Mâu thuẫn biện chứng giữa “cái chung” của thể chế quản lý và “cái riêng” của hệ thống tôn giáo tại Ninh Bình sau hợp nhất hành chính

The dialectical contradiction between the “universal” in governance institutions and the “particular” in religious systems in Ninh Binh after administrative consolidation

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
Công ty cổ phần Du lịch nghỉ dưỡng QPEARLAND
Email:trinhphuonglinh291209@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Vận dụng phép biện chứng duy vật, trọng tâm là cặp phạm trù cái chung cái riêng và nguyên lý tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, xây dựng và phân tích một mâu thuẫn biện chứng trong phát huy giá trị văn hóa – tôn giáo tại Ninh Bình giữa cái chung của thể chế quản lý và cái riêng không thể quy giản của từng hệ thống tôn giáo. Từ đó, bài viết đề xuất nguyên tắc quản trị “thống nhất trong đa dạng”, cụ thể hóa thành cơ quan chủ trì, cơ sở pháp lý và lộ trình thực hiện cho từng hệ thống tôn giáo, có thể vận dụng giải quyết trong thực tiễn quản lý nhà nước.

Từ khóa: Mâu thuẫn biện chứng; cái chung và cái riêng; quản trị đa tôn giáo; hợp nhất hành chính; di sản văn hóa – tôn giáo; Ninh Bình.

Abstract: Applying materialist dialectics, with a focus on the universal-particular category pair and the principle of the relative independence of social consciousness, this article constructs and analyzes a dialectical contradiction in the promotion of cultural-religious values in Ninh Binh between the universal of unified administrative governance and the irreducible particular of each religious system. The article proposes a governance principle of “unity in diversity”, specified into lead agencies, legal grounds, and implementation roadmaps for each religious system, applicable to state management practice.

Keywords: Dialectical contradiction; universal and particular; multi-religious governance; administrative merger; cultural-religious heritage; Ninh Binh.

1. Đặt vấn đề

Ninh Bình hiện có các tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu của cả nước, như Phật giáo (Bái Đính, Tam Chúc), tín ngưỡng thờ Mẫu (Phủ Dầy), Công giáo (nhà thờ Phát Diệm, Bùi Chu…). Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng có phương thức tổ chức, hoạt động khác nhau, nhưng đều được đặt vào trong cùng một khung quản lý hành chính thống nhất.

Câu hỏi triết học đặt ra không phải là hợp nhất hành chính có đúng đắn về quản lý nhà nước hay không, mà là một thể chế quản lý chung, áp dụng đồng nhất cho toàn không gian hành chính mới, có dung hợp được với cái riêng không thể quy giản của từng phương thức tổ chức tôn giáo hay không và nếu không, mâu thuẫn đó cần xử lý theo nguyên tắc quản trị nào. Đây là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng, mọi nỗ lực xóa bỏ cái riêng để thực hiện cái chung đều tất yếu làm biến dạng chính đối tượng được quản lý.

Bài viết đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu. Thứ nhất, ba hệ thống tôn giáo tại Ninh Bình khác biệt với nhau như thế nào về phương thức tổ chức, cơ cấu thẩm quyền và nhịp điệu tái tạo ý nghĩa. Thứ hai, khi cùng một thể chế quản lý hành chính thống nhất tác động lên cả ba hệ thống, hiệu ứng tạo ra có đồng nhất hay không và nếu không, cơ chế nào giải thích sự khác biệt đó. Thứ ba, có thể xây dựng một nguyên tắc quản trị nào vừa bảo đảm tính thống nhất pháp lý, hành chính cần thiết, vừa bảo toàn cái riêng không thể quy giản của từng hệ thống tôn giáo; đồng thời, khả thi trong khuôn khổ thẩm quyền quản lý nhà nước hiện hành.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích phạm trù học trong khuôn khổ duy vật biện chứng, kết hợp phân tích so sánh cấu trúc giữa ba hệ thống tôn giáo dựa trên tư liệu thứ cấp về ba cụm di sản. Các ví dụ thực tiễn được dùng để kiểm tra tính nhất quán của khung phân tích lý luận, không phải như kết quả điều tra thực địa hệ thống.

2. Cơ sở lý luận về mâu thuẫn biện chứng giữa cái chung và cái riêng trong quản trị tôn giáo

Việc chọn duy vật biện chứng làm nền tảng phương pháp luận xuất phát từ chính bản chất vấn đề, mâu thuẫn giữa thể chế thống nhất và cái riêng của tôn giáo không thể phân tích thỏa đáng nếu tách rời ba chiều kích luôn gắn bó nhau: điều kiện vật chất, lịch sử của hợp nhất hành chính; quan hệ xã hội giữa nhà nước, cộng đồng tôn giáo và chủ thể kinh tế và chiều kích ý nghĩa, biểu tượng không quy giản về kinh tế nhưng cũng không tách rời nó. Nguyên lý về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội (Ph.Ăngghen, 1994, tr.641) có ý nghĩa then chốt: quyết định hành chính có thể tái cơ cấu ngay điều kiện vật chất, ranh giới, bộ máy quản lý, nhưng không thể tự động tái cơ cấu phương thức tổ chức nội sinh đã định hình qua hàng trăm năm của từng hệ thống tôn giáo. Khoảng cách giữa tốc độ biến đổi thể chế và tốc độ biến đổi chậm hơn của ý thức, thực hành tôn giáo chính là mảnh đất nảy sinh mâu thuẫn.

Cặp phạm trù cái chung và cái riêng trong phép biện chứng duy vật (V.I.Lênin, 1981, tr.381) cung cấp công cụ trực tiếp để phân tích mâu thuẫn này. Yêu cầu về một thể chế quản lý thống nhất chỉ có thể hiện thực hóa thông qua ba phương thức tổ chức tôn giáo riêng biệt, không tồn tại như một khuôn mẫu trừu tượng áp đặt từ bên ngoài. Bên cạnh đó, mỗi hệ thống còn mang những đặc điểm thuộc phạm trù cái đơn nhất, tức những nét không lặp lại ở bất kỳ hệ thống nào khác, chẳng hạn tư cách pháp lý ba mặt đồng thời (di tích kiến trúc quốc gia, cơ sở tôn giáo, tài sản giáo phận) chỉ riêng có ở quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm. Phân tích mâu thuẫn cái chung – cái riêng, do đó, cần đồng thời nhận diện cả cái đơn nhất, vì đây thường là điểm va chạm cụ thể nhất khi một thể chế quản lý chung được áp lên từng trường hợp riêng. Sai lầm phương pháp luận thường gặp là đồng nhất cái chung với một cái riêng cụ thể, ví dụ lấy mô hình phù hợp với Phật giáo đại chúng làm chuẩn áp cho tín ngưỡng thờ Mẫu, chính là nguồn gốc của nhiều thất bại quản trị trên thực tế.

Nguyên lý này cũng đặt yêu cầu phương pháp luận cho việc phân loại ba hệ thống, sự khác biệt cần được mô tả như những hình thức tổ chức xã hội cụ thể, không quy về một khung phân loại trừu tượng có sẵn. Trên cơ sở đó, ba hệ thống được phân biệt theo ba tiêu chí: mức độ thể chế hóa cơ cấu tổ chức (tư cách pháp nhân, hệ thống văn bản, cấp bậc quản lý); phương thức xác lập thẩm quyền (theo pháp lý, giáo luật, hay theo thừa nhận trực tiếp của cộng đồng); quan hệ giữa thẩm quyền tôn giáo với nguồn lực kinh tế bên ngoài.

Xét theo ba tiêu chí trên, hệ thống thứ nhất là Phật giáo đại chúng tại Bái Đính, Tam Chúc, có mức độ thể chế hóa cao nhất, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có tư cách pháp nhân, hệ thống cấp bậc rõ ràng, quy trình bổ nhiệm và giám sát chức sắc theo giáo luật kết hợp pháp luật. Thẩm quyền được xác lập tập trung, có tổ chức đại diện đủ mạnh để đàm phán với chủ thể bên ngoài. Đặc trưng quan trọng nhất là quy mô đầu tư tư nhân lớn tạo ra cấu trúc song hành, bên cạnh thẩm quyền tôn giáo của Giáo hội còn có quyền lực kinh tế của doanh nghiệp, hai chủ thể cạnh tranh định hình “trải nghiệm Phật giáo đích thực” cho du khách.

Hệ thống thứ hai là tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy, có mức độ thể chế hóa thấp nhất. Thẩm quyền được xác lập không qua quy trình pháp lý hay tổ chức trung ương, mà qua sự thừa nhận trực tiếp, mang tính cá nhân của cộng đồng đối với từng thanh đồng, gắn với uy tín tâm linh tích lũy qua từng nghi lễ (Nguyễn Thị Phương Châm, 2020). Không có thực thể pháp nhân trung ương đại diện; mạng lưới đền, phủ phân tán, thẩm quyền phi tập trung. Đặc điểm này tạo linh hoạt trong thực hành nhưng cũng là điểm dễ tổn thương nhất trước những chủ thể bên ngoài có tổ chức chặt chẽ hơn.

Hệ thống thứ ba là Công giáo tại Phát Diệm, thể chế hóa cao nhưng theo logic khác Phật giáo. Thẩm quyền được xác lập qua chuỗi kế thừa chức thánh, hệ thống hóa bởi giáo luật, tập trung ở cấp giáo phận với tư cách pháp nhân riêng, độc lập tương đối với bộ máy hành chính nhà nước. Đặc trưng quan trọng nhất là quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm mang nhiều tư cách pháp lý, vừa là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Luật Di sản văn hóa (Quốc hội, 2024), vừa là cơ sở tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng tôn giáo (Quốc hội, 2016), vừa là tài sản giáo phận theo giáo luật, ba tư cách không hoàn toàn tương thích.

Ba phương thức tổ chức tôn giáo trên không phải là những biến thể ngẫu nhiên của một mô hình duy nhất, mà là ba cái riêng, mỗi cái riêng mang trong mình một phần của cái chung; đồng thời, không thể quy giản lẫn nhau. Chính vì vậy, khung phân tích tiếp theo của bài viết không tìm cách xây dựng một mô hình phân loại áp đặt lên cả ba, mà xuất phát từ việc thừa nhận cái riêng đó như một tiền đề triết học, để từ đó, phân tích mâu thuẫn nảy sinh khi một thể chế quản lý mang tính chung tác động đồng thời lên cả ba.

Khung phân tích cái chung – cái riêng có thể đặt trong tương quan bổ sung với Lý thuyết trường của Bourdieu (1990), ba hệ thống như ba trường vận hành theo logic nội tại riêng) và Lý thuyết chính trị công nhận của Taylor (1994), Honneth (1995), vốn nhấn mạnh thêm yêu cầu cộng đồng tôn giáo được thừa nhận như chủ thể có tiếng nói, không chỉ là đối tượng quản lý.

Trong bối cảnh phát triển du lịch di sản văn hóa – tôn giáo hiện nay, các nghiên cứu đã ghi nhận rộng rãi những căng thẳng giữa tính thiêng nguyên bản của di sản với logic thương mại hóa, giữa quyền chủ thể của cộng đồng sở hữu di sản với quyền lực hành chính và kinh tế từ bên ngoài (Đặng Nghiêm Vạn, 2001; Nguyễn Hồng Dương, 2017). Sự kiện hợp nhất hành chính tháng 7/2025 tại Ninh Bình tạo thêm một điều kiện lịch sử mới: ba hệ thống tôn giáo vốn có phương thức tổ chức, cơ cấu thẩm quyền khác biệt căn bản nay cùng chịu sự điều chỉnh của một thể chế quản lý hành chính đơn nhất. Từ đó, nảy sinh mâu thuẫn biện chứng mà bài viết tập trung phân tích: giữa cái chung của thể chế quản lý đơn nhất và cái riêng của ba phương thức tổ chức tôn giáo khác biệt căn bản về cấu trúc.

Đây là mâu thuẫn biện chứng không đối kháng. Xét theo đúng tiêu chí phân loại mâu thuẫn xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, tức nguồn gốc giai cấp và khả năng giải quyết bằng con đường điều hòa lợi ích hay buộc phải qua đấu tranh gay gắt, hai mặt của mâu thuẫn này (yêu cầu thống nhất thể chế và yêu cầu bảo tồn cái riêng tôn giáo) không bắt nguồn từ đối lập giai cấp căn bản và về nguyên tắc có thể giải quyết bằng con đường thể chế hóa, điều chỉnh chính sách, không đòi hỏi triệt tiêu một bên.

Tuy nhiên, tính không đối kháng không đồng nghĩa với việc mâu thuẫn tự mất đi nếu thiếu can thiệp, cả hai mặt vẫn có tính tất yếu khách quan riêng, không thể loại bỏ mặt nào mà không gây tổn hại nghiêm trọng. Mặt thứ nhất, tính tất yếu của thể chế thống nhất, xuất phát từ yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về một hệ thống pháp lý nhất quán trên cùng đơn vị hành chính. Mặt thứ hai, tính tất yếu của cái riêng trong tổ chức tôn giáo, vì mỗi hệ thống tái tạo ý nghĩa tâm linh theo nhịp điệu, cơ chế nội sinh không thể đồng nhất hóa mà không phá vỡ bản chất của nó.

Ba phương án đơn giản đều không khả thi: ưu tiên tuyệt đối cho cái chung sẽ phá hủy tính xác thực di sản; ưu tiên tuyệt đối cho cái riêng sẽ làm tan rã khung quản lý thống nhất; duy trì cơ chế riêng lẻ như trước hợp nhất không còn khả thi vì thực thể hành chính ba tỉnh cũ đã chấm dứt tồn tại pháp lý. Sự loại trừ cả ba phương án này cho thấy mâu thuẫn chỉ có thể được duy trì ở trạng thái thống nhất động, tiếp tục vận động và được điều tiết liên tục bằng thực tiễn quản lý, chứ không thể giải quyết dứt điểm bằng một lựa chọn tĩnh giữa hai cực đối lập.

3. Ba phương thức tổ chức tôn giáo và hiệu ứng không đối xứng của thể chế quản lý thống nhất

Khi cùng một khung thể chế quản lý hành chính được áp dụng đồng thời lên ba phương thức tổ chức tôn giáo khác biệt như đã phân tích ở mục 1, hiệu ứng tạo ra không mang tính trung lập mà có tính không đối xứng về cấu trúc, ba phương thức tổ chức khác nhau tất yếu sinh ra ba loại hiệu ứng khác nhau khi chịu cùng một tác động.

Đối với hệ thống Phật giáo đại chúng tại Bái Đính, Tam Chúc thể chế quản lý đơn nhất có xu hướng tạo hiệu ứng tăng tốc tích lũy kinh tế, khi hiệu quả kinh tế trở thành tiêu chí đánh giá chủ đạo, logic thị trường của doanh nghiệp đầu tư có xu hướng lấn át logic tôn giáo nội sinh của Giáo hội, thu hẹp không gian tu tập trước không gian dịch vụ du lịch, hiện tượng đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu về biến đổi tôn giáo tại Việt Nam trong kinh tế thị trường (Đặng Nghiêm Vạn, 2001; Nguyễn Hồng Dương, 2017).

Đối với hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy, thể chế quản lý đơn nhất tạo hiệu ứng tổn thương không cân xứng. Cấu trúc phi thể chế hóa, thẩm quyền phân tán không tương thích với yêu cầu về một “đầu mối đại diện” thống nhất mà khung hành chính đòi hỏi. Quyền định nghĩa ý nghĩa di sản dễ dịch chuyển sang chủ thể có năng lực đại diện thể chế mạnh hơn, không cần qua quyết định cưỡng bức nào, đơn thuần vì cơ chế hành chính chỉ đối thoại hiệu quả với chủ thể có tổ chức tương xứng. Việc tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại năm 2016 (UNESCO, 2003; Ngô Đức Thịnh, 2015) minh họa nghịch lý này, công nhận quốc tế mang lại vị thế nhưng tạo áp lực tái cấu trúc thực hành theo hướng dễ trình diễn, dễ kiểm soát hơn, có nguy cơ làm suy yếu chính đặc điểm phi tập trung, linh hoạt vốn là bản chất hệ thống.

Đối với hệ thống Công giáo tại Phát Diệm, thể chế quản lý đơn nhất tạo hiệu ứng xung đột thẩm quyền pháp lý. Cấu trúc song hành giữa giáo luật và pháp luật Việt Nam về di sản, tôn giáo tạo vùng giao thoa phức tạp, nơi cùng không gian vật lý chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống quy phạm với thứ bậc ưu tiên chưa rõ ràng. Câu hỏi ai có thẩm quyền quyết định cuối cùng khi Giáo phận muốn tu bổ một hạng mục kiến trúc đã xếp hạng di tích quốc gia sẽ càng cấp bách hơn trong thể chế quản lý mới, khi phạm vi áp dụng của cả hai hệ thống pháp luật đều mở rộng ra cùng không gian hành chính tích hợp.

Xét sâu hơn, mâu thuẫn này biểu hiện đồng thời ở bốn tầng, mỗi tầng có logic vận động tương đối riêng, không đồng nhất tuyệt đối theo cặp phạm trù bản chất – hiện tượng: tầng kinh tế (phân bổ nguồn lực theo tiêu chí hiệu quả, nếu bị bỏ qua sẽ khuếch đại bất bình đẳng sẵn có giữa ba hệ thống); tầng thể chế (năng lực đại diện thẩm quyền, nếu bị bỏ qua sẽ tạo bất bình đẳng cơ cấu trong định nghĩa không gian di sản chung); tầng văn hóa (ngôn ngữ, tiêu chí quảng bá du lịch, nếu bị bỏ qua sẽ làm mờ khác biệt riêng có giữa các hệ thống); và tầng bản thể luận (điều kiện tái tạo tính thiêng, nhịp điệu nội sinh, khó đo lường bằng chỉ số hành chính thông thường). Ba tầng đầu dễ quan sát qua chỉ số kinh tế, hành chính, truyền thông; tầng thứ tư có xu hướng suy giảm âm thầm, chỉ bộc lộ thành khủng hoảng khó đảo ngược khi đã muộn. Một hệ thống quản trị chỉ theo dõi ba tầng đầu, do đó, có nguy cơ phát hiện vấn đề chậm hơn thực tế.

Ba nhóm giải pháp phổ biến trong thực tiễn quản lý hiện nay đều không đủ để giải quyết mâu thuẫn ở cả bốn tầng. Phân quyền quản lý cho từng địa phương giải quyết phần nào tầng đại diện nhưng tạo vấn đề mới ở tầng phân bổ nguồn lực và không giải quyết được cái riêng của tín ngưỡng thờ Mẫu, nơi không có thiết chế đủ mạnh để nhận phân quyền. Chuẩn hóa một bộ tiêu chí đánh giá chung tạo công bằng hình thức nhưng bất bình đẳng thực chất, vì bộ tiêu chí thống nhất nào cũng phản ánh một hình thức duy lý hóa phù hợp hơn với hệ thống thể chế hóa cao. Thành lập hội đồng đại diện chung cho cả ba cũng không thể đại diện thỏa đáng cho tín ngưỡng thờ Mẫu bằng cách cử vài thanh đồng tham gia, vì cách làm đó làm sai lệch chính cấu trúc phi tập trung là đặc trưng bản chất của hệ thống. Cả ba nhóm giải pháp đều tiếp cận vấn đề ở tầng quản lý kỹ thuật mà chưa xử lý mâu thuẫn ở tầng triết học.

4. Nguyên tắc quản trị “thống nhất trong đa dạng” và giải pháp cho từng hệ thống tôn giáo

Ba giải pháp thể chế trong mục này cụ thể hóa, ở tầng thực hành quản lý, nguyên tắc rút ra: cái chung (yêu cầu quản lý thống nhất) chỉ được hiện thực hóa thông qua chính cái riêng của từng hệ thống, không phải bằng cách đồng nhất hóa, xóa bỏ mặt riêng. Đây là bước chuyển từ nguyên tắc triết học sang biện pháp hành chính, pháp lý cụ thể, không phải một phép suy diễn logic hình thức chặt chẽ, gắn với cơ quan chủ trì, cơ sở pháp lý hiện hành và lộ trình thực hiện cho từng hệ thống tôn giáo, phân tích chi tiết dưới đây; tính hợp lý của từng giải pháp còn cần được kiểm chứng thêm qua thực tiễn triển khai. Nội dung thực chất của nguyên tắc “thống nhất trong đa dạng” là: Nhà nước thống nhất quản lý về pháp lý, tài chính ở tầm vĩ mô, nhưng để mỗi hệ thống tự vận hành theo cách riêng ở tầng thực hành.

Đối với Phật giáo đại chúng, rủi ro chính là sự dịch chuyển thẩm quyền định nghĩa ý nghĩa tôn giáo từ Giáo hội sang doanh nghiệp đầu tư. Điều kiện cần thiết là xác lập trong hợp đồng hợp tác công tư một điều khoản bảo vệ thẩm quyền của Giáo hội trong định nghĩa nội dung, hình thức hoạt động Phật sự. Giải pháp tương ứng là đồ án phân vùng chức năng song song: vùng phụng tự nội tại do Giáo hội quản lý theo giáo luật và quy định Nhà nước về tôn giáo, vùng dịch vụ du lịch do doanh nghiệp quản lý theo hợp đồng kinh tế, ranh giới được pháp lý hóa rõ ràng. Đây là giải pháp có thể triển khai ngay trong khuôn khổ pháp luật hiện hành: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ban Tôn giáo tỉnh (thuộc Sở Nội vụ) rà soát, bổ sung điều khoản vào các hợp đồng hợp tác công tư mới; đối với hợp đồng đã ký, cần đàm phán lại theo lộ trình phù hợp với thời hạn hợp đồng hiện có, không phát sinh ngân sách nhà nước ngoài chi phí rà soát pháp lý.

Đối với tín ngưỡng thờ Mẫu, rủi ro chính là sự chiếm đoạt thẩm quyền diễn giải do thiếu chủ thể đại diện thể chế đủ mạnh. Điều kiện cần thiết là chính thức thừa nhận cộng đồng thực hành, dù không có tư cách pháp nhân thông thường, là chủ thể có tiếng nói đối với quyết định liên quan trực tiếp đến thực hành nghi lễ.

Về giải pháp, cần phân biệt hai bước theo mức độ khả thi pháp lý khác nhau:

Trước mắt, khả thi trong khuôn khổ hiện hành: thiết lập một quy chế phối hợp tự nguyện giữa chính quyền cấp xã, Ban Quản lý di tích và hội đồng cộng đồng thực hành, trong đó cộng đồng được tham vấn bắt buộc trước khi ban hành quyết định ảnh hưởng đến không gian, nhịp điệu thực hành; đây thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã, không đòi hỏi sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật.

Trong dài hạn, nếu muốn trao cho cộng đồng quyền tham vấn có tính ràng buộc chặt hơn, cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 162/2017/NĐ-CP (Chính phủ, 2017), vì pháp luật hiện hành chưa quy định cơ chế trao thẩm quyền quyết định cho một chủ thể không có tư cách pháp nhân. Việc phân định hai bước này có căn cứ trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 (Quốc hội, 2016) và phù hợp tinh thần Công ước UNESCO năm 2003 (UNESCO, 2003).

Đối với Công giáo, rủi ro chính là xung đột thẩm quyền pháp lý từ sự giao thoa giữa Luật Di sản văn hóaLuật Tín ngưỡng tôn giáo. Điều kiện cần thiết là một cơ chế đồng thuận, mọi quyết định hành chính ảnh hưởng đến không gian phụng tự phải được trao đổi với Giáo phận trước khi ban hành chính thức. Giải pháp tương ứng là quy chế phối hợp về quản lý di sản tôn giáo giữa Ủy ban nhân dân tỉnh và Giáo phận, xác định rõ phạm vi thẩm quyền mỗi bên; Ban Tôn giáo tỉnh (Sở Nội vụ) chủ trì tham mưu, phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng dự thảo, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, không cần văn bản cấp trên mới vì đây là quy chế phối hợp trong nội bộ thẩm quyền quản lý nhà nước của tỉnh.

Về lộ trình, giải pháp đối với Phật giáo và Công giáo đều khả thi ngay trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2025 – 2026; riêng giải pháp cho tín ngưỡng thờ Mẫu cần hai bước, quy chế phối hợp trong giai đoạn 2025 – 2026 và kiến nghị sửa đổi Nghị định số 162/2017/NĐ-CP trong giai đoạn 2027 – 2028.

Điều kiện triết học tiên quyết để cả ba cơ chế vận hành hiệu quả là cộng đồng thực hành, mỗi hệ thống phải duy trì quyền định nghĩa ý nghĩa di sản theo đúng logic nội sinh của hệ thống đó. Thiếu điều kiện này, mọi cơ chế quản trị dù linh hoạt đến đâu cũng có nguy cơ suy biến thành thương mại hóa khoác tên khác. Đây cũng là lý do các cơ chế trên không thể là một lần thiết kế cố định, mà đòi hỏi điều chỉnh liên tục, trong đó, tiếng nói từng cộng đồng tôn giáo phải được bảo đảm có tính cấu trúc, không phụ thuộc thiện chí nhất thời của chủ thể quản lý.

Xét trên bình diện chính trị, nguyên tắc “thống nhất trong đa dạng” không tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đoàn kết lương – giáo là nội dung nhất quán xuất phát từ quan điểm triết học chứ không phải sách lược tình thế (Hồ Chí Minh, 2011). Việc tôn trọng cái riêng của từng hệ thống tôn giáo trong xây dựng thể chế thống nhất, do đó, không mâu thuẫn với yêu cầu quản lý nhà nước, mà chính là điều kiện để khối đại đoàn kết tôn giáo được củng cố trên nền tảng thực chất, phản ánh đúng tính đa dạng được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử của đời sống tôn giáo Việt Nam (Đặng Nghiêm Vạn, 2001). Về quy mô thực tiễn, các cụm di sản Tràng An, Bái Đính, Tam Chúc vốn đã là những điểm đến chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng khách du lịch của địa bàn trước hợp nhất, với xu hướng tăng trưởng liên tục qua nhiều năm (Báo Ninh Bình, 2020; Tổng cục Du lịch Việt Nam, 2019). Quy mô đó cho thấy, hiệu ứng không đối xứng nêu trên không phải vấn đề giả định, mà có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt và cấp bách về quản lý ngay từ thời điểm hợp nhất.

5. Kết luận

Bài viết đã xây dựng và phân tích một mâu thuẫn biện chứng trong phát huy giá trị văn hóa – tôn giáo tại Ninh Bình mới, giữa cái chung của thể chế quản lý đơn nhất sau hợp nhất hành chính và cái riêng của ba phương thức tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt căn bản về cơ cấu thẩm quyền, phương thức xác lập uy tín và nhịp điệu tái tạo ý nghĩa.

Bài viết đề xuất nguyên tắc “thống nhất trong đa dạng”, cụ thể hóa thành ba giải pháp gắn với cơ quan chủ trì, cơ sở pháp lý và lộ trình thực hiện đã trình bày ở trên. Đóng góp của bài viết là xây dựng một khung lý luận biện chứng duy vật cho quản trị di sản đa tôn giáo trong điều kiện hợp nhất hành chính; đồng thời, gắn khung lý luận đó với thẩm quyền quản lý nhà nước cụ thể, có thể vận dụng cho các địa phương khác đang trải qua quá trình sắp xếp đơn vị hành chính tương tự.

Để theo dõi hiệu quả triển khai, bài viết đề xuất ba nhóm chỉ báo giám sát hằng năm, gồm: tỷ lệ hợp đồng hợp tác công tư tại Bái Đính, Tam Chúc có điều khoản bảo vệ thẩm quyền tôn giáo; chất lượng cơ chế tham vấn cộng đồng tại Phủ Dầy; và tiến độ ký kết quy chế phối hợp giữa Ủy ban nhân dân tỉnh và Giáo phận Phát Diệm. Hạn chế chính của bài viết là tính dự báo lý luận, cần kiểm nghiệm qua theo dõi thực tiễn trong ít nhất ba năm tới.

Tài liệu tham khảo:
Báo Ninh Bình (2020). Phát triển du lịch hiệu quả và bền vững. https://baoninhbinh.org.vn.
Bourdieu, P. (1990). The Logic of Practice. Stanford University Press.
Chính phủ (2017). Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Đặng Nghiêm Vạn (2001). Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 3). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Honneth, A. (1995). The Struggle for Recognition: The Moral Grammar of Social Conflicts. Polity Press.
Ph. Ăngghen (1994). Thư gửi Josef Bloch, ngày 21 – 22/9/1890. Trong C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập (Tập 37. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 641.
Ngô Đức Thịnh (2015). Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Nxb. Khoa học xã hội.
Nguyễn Hồng Dương (2017). Tôn giáo trong đời sống xã hội hiện đại. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thị Phương Châm (2020). Biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay. Nxb. Khoa học xã hội.
Quốc hội (2016). Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Taylor, C. (1994). The Politics of Recognition. Trong Multiculturalism: Examining the Politics of Recognition (A. Gutmann chủ biên). Princeton University Press.
Tổng cục Du lịch Việt Nam (2019). Hợp tác công – tư tạo động lực phát triển du lịch. https://vietnamtourism.gov.vn.
UNESCO (2003). Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.
V.I. Lênin (1981). Bút ký triết học (Toàn tập, Tập 29). Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.