phí sản xuất và giảm năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, mặc dù chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, song vẫn tồn tại những hạn chế nhất định về cơ cấu và trình độ kỹ năng giữa các khu vực, ngành, nghề và nhóm lao động. Theo báo cáo kinh tế – xã hội của thành phố năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 75%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 55%. Điều này cho thấy, vẫn còn gần 25% lực lượng lao động chưa qua đào tạo và trên 40% lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ theo quy định (Như Hoa, 14/01/2025). Khoảng cách này phản ánh thực trạng một bộ phận không nhỏ người lao động mới chỉ được đào tạo ngắn hạn hoặc tích lũy kỹ năng thông qua quá trình làm việc, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động. Sự chênh lệch về chất lượng nguồn nhân lực giữa khu vực đô thị và ngoại thành, giữa các ngành công nghệ cao với các ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn vẫn là thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong bối cảnh Hà Nội đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Đây là nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất trước xu hướng tự động hóa và chuyển đổi số, bởi các công việc giản đơn, mang tính lặp lại đang dần được thay thế bởi robot và các hệ thống sản xuất thông minh. Nếu không được đào tạo lại và nâng cao kỹ năng, nguy cơ thất nghiệp và dịch chuyển việc làm sẽ ngày càng lớn.
Thứ ba, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Khoảng cách giữa chương trình đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại hoặc người lao động mất nhiều thời gian thích nghi với công việc. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đây là hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Thủ đô.
Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục và đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Hoạt động dự báo nhu cầu nhân lực theo từng ngành, từng lĩnh vực còn thiếu tính dài hạn; việc chia sẻ thông tin thị trường lao động chưa đồng bộ; nhiều chương trình đào tạo chưa được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Vì vậy, vẫn tồn tại tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động ở một số ngành nghề.
Thứ năm, chính sách thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài chưa tạo được sức cạnh tranh đủ mạnh so với khu vực tư nhân và các trung tâm phát triển trong khu vực. Cơ chế tiền lương, đãi ngộ, môi trường nghiên cứu, cơ hội phát triển nghề nghiệp và điều kiện làm việc đối với đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học còn nhiều hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng hiện tượng dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao sang khu vực ngoài nhà nước hoặc ra nước ngoài làm việc.
Bên cạnh đó, năng lực quản trị nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số vẫn còn những bất cập. Việc ứng dụng Big Data, AI và các nền tảng số trong dự báo nhu cầu nhân lực, quản lý đào tạo và kết nối thị trường lao động mới ở giai đoạn đầu, chưa hình thành được hệ sinh thái dữ liệu thống nhất phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực của thành phố.
Tóm lại, những hạn chế trên cho thấy chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Những bất cập về chất lượng đào tạo, cơ cấu kỹ năng, liên kết giữa đào tạo với thị trường lao động, thu hút nhân tài và quản trị nguồn nhân lực không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của Thủ đô. Đây cũng là những vấn đề đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp đồng bộ và mang tính đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn tới.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Hà Nội cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo hướng dài hạn, đồng bộ và phù hợp với định hướng phát triển Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực cần được thiết kế trên cơ sở dự báo nhu cầu của nền kinh tế số, bảo đảm sự liên thông giữa giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và thị trường lao động.
Thành phố cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài theo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch và dựa trên năng lực thực chất; đồng thời, xây dựng các chính sách đặc thù nhằm thu hút chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư công nghệ cao và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Hà Nội.
Thứ hai, đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo yêu cầu của nền kinh tế số.
Giáo dục và đào tạo cần chuyển mạnh từ tiếp cận truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực và kỹ năng nghề nghiệp của người học. Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên theo sự phát triển của khoa học, công nghệ, tăng cường các học phần về chuyển đổi số, AI, phân tích dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ bán dẫn, Internet vạn vật và các công nghệ mới nổi. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong dạy và học, phát triển hệ sinh thái học tập số, mở rộng đào tạo trực tuyến, học tập suốt đời và đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động đang làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp trong bối cảnh mới.
Thứ ba, tăng cường gắn kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Sự gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để bảo đảm cân đối cung – cầu lao động. Hà Nội cần xây dựng cơ chế hợp tác lâu dài giữa các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trong việc xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đào tạo, tổ chức thực tập, đánh giá kỹ năng nghề và tuyển dụng sau tốt nghiệp. Bên cạnh đó, cần hình thành hệ thống dự báo thị trường lao động trên nền tảng dữ liệu số, cung cấp thông tin kịp thời về nhu cầu nhân lực theo ngành, nghề, trình độ và khu vực để định hướng đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.
Thứ tư, phát triển mạnh nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ giữ vai trò quyết định năng lực cạnh tranh của địa phương. Thành phố cần ưu tiên đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, khu công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ phát triển. Đồng thời, cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu đối với các ngành công nghệ mũi nhọn; hỗ trợ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với các trường đại học và viện nghiên cứu trên địa bàn.
Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực.
Hợp tác quốc tế cần được mở rộng theo hướng tăng cường liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi chuyên gia và tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển. Hà Nội cần khuyến khích các cơ sở giáo dục hợp tác với các trường đại học có uy tín trên thế giới; đồng thời, thu hút các tổ chức giáo dục, doanh nghiệp công nghệ quốc tế đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Song song với đó, thành phố cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu lao động thống nhất, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo nhu cầu nhân lực, quản lý đào tạo và kết nối việc làm, từ đó nâng cao hiệu quả hoạch định và thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực.
5. Kết luận
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số. Những năm qua, thành phố đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và phát triển nguồn nhân lực; chất lượng lao động từng bước được nâng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện hiệu quả quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu của nền kinh tế số và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội vẫn còn những hạn chế như thiếu hụt lao động trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ mới, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp, chất lượng kỹ năng số chưa đồng đều và cơ chế thu hút nhân tài chưa thật sự đột phá.
Trong thời gian tới, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần được triển khai đồng bộ thông qua hoàn thiện thể chế, đổi mới giáo dục và đào tạo, tăng cường liên kết giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ số trong quản trị nguồn nhân lực. Thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động, tạo nền tảng để Hà Nội phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, đô thị thông minh và thành phố kết nối toàn cầu trong những thập niên tới.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Gia Huy (12/4/2023). Hà Nội: Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-chu-trong-dao-tao-boi-duong-doi-ngu-can-bo-103230412184305414.htm
Như Hoa (14/01/2025). Năm 2025, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%. https://hanoi.gov.vn/chi-dao-cua-ubnd-thanh-pho-ha-noi/nam-2025-phan-dau-ty-le-lao-dong-qua-dao-tao-dat-75-4250114095358767.htm
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025a). Kế hoạch 115/KH-UBND ngày 25/4/2025 thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2025 – 2030, định hướng đến năm 2035”.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025b). Kế hoạch số 08-KH/TU ngày 26/11/2025 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng khác của thành phố Hà Nội năm 2026.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Quyết định số 11/2026/QĐ-UBND ngày 19/01/2026 ban hành quy định về quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và đối tượng khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Vĩnh Hà (07/5/2025). Hà Nội: Trên 101.000 chỉ tiêu đào tạo nghề.https://tuoitre.vn/ha-noi-tren-101-000-chi-tieu-dao-tao-nghe-20250507095125265.htm.



