Phòng tuyến sông Như Nguyệt dưới thời Lý – Thế kỷ XI: nhận diện giá trị và định hướng nghiên cứu bảo tồn phát huy giá trị

The Nhu Nguyet River defensive line under the Ly dynasty in the 11th century: identifying heritage values and directions for research, conservation and promotion

The Nhu Nguyệt river defense line: value dentification, research orientations, conservation promotion

                                                  Thân Văn Tiệp
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: tiepthantvt@gmail.com

(Quanlynhannuoc) – Trên cơ sở kết quả khảo sát thực địa hệ thống di tích thuộc phòng tuyến Như Nguyệt dưới thời Lý, Thế kỷ XI phân bố dọc hai bờ sông Cầu, bài viết nhận diện cấu trúc không gian và giá trị của hệ thống phòng tuyến. Bước đầu cho thấy, phòng tuyến không phải là một tuyến lũy đơn nhất mà là một hệ thống phòng thủ tổng hợp, được hình thành từ sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và sự sáng tạo của con người. Mặc dù nhiều dấu tích vật chất đã bị biến đổi theo thời gian, hệ thống di tích, địa danh và các yếu tố văn hóa phi vật thể vẫn góp phần phản ánh phạm vi, cấu trúc và ký ức lịch sử của phòng tuyến. Bài viết đề xuất cách tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu, nhận diện và bảo tồn phòng tuyến sông Như Nguyệt như một không gian di sản lịch sử – văn hóa thống nhất, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Từ khóa: Phòng tuyến sông Như Nguyệt; Lý Thường Kiệt; kháng chiến chống Tống năm 1077; Bắc Ninh, khảo cổ học; lịch sử – văn hóa; bảo tồn di sản; phát huy giá trị.

Abstract: Based on the results of field surveys of the heritage sites associated with the Như Nguyệt defensive line under the Ly dynasty in the 11th century, distributed along both banks of the Cầu River, this paper identifies the spatial structure and heritage values of the defensive system. The study suggests that the Như Nguyệt defensive line was not a single continuous rampart but rather an integrated defensive system, formed through the interaction between natural conditions and human ingenuity. Although many of its physical remains have been altered over time, the surviving monuments, historical place names, and elements of intangible cultural heritage continue to reflect the extent, structural organization, and historical memory of the defensive line. The paper proposes an interdisciplinary approach to the study, identification, and conservation of the Như Nguyệt defensive line as a unified historical and cultural heritage landscape, thereby providing a scientific basis for its management, conservation, and sustainable value enhancement.

Keywords: Như Nguyệt Defensive Line; Lý Thường Kiệt; Song – Đại Việt War of 1077; Bắc Ninh; archaeology; historical and cultural; heritage conservation; heritage value enhancement.

1. Đặt vấn đề

Cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077) dưới triều Lý là một trong những sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Đại Việt. Trong cuộc kháng chiến này, phòng tuyến sông Như Nguyệt giữ vai trò quan trọng, góp phần quyết định làm thất bại cuộc tiến công của quân Tống, bảo vệ nền độc lập của Đại Việt. Phòng tuyến phản ánh trình độ tổ chức quân sự, khả năng khai thác điều kiện tự nhiên và nghệ thuật xây dựng thế trận phòng thủ của nhà nước Đại Việt thế kỷ XI. Trải qua gần 1.000 năm, phòng tuyến sông Như Nguyệt đã trở thành một không gian lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và khảo cổ học, được bảo tồn thông qua hệ thống di tích, địa danh, tín ngưỡng dân gian và ký ức lịch sử của cộng đồng cư dân dọc hai bờ sông Cầu.

Bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu của sử học, khảo cổ học và địa lý lịch sử. Nguồn tư liệu được khai thác gồm, các công trình nghiên cứu đã công bố, kết quả điều tra, khảo sát thực địa, hồ sơ di tích và tư liệu văn hóa dân gian liên quan đến phòng tuyến sông Như Nguyệt… Bài viết bước đầu nhận diện cấu trúc không gian của hệ thống phòng tuyến, qua đó làm rõ giá trị lịch sử, khảo cổ học và di sản của phòng tuyến sông Như Nguyệt trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XI.

2. Không gian và cấu trúc hệ thống phòng tuyến sông Như Nguyệt

2.1. Điều kiện tự nhiên và sự hình thành phòng tuyến

Sông Như Nguyệt (hay sông Cầu) là một trong những tuyến giao thông thủy quan trọng của vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời giữ vị trí chiến lược kết nối nối vùng biên giới phía bắc với trung tâm châu thổ sông Hồng. Đoạn sông chảy qua địa bàn Bắc Ninh có lòng sông tương đối rộng, nhiều khúc uốn, bãi bồi, doi đất và các gò cao ven sông, tạo nên những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc kiểm soát các bến vượt và tổ chức phòng ngự. Những đặc điểm địa hình này đã hình thành lợi thế tự nhiên quan trọng trong chiến lược phòng thủ của Đại Việt vào thế kỷ XI.

Việc lựa chọn sông Như Nguyệt làm tuyến phòng thủ cho thấy nhà Lý đã khai thác hiệu quả các điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Cầu trong tổ chức thế trận phòng ngự. Dòng sông không chỉ đóng vai trò là chướng ngại tự nhiên làm hạn chế khả năng vượt sông của quân Tống mà còn tạo điều kiện để quân Đại Việt chủ động cơ động lực lượng, bảo đảm hậu cần và phối hợp tác chiến trên cả hai bờ sông. Mặc dù các nguồn sử liệu không mô tả chi tiết quá trình xây dựng phòng tuyến, sự kết hợp giữa tư liệu lịch sử, đặc điểm địa hình và kết quả khảo sát thực địa cho phép bước đầu nhận định rằng việc bố trí phòng tuyến đã gắn chặt với các yếu tố địa mạo và mạng lưới giao thông đường thủy của khu vực.

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy, phòng tuyến sông Như Nguyệt không phải là một tuyến lũy liên tục kéo dài dọc bờ sông mà là một hệ thống phòng thủ tổng hợp, gồm nhiều thành tố như các đoạn lũy đất, bến vượt, vị trí đóng quân, điểm quan sát và mạng lưới làng xã ven sông có vị trí chiến lược. Các thành tố này được phân bố phù hợp với đặc điểm địa hình từng khu vực, tạo nên một cấu trúc phòng ngự nhiều lớp, có khả năng hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tác chiến.

Trên nền tảng điều kiện tự nhiên và cấu trúc địa hình đó, hệ thống các di tích, địa danh và dấu tích hiện còn phân bố dọc hai bờ sông Cầu góp phần phản ánh rõ hơn cấu trúc không gian và sự tổ chức của phòng tuyến sông Như Nguyệt (Hình 01).

Hình ảnh cấu trúc không gian phòng tuyến sông Như Nguyệt

2.2. Cấu trúc hệ thống phòng tuyến

Phòng tuyến sông Như Nguyệt được tổ chức như một hệ thống phòng thủ tổng hợp, trong đó các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có mối liên kết chặt chẽ với. Thay vì hình thành một tuyến lũy khép kín kéo dài liên tục dọc theo bờ sông, hệ thống phòng tuyến bao gồm nhiều thành tố như dòng sông, các đoạn lũy đất, bến vượt, vị trí đóng quân, điểm quan sát và mạng lưới làng xã ven sông. Sự kết hợp giữa các thành tố này đã tạo nên thế trận phòng ngự nhiều lớp, có khả năng kiểm soát các hướng vượt sông và bảo vệ tuyến tiến vào khu vực trung tâm của Đại Việt.

Một đặc điểm nổi bật của phòng tuyến sông Như Nguyệt là sự gắn kết giữa hệ thống phòng thủ với mạng lưới làng xã ven sông. Trong điều kiện chiến tranh thế kỷ XI, các cộng đồng cư dân không chỉ cung cấp nhân lực, lương thực và phương tiện vận chuyển mà còn góp phần bảo đảm hoạt động của hệ thống phòng thủ tại các bến vượt và tuyến giao thông thủy. Hiện nay, nhiều địa điểm tiếp tục được cộng đồng địa phương gìn giữ thông qua hệ thống đình, đền, nghè, chùa, địa danh, truyền thuyết và lễ hội truyền thống.

Bước đầu có thể nhận định rằng phòng tuyến sông Như Nguyệt được hình thành từ sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên, hệ thống phòng thủ và mạng lưới cư trú truyền thống trong một chỉnh thể thống nhất. Cách tiếp cận này góp phần làm rõ cấu trúc của phòng tuyến dưới góc độ lịch sử và khảo cổ học mà còn cho phép nhận diện phòng tuyến như một không gian lịch sử – văn hóa, trong đó các yếu tố vật thể và phi vật thể có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp bảo tồn theo quy mô toàn bộ không gian phòng tuyến, thay vì chỉ tập trung vào từng di tích riêng lẻ.

2.3. Hệ thống di tích và dấu tích lịch sử trong không gian phòng tuyến

Kết quả khảo sát thực địa kết hợp với việc đối chiếu sử liệu, địa danh lịch sử và tư liệu dân gian cho thấy các di tích, địa điểm liên quan đến phòng tuyến sông Như Nguyệt phân bố thành một mạng lưới tương đối liên hoàn dọc bờ sông Cầu. Sự phân bố này phản ánh mối quan hệ giữa điều kiện địa hình, mạng lưới giao thông đường thủy và quá trình tổ chức phòng thủ của quân đội nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống. Mặc dù phần lớn các công trình quân sự trực tiếp không còn được bảo tồn do sự biến đổi của địa hình và quá trình cư trú lâu dài, hệ thống đình, đền, chùa, nghè, bến sông, gò đất, địa danh cổ cùng các truyền thuyết địa phương vẫn lưu giữ nhiều thông tin có giá trị, góp phần hỗ trợ việc nhận diện không gian lịch sử của phòng tuyến.

Trên cơ sở kết quả khảo sát, các địa điểm hiện còn có thể được chia thành hai cụm phân bố chính tương ứng với hai bờ sông Như Nguyệt. Ở bờ nam, hệ thống di tích phân bố tương đối liên tục từ khu vực Vân Môn, Tam Giang, Yên Trung, Tam Đa đến Kinh Bắc và Vũ Ninh. Tiêu biểu là các địa điểm như đền Núi, Núi Đồn, Miếu Cầu Gạo, đền Xà, Bến Như Nguyệt, đền thờ Lý Thường Kiệt, đền Vọng Nguyệt, cụm di tích Chân Lạc, Thọ Đức, Phấn Động, Quả Cảm và Núi Dinh. Xét về vị trí phân bố, phần lớn các địa điểm đều nằm gần tuyến sông, các bến vượt hoặc trên những khu vực địa hình thuận lợi cho việc quan sát và kiểm soát giao thông đường thủy. Điều này cho phép bước đầu nhận định rằng khu vực bờ nam nhiều khả năng là trọng điểm của hệ thống phòng thủ, nơi tập trung các hoạt động kiểm soát vượt sông, bố trí lực lượng và bảo đảm hậu cần trong thời kỳ chiến tranh (Bảng 01).

Bảng 1. Bảng kê hệ thống di tích thuộc phòng tuyến sông Như Nguyệt

STTDi tíchXã/phườngTọa độ địa lýTình trạng quản lý
Vĩ độKinh độ
1Đền NúiVăn Môn21°11’41.02″105°55’33.5″Xếp hạng di tích
 Quốc gia năm 1988
2Núi Đồn21°11’32.12″105°55’46”Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
3Cánh Đồng Dinh21°11’19.86″105°55’56.93″
4Điếm Trung Quân21°11’28.16″105°55’15.74″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
5Miếu Cầu Gạo21°11’29.21″105°5515.67″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
6 7Đền XàTam Giang 21°14’30.76″105°56’2.75″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
Ngã ba Xà 21°14’39.21″105°56’2.75″
8Bến Như Nguyệt 21°13’57.21″105°56’44.44″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
9Chùa Bồ Vàng 21°13’55.51″105°56’51.41″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
10Đền thờ Lý Thường Kiệt 21°13’45.23″105°56’35.05″Xếp hạng di tích cấp
tỉnh/thành phố năm 2019
11Đền Vọng Nguyệt 21°13’38.06″105°57’10.26″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
12Dinh Lai (đền Chóa)Yên Trung 21°14’47.73″105°59’51.06″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1990
13Trại Chùa (chùa Thiệu Khánh) 21°14’53.75″105°59’53.87″
14Đình Chân Lạc 21°15’9.79″105°59’43.49″
15Bến Can Vang (đền Thọ Đức)Tam Đa 21°14’43.20″106° 22′.54″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1990
16Trại Chùa (chùa Tháp Linh) 21°14’44.88″106° 29′.09″
17Trại Chĩnh (đình Thọ Đức) 21°14’34.70″106° 01’25.31″
18Đền Phấn Động 21°13’34.37″106° 2’1.77″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1988
19Chùa Phấn Động 21°13’32.46″106° 2’0.88″
20Trại Kim Sơn (chùa Kim Sơn)Kinh Bắc 21°12’22.81″106° 2’48.31″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1990
21Trại Sáng (đình, đền Quả Cảm) 21°12’20.29″106° 2’57.20″
22Núi DinhVũ Ninh 21°12’31.30″106° 2’42.23″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1990
23Chùa XácXuân Cẩm 21°14’28.30″105°56’21.45″Xếp hạng di tích cấp
tỉnh/thành phố năm 2004
24Nghè Ngũ Giáp 21°14’10.57″105°56’40.99″Xếp hạng di tích cấp
tỉnh/thành phố năm 2008
25Núi ĐồnNếnh 21°14’0.11″106° 7’55.77″Xếp hạng di tích
Quốc gia năm 1989

Ở bờ bắc, số lượng di tích tuy ít hơn nhưng đều phân bố tại các vị trí có ý nghĩa về mặt địa hình và giao thông, tiêu biểu như chùa Xác, nghè Ngũ Giáp, Núi Đồn và đình Vân Cốc. Các địa điểm này nằm đối diện hoặc gần các bến vượt quan trọng trên sông Cầu, tạo nên những vị trí thuận lợi cho việc quan sát và kiểm soát khu vực đối diện với tuyến phòng thủ phía nam. Sự tương ứng về vị trí giữa các địa điểm ở hai bờ sông gợi mở khả năng hệ thống phòng tuyến không chỉ dựa vào một tuyến phòng ngự đơn lẻ mà được tổ chức theo cơ chế kiểm soát không gian trên cả hai bờ sông, phù hợp với đặc điểm địa hình và yêu cầu tác chiến của cuộc kháng chiến chống quân Tống.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng mối liên hệ giữa các địa điểm hiện nay chủ yếu được xác lập trên cơ sở tổng hợp sử liệu, địa danh, truyền thống lịch sử, kết quả khảo sát thực địa và đặc điểm phân bố không gian; trong khi chứng cứ khảo cổ học trực tiếp về các công trình quân sự thời Lý vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nhận diện toàn bộ các địa điểm này như những thành tố của hệ thống phòng tuyến được xem là một giả thuyết khoa học có cơ sở, song vẫn cần tiếp tục được kiểm chứng thông qua các cuộc điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học trong tương lai.

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy, khu vực gồm Đền Xà, Bến Như Nguyệt, Đền thờ Lý Thường Kiệt, Đền Vọng Nguyệt cùng một số địa điểm lân cận tạo thành cụm di tích có mật độ phân bố dày đặc. Các địa điểm này đều nằm gần những đoạn sông thuận lợi cho việc vượt sông, đồng thời phân bố trên các khu vực địa hình tương đối cao, có tầm quan sát rộng và khả năng kiểm soát các tuyến giao thông thủy dọc sông Cầu. Sự phân bố này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa vị trí các di tích với đặc điểm địa hình và mạng lưới giao thông của khu vực. Khu vực này có nhiều khả năng giữ vai trò hạt nhân trong việc tổ chức và điều hành hoạt động của hệ thống phòng tuyến. Tuy nhiên, chưa có chứng cứ khảo cổ học trực tiếp để khẳng định đây là đại bản doanh hay sở chỉ huy của quân Đại Việt. Vì vậy, nhận định về vai trò trung tâm của khu vực này hiện chủ yếu dựa trên sự tổng hợp giữa sử liệu, đặc điểm địa hình, kết quả khảo sát thực địa và truyền thống lịch sử địa phương.

Các địa điểm như Miếu Cầu Gạo, Núi Đồn, Điếm Trung Quân cùng một số địa danh cổ đều nằm trên các tuyến giao thông kết nối vùng trung du với đồng bằng Bắc Bộ. Về mặt địa hình, các địa điểm này phản ánh xu hướng lựa chọn các vị trí có ý nghĩa chiến lược trong kiểm soát giao thông đường thủy và đường bộ. Chức năng cụ thể của từng địa điểm vẫn cần được kiểm chứng bằng tư liệu khảo cổ học, sự kết hợp giữa vị trí phân bố, điều kiện địa hình và các ghi chép lịch sử cho phép đặt giả thuyết rằng những địa điểm này từng đảm nhiệm vai trò cảnh giới, quan sát, kiểm soát vượt sông hoặc hỗ trợ hoạt động của hệ thống phòng tuyến.

Bên cạnh các địa điểm có khả năng gắn với hoạt động quân sự, nhiều đình, đền, nghè và chùa hiện nay vẫn lưu giữ những lớp ký ức lịch sử thông qua thần tích, truyền thuyết, lễ hội và địa danh cổ. Đây là nguồn tư liệu có giá trị trong việc nhận diện quá trình cộng đồng địa phương tiếp nhận, lưu truyền và tái hiện ký ức về cuộc kháng chiến chống quân Tống qua nhiều thế hệ.

Tổng hợp các nguồn tư liệu, kết quả khảo sát thực địa, đặc điểm phân bố di tích và tư liệu văn hóa dân gian cho thấy các địa điểm liên quan đến phòng tuyến sông Như Nguyệt có mối liên hệ chặt chẽ về phương diện không gian và bối cảnh lịch sử. Bước đầu nhận diện hệ thống di tích này như những thành tố của một không gian lịch sử – văn hóa thống nhất, phản ánh sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên, tổ chức phòng thủ và quá trình lưu giữ ký ức cộng đồng về cuộc kháng chiến chống quân Tống dưới triều Lý.

3. Giá trị của phòng tuyến sông Như Nguyệt

Phòng tuyến sông Như Nguyệt là một minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật tổ chức phòng thủ của nhà nước Đại Việt dưới triều Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 -1077). Phòng tuyến không đơn thuần là một tuyến lũy bố trí dọc bờ sông mà là một hệ thống phòng thủ tổng hợp, được tổ chức trên cơ sở khai thác đồng thời các yếu tố địa hình, thủy văn và mạng lưới giao thông của lưu vực sông Cầu.

Giá trị lịch sử của phòng tuyến không chỉ được thể hiện qua vai trò trong chiến thắng năm 1077 mà còn phản ánh trình độ tổ chức nhà nước, khả năng huy động nguồn lực và tư duy quân sự của triều Lý trong việc kết hợp giữa điều kiện tự nhiên với sức mạnh của cộng đồng cư dân địa phương.

Dưới góc độ khảo cổ học, giá trị của hệ thống di tích phòng tuyến này không chỉ nằm ở từng di tích hay di vật riêng lẻ mà còn ở mối quan hệ không gian giữa các địa điểm trong toàn bộ cảnh quan lịch sử. Chính sự phân bố của các cụm di tích đã góp phần nhận diện tổ chức không gian của hệ thống phòng thủ thời Lý.

Hệ thống đình, đền, chùa, nghè, địa danh, thần tích, truyền thuyết và lễ hội dân gian phản ánh quá trình cộng đồng cư dân địa phương tiếp nhận, lưu giữ và truyền nối ký ức về cuộc kháng chiến chống quân Tống. Những có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu sự tiếp nối của ký ức lịch sử và quá trình hình thành không gian văn hóa gắn với phòng tuyến sông Như Nguyệt.

Từ góc độ nghiên cứu di sản, phòng tuyến sông Như Nguyệt có thể được nhận diện như một không gian di sản lịch sử – văn hóa, trong đó các di tích vật thể, địa danh, cảnh quan tự nhiên và các yếu tố văn hóa phi vật thể tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Giá trị của hệ thống này nằm ở tính liên kết của toàn bộ không gian lịch sử được hình thành từ cuộc kháng chiến chống quân Tống và được cộng đồng cư dân bảo lưu qua nhiều thế kỷ.

Từ cách tiếp cận đó, công tác bảo tồn cần được triển khai theo hướng tổng thể, kết hợp giữa nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, địa lý lịch sử và quy hoạch không gian văn hóa. Bên cạnh việc bảo vệ các di tích hiện còn, cần tăng cường điều tra khảo cổ học, xây dựng cơ sở dữ liệu số về hệ thống phòng tuyến, lập bản đồ phân bố di tích và kết nối các địa điểm trong một chỉnh thể thống nhất. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị phòng tuyến sông Như Nguyệt gắn với phát triển văn hóa và du lịch bền vững.

Giá trị của phòng tuyến sông Như Nguyệt không chỉ giới hạn ở vai trò của một công trình quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Tống mà còn thể hiện ở ý nghĩa lịch sử, khảo cổ học, văn hóa và di sản. Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu và hiện trạng phân bố di tích, có thể bước đầu nhận diện phòng tuyến như một không gian lịch sử – văn hóa thống nhất, được hình thành bởi sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên, hệ thống phòng thủ, mạng lưới cư trú và ký ức lịch sử của cộng đồng cư dân hai bên sông Cầu. Đây cũng là đóng góp chính của bài viết, đồng thời là cơ sở khoa học để tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp bảo tồn theo quy mô toàn bộ hệ thống phòng tuyến.

4. Định hướng bảo tồn, phát huy giá trị di sản phòng tuyến sông Như Nguyệt

Từ kết quả nghiên cứu, có thể thấy, việc bảo tồn phòng tuyến sông Như Nguyệt cần được triển khai theo hướng tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa sử học, khảo cổ học, địa lý lịch sử, nghiên cứu di sản… Trọng tâm của công tác bảo tồn không chỉ là bảo vệ từng di tích riêng lẻ mà còn là nhận diện, gìn giữ và phát huy mối liên hệ lịch sử giữa các thành tố cấu thành không gian phòng tuyến.

Trong thời gian tới, cần ưu tiên điều tra, thăm dò và khai quật khảo cổ học tại các khu vực còn bảo lưu dấu tích địa hình, địa danh hoặc tư liệu lịch sử liên quan đến phòng tuyến nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho việc xác định phạm vi và cấu trúc của hệ thống phòng thủ. Xây dựng cơ sở dữ liệu số, bản đồ phân bố di tích và hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và bảo tồn; từng bước hình thành mô hình quản lý di sản theo không gian lịch sử – văn hóa, thay vì chỉ quản lý các di tích đơn lẻ. Bên cạnh đó, việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương, gắn bảo tồn di sản với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch văn hóa bền vững sẽ góp phần phát huy giá trị của phòng tuyến sông Như Nguyệt trong bối cảnh phát triển hiện nay.

Phòng tuyến sông Như Nguyệt giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử quân sự Đại Việt thế kỷ XI, là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật tổ chức phòng thủ của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075 – 1077). Cấu trúc của phòng tuyến phản ánh sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy quân sự với việc khai thác cảnh quan tự nhiên trong xây dựng thế trận phòng ngự của Đại Việt thời Lý. Mặc dù nhiều dấu tích vật chất của phòng tuyến đã bị biến đổi qua thời gian, hệ thống di tích, địa danh, truyền thuyết, lễ hội và các yếu tố văn hóa dân gian vẫn lưu giữ những lớp thông tin lịch sử có giá trị. Khi được đặt trong mối quan hệ với sử liệu, điều kiện địa hình và kết quả khảo sát thực địa, các tư liệu này cho phép bước đầu nhận diện phòng tuyến sông Như Nguyệt như một không gian lịch sử – văn hóa thống nhất, trong đó các yếu tố quân sự, tự nhiên và văn hóa có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Đây cũng là cách tiếp cận góp phần mở rộng nhận thức về cấu trúc của phòng tuyến, vượt ra ngoài cách nhìn truyền thống vốn chủ yếu tập trung vào từng di tích hoặc từng sự kiện quân sự riêng lẻ.

Việc nghiên cứu phòng tuyến sông Như Nguyệt phải được thực hiện theo cách tiếp cận liên ngành, kết hợp sử học, khảo cổ học, địa lý lịch sử và nghiên cứu di sản. Đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết của việc điều tra, thăm dò và khai quật khảo cổ học. Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ không gian di sản, nhằm kiểm chứng các giả thuyết khoa học và hoàn thiện nhận thức về cấu trúc của hệ thống phòng tuyến. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị phòng tuyến sông Như Nguyệt theo quy mô một không gian di sản lịch sử – văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy một trong những di sản tiêu biểu của lịch sử quân sự Việt Nam thời trung đại.

Tài liệu tham khảo:
Đại Việt sử ký toàn thư (1998). Tập 1. Nxb. Khoa học xã hội.
Hoàng Xuân Hãn (2010). Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý. Nxb. Khoa học xã hội.
Nguyễn Văn Dị, Văn Lang. Nghiên cứu về chiến tuyến phòng ngự sông Cầu. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 72 (3/1965), tr. 28 – 36.
Nguyễn Quang Ngọc, Phạm Đức Anh, Đặng Ngọc Hà (2010). Vương triều Lý (1009 – 1226). Nxb Hà Nội.
Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí (1998). Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc. Nxb Quân đội nhân dân.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2006). Đại Nam nhất thống chí (Tập 4). Nxb Thuận Hóa.
Bảo tàng Bắc Ninh số 2. Hồ sơ xếp hạng các di tích. Tư liệu Bảo tàng Bắc Ninh số 2.