Tỉnh ủy Khánh Hòa tăng cường lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong bối cảnh mới

Strengthening the leadership of the Khanh Hoa provincial party committee in the implementation of social policies in the new context

Lưu Hồng Vân
Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa
Email: vanbtgkh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Khánh Hòa đối với thực hiện chính sách xã hội đứng trước nhiều yêu cầu mới. Trên cơ sở phân tích những kết quả, hạn chế trong các lĩnh vực việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục và trợ giúp các nhóm yếu thế, bài viết chỉ ra một số vấn đề, như: chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ xã hội giữa đô thị, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; năng lực thực thi chính sách ở cấp xã còn hạn chế; dữ liệu chưa được liên thông. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Khánh Hòa đối với thực hiện chính sách xã hội trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Tỉnh ủy Khánh Hòa; lãnh đạo; chính sách xã hội; chính quyền địa phương hai cấp; bối cảnh mới.

Abstract: In the context of the two-tier local government model and accelerated digital transformation, the leadership of the Khanh Hoa Provincial Party Committee in social policy implementation faces several new requirements. Based on an analysis of achievements and limitations in employment, poverty reduction, social insurance, healthcare, education, and assistance for vulnerable groups, the article identifies several emerging issues, including disparities in access to social services among urban areas, mountainous areas, and ethnic minority communities; limited commune-level policy implementation capacity; and insufficient data interoperability. Accordingly, the author proposes several groups of solutions to strengthen the leadership of the Khanh Hoa Provincial Party Committee in social policy implementation in the new context.

Keywords: Khanh Hoa Provincial Party Committee; leadership; social policy; two-tier local government; new context.

1. Đặt vấn đề

Chính sách xã hội giữ vị trí quan trọng trong đường lối của Đảng, thể hiện mục tiêu phát triển vì con người. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 xác định bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tiếp đó, Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, Đảng đã đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm và bền vững; lấy con người làm trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023). Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu gắn phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, Khánh Hòa có diện tích 8.555,86 km², dân số 2.290.784 người và 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 48 xã, 16 phường và đặc khu Trường Sa (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2026). Không gian phát triển rộng hơn tạo thêm cơ hội, nhưng cũng đặt ra những khó khăn trong thực hiện chính sách xã hội. Đó là vấn đề chênh lệch về điều kiện sống và khả năng tiếp cận dịch vụ giữa đô thị, miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khá lớn; nhu cầu về việc làm ổn định, nhà ở xã hội, giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội và các dịch vụ thiết yếu tiếp tục tăng… Thực tế đó đòi hỏi Tỉnh ủy phải đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, đồng thời nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp.

2. Thực trạng Tỉnh ủy Khánh Hòa lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội

2.1. Những kết quả chủ yếu

Trước hết, nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về chính sách xã hội từng bước được nâng lên. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quán triệt chủ trương của Trung ương, ban hành chương trình và chỉ đạo chính quyền cụ thể hóa thành nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Chương trình hành động số 84-CTr/TU ngày 29/01/2024 thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW cùng các kế hoạch chuyên đề đã tạo cơ sở để chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội phối hợp thực hiện (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2024). Mục tiêu tăng trưởng được gắn rõ hơn với tiến bộ, công bằng xã hội và chăm lo các nhóm dễ bị tổn thương.

Hai là, chính sách đối với người có công, giải quyết việc làm, giảm nghèo và mở rộng bảo hiểm đạt nhiều kết quả. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW cho thấy, 100% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình tại nơi cư trú; 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được nhận phụng dưỡng. Giai đoạn 2011 – 2015, bình quân mỗi năm tỉnh giải quyết việc làm mới cho 26,3 nghìn lao động; giai đoạn 2016 – 2020 là 11,5 nghìn lao động. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tăng từ 965 người năm 2012 lên 17.153 người năm 2021; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2021 đạt 93,59%. Trong hai giai đoạn 2012 – 2015 và 2016 – 2021, toàn tỉnh giảm tương ứng 16.006 và 21.756 hộ nghèo (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2022). Kết quả này cho thấy, chính sách xã hội đã từng bước mở rộng từ trợ giúp trực tiếp sang tạo việc làm, phát triển bảo hiểm và cung cấp dịch vụ cơ bản.

Ba là, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ thiết yếu được cải thiện. Tỉnh duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ trẻ em khuyết tật đi học tăng từ 48,4% năm 2012 lên 63,4% năm 2021. Giai đoạn 2012 – 2021 có 292.532 lượt người được tuyển sinh, đào tạo nghề. Tất cả cơ sở y tế tuyến xã được đầu tư hoặc nâng cấp, có bác sĩ và nữ hộ sinh hoặc chức danh chuyên môn tương đương. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 10,51% xuống 7,38%; tỷ lệ tiêm chủng thường xuyên đạt trên 95%. Các chương trình về nhà ở, nước sạch và trợ giúp xã hội đã góp phần cải thiện đời sống, nhất là đối với người dân có hoàn cảnh khó khăn.

Bốn là, việc huy động nguồn lực cho an sinh xã hội có chuyển biến. Trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, tỉnh dành nguồn lực đáng kể để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 và thực hiện chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát. Trên địa bàn Khánh Hòa và Ninh Thuận trước hợp nhất đã xây mới, sửa chữa 3.539 căn nhà. Tỷ lệ hộ nghèo ở địa bàn Khánh Hòa cũ dự kiến còn 0,85% vào cuối năm 2025; ở địa bàn Ninh Thuận cũ còn khoảng 1,1% (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2025). Đây là cơ sở để tỉnh tiếp tục rà soát, thống nhất chính sách sau hợp nhất.

Năm là, cải cách hành chính và chuyển đổi số bước đầu hỗ trợ việc thực hiện chính sách. Toàn tỉnh đã công bố 2.218 thủ tục hành chính, trong đó 2.073 thủ tục được cung cấp trực tuyến; tất cả thủ tục đủ điều kiện được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính. Từ ngày 01/7/2025 – 20/5/2026, 96% số hồ sơ đã giải quyết được xử lý đúng hoặc trước hạn; mức độ hài lòng đạt 91,61% (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2026). Kết quả này tạo điều kiện để các cơ quan quản lý người thụ hưởng chính xác hơn, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.

Sáu là, các mục tiêu xã hội đã được xác định cụ thể trong định hướng phát triển của tỉnh. Đến năm 2030, Khánh Hòa phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người khoảng 0,78; tuổi thọ trung bình 75,5 tuổi; tỷ lệ lao động qua đào tạo 90%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ 40%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 98%; khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1 – 1,5 điểm phần trăm mỗi năm (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2025). Những chỉ tiêu này là căn cứ để theo dõi kết quả thực hiện và xác định trách nhiệm của từng cấp, từng ngành.

2.2. Hạn chế và những vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả đạt được, việc cụ thể hóa chủ trương ở một số cấp ủy chưa thật sự chủ động. Công tác dự báo nhu cầu, nhận diện rủi ro và lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm chưa đồng đều. Hoạt động tuyên truyền ở một số vùng sâu, vùng xa chưa phù hợp với đặc điểm của người dân. Công tác kiểm tra, giám sát còn chú trọng tiến độ và thủ tục, chưa quan tâm đúng mức đến tác động của chính sách, sự công bằng trong thụ hưởng và khả năng duy trì kết quả.

Khoảng cách thụ hưởng chính sách giữa các địa bàn còn khá rõ. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và người dân miền núi vẫn gặp khó khăn; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thấp. Chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe và khả năng tiếp cận nước sạch ở một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu. Kết quả chung của toàn tỉnh vì vậy chưa phản ánh đầy đủ những khó khăn tại từng địa bàn và từng nhóm dân cư.

Việc hợp nhất địa giới và vận hành chính quyền hai cấp đặt ra yêu cầu thống nhất chính sách, dữ liệu và quy trình giải quyết công việc. Khối lượng công việc ở cấp xã tăng nhanh trong khi năng lực của đội ngũ chưa đồng đều. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa kết nối thông suốt; người dân ở vùng khó khăn còn hạn chế về thiết bị và kỹ năng số. Có nhiệm vụ được phân cấp nhưng chưa đi kèm đủ nhân lực, kinh phí và hướng dẫn chuyên môn; nguồn lực của các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo còn hạn chế (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2026).

Sự phối hợp giữa các ngành có lúc chưa chặt chẽ; việc chia sẻ thông tin còn chậm. Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội vẫn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước, trong khi việc huy động doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng chưa đạt kết quả như mong muốn. Một bộ phận cán bộ còn thụ động, chờ hướng dẫn hoặc thiếu kỹ năng tham mưu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là bổ sung chương trình hay kinh phí, mà còn phải nâng cao chất lượng lãnh đạo, phối hợp của cấp tỉnh và năng lực thực hiện của cấp xã.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy.

Cấp ủy các cấp cần nhận thức đầy đủ rằng, chính sách xã hội gắn trực tiếp với đời sống và niềm tin của Nhân dân. Kết quả thực hiện chính sách cần được đưa vào tiêu chí đánh giá tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo, quản lý; trong đó chú trọng mức độ thụ hưởng và sự hài lòng của người dân. Người đứng đầu cần trực tiếp đối thoại, chỉ đạo xử lý những vấn đề phức tạp, không giao toàn bộ trách nhiệm cho cơ quan chuyên môn.

Cùng với đó, cần chú trọng đạo đức công vụ, trách nhiệm giải trình và kỹ năng làm việc với các nhóm yếu thế. Nội dung tuyên truyền phải phù hợp với từng nhóm dân cư, kết hợp nền tảng số với trao đổi trực tiếp tại cộng đồng; phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân cần được cung cấp đầy đủ thông tin và tạo điều kiện tham gia góp ý, giám sát việc thực hiện chính sách.

Thứ hai, nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết, chủ trương trên cơ sở dữ liệu thực tế.

Tỉnh ủy cần lãnh đạo xây dựng hệ thống dữ liệu và bản đồ an sinh xã hội dùng chung, kết nối thông tin về dân cư, việc làm, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà ở và thiên tai. Dữ liệu cần được thống kê theo địa bàn, giới tính, độ tuổi, dân tộc và tình trạng khuyết tật để nhận diện đúng những nhóm còn khó khăn hoặc chưa tiếp cận được chính sách. Khi ban hành nghị quyết, chương trình, cần xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, kết quả cần đạt và những rủi ro có thể phát sinh.

Giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh cần ưu tiên phát triển thị trường lao động; mở rộng bảo hiểm xã hội tự nguyện; giảm nghèo đa chiều; nâng cao chất lượng y tế cơ sở, giáo dục ở vùng khó khăn; chăm sóc người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật; bảo đảm nhà ở, nước sạch và an toàn trước thiên tai. Đồng thời, cần rà soát các chính sách từng áp dụng tại tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận trước hợp nhất, xây dựng lộ trình thống nhất phù hợp, không làm gián đoạn quyền lợi của người dân.

Các mục tiêu xã hội cần được đưa vào quy hoạch, kế hoạch đầu tư công và chương trình phát triển kinh tế của tỉnh. Đối với những chủ trương lớn, cần đánh giá trước tác động xã hội, khả năng cân đối ngân sách và ảnh hưởng đối với từng nhóm dân cư, bảo đảm người dân địa phương có cơ hội việc làm, học nghề và hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Thứ ba, chỉ đạo chính quyền cụ thể hóa chủ trương, làm rõ phân công và phối hợp.

Tỉnh ủy cần chỉ đạo rà soát quy chế làm việc giữa cấp ủy với chính quyền, phân định rõ trách nhiệm: cấp ủy định hướng, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân giám sát. Với mỗi nhiệm vụ liên ngành, cần xác định một cơ quan chủ trì, thời hạn hoàn thành và kết quả cụ thể; đồng thời, có quy trình chia sẻ dữ liệu, xử lý tình huống khẩn cấp và hướng dẫn kịp thời cho cấp xã.

Có thể phân cấp cho xã giải quyết một số nhiệm vụ về trợ giúp xã hội, người có công và an sinh vì đây là cấp gần dân, nắm rõ hoàn cảnh của người dân. Tuy nhiên, phân cấp phải đi kèm nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hướng dẫn chuyên môn và kiểm tra sau phân cấp. Việc phân bổ nguồn lực cần căn cứ vào quy mô dân số, số lượng đối tượng và mức độ khó khăn, ưu tiên xã miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

Sau sắp xếp, cần tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ và vị trí việc làm, khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ. Nhân lực cần được bố trí theo quy mô dân số, diện tích, số lượng đối tượng chính sách và đặc điểm của từng địa bàn, tránh phân bổ đồng đều nhưng không sát nhu cầu. Tỉnh nên tổ chức các nhóm hỗ trợ nghiệp vụ để hướng dẫn xã miền núi, hải đảo và những nơi còn thiếu cán bộ chuyên sâu.

Nội dung bồi dưỡng cần thiết thực, tập trung vào phân tích dữ liệu, tham mưu chính sách, quản lý từng trường hợp, kỹ năng số và giao tiếp với nhóm yếu thế. Tỉnh cần có chính sách thu hút nhân lực trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác xã hội và công nghệ thông tin. Việc đánh giá cán bộ phải dựa vào kết quả công việc, tiến độ giải quyết và chuyển biến thực tế của người dân được phục vụ.

Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng sát cơ sở, dân chủ và phù hợp với chuyển đổi số.

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cần tập trung định hướng những vấn đề lớn, kiểm tra kết quả và kịp thời tháo gỡ khó khăn. Bên cạnh nghị quyết, kết luận, cần tăng cường giao ban chuyên đề, làm việc trực tiếp tại cơ sở, đối thoại với người dân và khảo sát độc lập. Mỗi chương trình xã hội trọng điểm nên có hệ thống theo dõi trực tuyến với các thông tin cơ bản về tiến độ, số người được hưởng, chênh lệch giữa các địa bàn và phản ánh của người dân.

Vai trò của tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan thực hiện chính sách, đơn vị cung cấp dịch vụ công cần được phát huy rõ hơn. Trước khi điều chỉnh chính sách, cơ quan có trách nhiệm cần lấy ý kiến người thụ hưởng. Các kênh tiếp nhận phản ánh phải dễ sử dụng; đồng thời, duy trì hình thức hỗ trợ trực tiếp đối với người không có thiết bị hoặc kỹ năng số. Chuyển đổi số phải giúp người dân giảm thủ tục, giảm thời gian chờ đợi, không tạo thêm rào cản.

Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát và kịp thời điều chỉnh chính sách

Chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm cần ưu tiên những lĩnh vực có nguồn lực lớn, nhiều đối tượng thụ hưởng, dễ xảy ra sai sót hoặc có chênh lệch giữa các địa bàn. Việc kiểm tra không chỉ xem xét thủ tục mà phải đánh giá chính sách có đến đúng người, đúng thời điểm và mang lại kết quả hay không. Cần phối hợp kiểm tra của Đảng với giám sát của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, cơ quan báo chí và Nhân dân; công khai kết quả phù hợp; đồng thời, bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Tỉnh cần theo dõi các dấu hiệu sớm về thất nghiệp, tái nghèo, bỏ học, thiếu nước sạch, quá tải y tế và ảnh hưởng của thiên tai để chủ động xử lý. Công tác sơ kết, tổng kết phải so sánh mục tiêu với kết quả thực tế, làm rõ hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng áp dụng rộng hơn. Kiến nghị sau kiểm tra, giám sát phải được theo dõi đến khi hoàn thành; kết quả thực hiện là căn cứ điều chỉnh chủ trương, phân bổ nguồn lực và đánh giá cán bộ.

4. Kết luận

Thực tiễn Khánh Hòa cho thấy sự lãnh đạo của Tỉnh ủy có vai trò quan trọng trong việc huy động hệ thống chính trị và đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Kết quả đạt được trong các lĩnh vực người có công, việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà ở và cải cách hành chính đã tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, địa bàn rộng, mô hình chính quyền hai cấp và những rủi ro xã hội mới đòi hỏi Tỉnh ủy tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chú trọng dữ liệu, kết quả thực hiện và sự công bằng trong thụ hưởng. Các giải pháp trên nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách; củng cố năng lực của chính quyền cấp xã; thu hẹp chênh lệch giữa các địa bàn và bảo đảm quyền lợi của người dân. Đây là cơ sở để Khánh Hòa phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012). Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (2022). Báo cáo số 205-BC/TU ngày 12/7/2022 tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (2026). Báo cáo số 271-BC/TU ngày 29/5/2026 sơ kết 1 năm vận hành bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2024). Chương trình hành động số 84-CTr/TU ngày 29/01/2024 thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2025). Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.