Declaration of Independence – An immortal epic
TS. Thượng tá, Hoàng Văn Vân
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: Hoangvanbpvn@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Với dung lượng ngắn gọn nhưng hàm chứa giá trị lý luận, pháp lý, chính trị và nhân văn sâu sắc, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định quyền con người, quyền dân tộc, cơ sở chính nghĩa của nền độc lập Việt Nam và ý chí quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng của toàn dân tộc. Trong bối cảnh thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp, Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố nền độc lập, tự chủ chiến lược, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Tuyên ngôn Độc lập; Hồ Chí Minh; độc lập dân tộc; quyền con người; quyền dân tộc; tự chủ chiến lược; Đại hội XIV; kỷ nguyên mới.
Abstract: On September 2, 1945, President Ho Chi Minh, on behalf of the Provisional Government, read the Declaration of Independence, founding the Democratic Republic of Vietnam and ushering in an era of independence and freedom for the Vietnamese nation. Though concise, the Declaration embodies profound theoretical, legal, political, and humanitarian values; it affirms human rights, national rights, the just basis of Vietnam’s independence, and the entire nation’s determination to safeguard its revolutionary achievements. Amid a rapidly changing and complex global landscape, the Declaration of Independence holds great significance for consolidating independence and strategic autonomy, as well as for harnessing the power of great national unity to propel the country steadily forward into a new era of development.
Keywords: Declaration of Independence; Ho Chi Minh; national independence; human rights; national rights; strategic autonomy; 14th National Congress; new era
1. Mở đầu
Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc Tuyên ngôn Độc lập, long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của một nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập. Sự kiện lịch sử đó là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và đầy hy sinh của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta chống chủ nghĩa thực dân, phát xít và chế độ phong kiến. Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm chính luận mẫu mực, thể hiện tầm cao tư duy lý luận sắc bén, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghiên cứu nội dung cơ bản và giá trị lịch sử, hiện thực của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nhằm ôn lại một sự kiện lịch sử trọng đại mà còn góp phần nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới
2. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập
Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định cơ sở pháp lý và chính nghĩa của quyền con người, cũng như quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tuyên bố ngay về nền độc lập của Việt Nam mà bắt đầu từ những nguyên lý phổ quát của nhân loại về quyền con người. Người dẫn lại những tư tưởng tiến bộ trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 1). Và dẫn lời từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 1) và khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 1). Việc lựa chọn hai văn kiện tiêu biểu của cách mạng Mỹ và Pháp làm cơ sở pháp lý thể hiện tư duy sắc bén và tầm nhìn rộng lớn của Hồ Chí Minh. Người đặt vấn đề độc lập của nước Việt Nam như một yêu cầu pháp lý, đòi hỏi quyền tự quyết và quyền bình đẳng của dân tộc, đặt trong dòng chảy chung của tiến bộ nhân loại về tự do, bình đẳng và quyền con người.
Điểm đặc sắc và sáng tạo nhất nằm ở chỗ: từ quyền của mỗi con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh suy rộng thành quyền của các dân tộc. Người khẳng định, mọi dân tộc đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đây là bước chuyển có ý nghĩa lý luận rất sâu sắc: quyền con người là cơ sở để khẳng định quyền dân tộc; độc lập dân tộc là điều kiện bảo đảm quyền con người. Đối với Việt Nam, điều đó có ý nghĩa đặc biệt bởi dưới chế độ thực dân phong kiến, người Việt Nam không chỉ mất quyền độc lập của dân tộc mà còn bị tước đoạt những quyền cơ bản của con người. Bởi vậy, đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời là đấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Thứ hai, tố cáo bản chất của chế độ thực dân và bác bỏ luận điệu “khai hóa” của chúng.
Sau khi xác lập cơ sở lý luận và pháp lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển sang chứng minh sự mâu thuẫn giữa những nguyên lý mà thực dân Pháp tuyên bố và thực tế cai trị ở Việt Nam. Người viết: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 1).
Tuyên ngôn tiếp tục vạch rõ những tội ác của thực dân Pháp trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Về chính trị: “chúng tuyệt đối không cho dân ta bất cứ quyền tự do dân chủ nào” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.1); về kinh tế, chúng bóc lột Nhân dân đến tận xương tủy, cùng cực, làm cho nước ta xơ xác tiêu điều; về văn hóa, chúng thực hiện chính sách ngu dân; về xã hội, chúng duy trì những chính sách hà khắc nhằm chia rẽ và áp bức Nhân dân. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tuyên bố quyền độc lập mà còn tố cáo một cách đanh thép, vạch trần chiêu trò mỵ dân của chế độ thực dân với những hành động trái với các nguyên lý về tự do, bình đẳng và nhân quyền mà chúng từng tuyên bố. Từ đó, Người khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 3).
Thứ ba, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định Nhân dân Việt Nam là chủ thể giành và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
Một nội dung quan trọng khác của Tuyên ngôn là việc xác lập chủ thể của nền độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng Cách mạng tháng Tám là thành quả của sự đấu tranh của chính Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuyên ngôn khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”, đồng thời “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 3). Qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Nhân dân chính là chủ thể sáng tạo lịch sử. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập được sinh ra từ cuộc đấu tranh của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và có trách nhiệm phục vụ lợi ích của Nhân dân và của dân tộc. Điều này khẳng định, vai trò chủ thể của Nhân dân ta trong đấu tranh giành và bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của dân tộc.
Thứ tư, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định sự thật lịch sử và cơ sở pháp lý của nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
Một trong những luận điểm có giá trị đặc biệt của Tuyên ngôn là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng những sự thật lịch sử để khẳng định quyền độc lập của Việt Nam. Người chỉ rõ, thực dân Pháp đã không còn tư cách đại diện cho Việt Nam khi họ đầu hàng Nhật và phản bội Nhân dân Việt Nam; đồng thời, chính Nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đổ ách thống trị của Nhật, giành chính quyền và thành lập Nhà nước độc lập. Từ đó, Người khẳng định: “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 3). Đây là một lập luận vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính pháp lý và ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh, nền độc lập của Việt Nam không phải là kết quả của một khoảng trống quyền lực đơn thuần mà là kết quả của cuộc đấu tranh của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ năm, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và ý chí bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do ấy.
Sau khi nêu đầy đủ cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn, Tuyên ngôn đi đến lời tuyên bố chính thức: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.Đây là câu kết tinh toàn bộ tư tưởng của Tuyên ngôn. “Có quyền” là khẳng định cơ sở pháp lý; “sự thật đã thành” là khẳng định cơ sở thực tiễn. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở việc tuyên bố quyền độc lập. Người khẳng định, ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập bằng sức mạnh của toàn dân tộc: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 3).
3. Giá trị lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập
Một là, bản Tuyên ngôn Độc lập đã khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông độc lập đầu tiên ở Đông Nam Á.
Giá trị lịch sử trực tiếp và quan trọng nhất của Tuyên ngôn Độc lập là tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, dân tộc Việt Nam chính thức bước ra khỏi thân phận thuộc địa, trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền và có địa vị pháp lý trên trường quốc tế. Đây là bước ngoặt căn bản trong lịch sử dân tộc. Nếu trước Cách mạng Tháng Tám, vận mệnh đất nước bị thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai chi phối, thì từ ngày 02/9/1945, Nhân dân Việt Nam trở thành chủ thể của một quốc gia độc lập. Tuyên ngôn vì thế là văn bản đánh dấu sự chuyển biến căn bản về địa vị chính trị – pháp lý của dân tộc Việt Nam.
Hai là, Tuyên ngôn Độc lập đã mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập không chỉ kết thúc một thời kỳ lịch sử tối tăm của dân tộc dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến mà còn mở ra một thời kỳ mới. Đó là kỷ nguyên Nhân dân làm chủ đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với quyền tự do và hạnh phúc của Nhân dân. Từ đây, dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam phải thực sự được hưởng quyền tự do, bình đẳng như các dân tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới. Và cũng từ nền độc lập năm 1945, dân tộc Việt Nam tiếp tục trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới. Mỗi thắng lợi tiếp theo đều có thể được nhìn nhận như sự tiếp nối lời thề trong Tuyên ngôn về quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do.
Ba là, Tuyên ngôn Độc lập góp phần cổ vũ, động viên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Đây là giá trị quốc tế sâu sắc, vượt ra ngoài thời đại của Tuyên ngôn Độc lập. Việc một dân tộc thuộc địa giành được độc lập và thành lập nhà nước của mình trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân vẫn tồn tại mạnh mẽ đã tạo động lực cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn Độc lập đồng thời đưa ra một quan điểm mang tính phổ quát: quyền độc lập, tự do không phải là đặc quyền của các quốc gia lớn hay các dân tộc đã phát triển mà là quyền chính đáng của mọi dân tộc trên thế giới. Chính vì vậy, giá trị của Tuyên ngôn vượt khỏi biên giới Việt Nam, trở thành nguồn cổ vũ, động viên mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời là một đóng góp quan trọng của Việt Nam vào kho tàng tư tưởng về quyền tự quyết của các dân tộc.
4. Giá trị hiện thực của Tuyên ngôn Độc lập
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ chiến lược là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Giá trị hiện thực đầu tiên của Tuyên ngôn là bài học về việc giữ vững độc lập và tự chủ. Trong thế giới hiện nay, độc lập không chỉ được hiểu là không bị xâm phạm lãnh thổ. Độc lập còn phải được thể hiện bằng năng lực tự quyết về đường lối phát triển, khả năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế, năng lực khoa học – công nghệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu và khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Đại hội XIV của Đảng đã phát triển yêu cầu đó thành quan điểm về “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.84). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.81); đồng thời nhấn mạnh tự chủ chiến lược, bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đây chính là sự phát triển về giá trị của Tuyên ngôn trong điều kiện mới. Nếu năm 1945, nhiệm vụ cấp bách là giành lại và bảo vệ vững chắc quyền độc lập thì ngày nay, nhiệm vụ đặt ra là củng cố nền tảng vật chất, kinh tế, khoa học – công nghệ và sức mạnh tổng hợp để bảo đảm thực chất quyền tự chủ chiến lược của quốc gia.
Thứ hai, độc lập tự do của dân tộc phải gắn với hạnh phúc của Nhân dân.
Tuyên ngôn Độc lập mở đầu bằng quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Vì vậy, giá trị hiện thực của Tuyên ngôn không thể chỉ được đánh giá bằng việc đất nước có chủ quyền mà còn phải được thể hiện trong đời sống của nhân dân. Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển là “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân”, đồng thời hướng tới một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 84). Sự thống nhất sâu sắc giữa tư tưởng của Tuyên ngôn Độc lập và định hướng phát triển hiện nay là: độc lập phải hướng đến con người; phát triển phải vì Nhân dân; thành quả phát triển phải được Nhân dân thụ hưởng. Đây cũng là yêu cầu quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước. Nhà nước phải không ngừng hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để mọi người dân phát huy năng lực, trí tuệ và sức sáng tạo.
Thứ ba, tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lời kết của Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên thệ của toàn dân tộc. Điều đó cho thấy, độc lập không chỉ được Nhà nước tuyên bố mà còn được bảo vệ bằng sức mạnh của toàn dân. Trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là một nguồn lực chiến lược. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh quan điểm: “phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 83)… để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Vận dụng giá trị này đòi hỏi phải củng cố thế trận lòng dân, niềm tin của Nhân dân; bảo đảm hài hòa lợi ích; thực hiện tốt dân chủ; chăm lo đời sống nhân dân; thu hẹp khoảng cách phát triển; tăng cường sự đồng thuận trong xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đoàn kết dân tộc phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng, phát huy quyền làm chủ và khơi dậy khát vọng cống hiến của mỗi người Việt Nam.
Thứ tư, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, giải quyết hài hòa, biện chứng giữa kiên định độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới.
Trong điều kiện hiện nay, quyền tự quyết đó phải được thực thi toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực và bảo vệ bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ngày nay bao gồm quốc phòng, an ninh, kinh tế, đối ngoại, pháp lý, khoa học – công nghệ, văn hóa và sức mạnh của lòng dân. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 83). Đây là sự phát triển quan trọng về phương thức bảo vệ độc lập trong bối cảnh mới. Nếu trước đây nguy cơ chủ yếu đến từ chiến tranh xâm lược trực tiếp thì ngày nay các nguy cơ có thể xuất hiện trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, công nghệ, thông tin, không gian mạng, an ninh phi truyền thống và cạnh tranh địa chính trị. Do đó, bảo vệ độc lập phải được tiến hành chủ động, từ sớm, từ xa; kết hợp sức mạnh bên trong với môi trường quốc tế thuận lợi.
Một bài học quan trọng từ Tuyên ngôn Độc lập là độc lập không đồng nghĩa với biệt lập. Ngay trong Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng những giá trị chung của nhân loại để khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam. Điều đó thể hiện tư duy đặt vấn đề dân tộc trong quan hệ với thế giới. Ngày nay, Việt Nam càng không thể phát triển trong trạng thái khép kín. Độc lập, tự chủ phải gắn với đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế và tranh thủ nguồn lực bên ngoài.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh và lực lượng của đất nước, tạo động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Đây là sự vận dụng trực tiếp tinh thần Tuyên ngôn Độc lập vào điều kiện của thế kỷ XXI. Độc lập trong hội nhập có nghĩa là chủ động lựa chọn đối tác, chủ động lựa chọn phương thức hợp tác, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, đồng thời đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Thứ năm, phát triển khoa học – công nghệ nhằm tăng cường năng lực tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên mới.
Một nội dung mới của việc vận dụng các giá trị của Tuyên ngôn Độc lập trong giai đoạn hiện nay là vấn đề tự chủ về khoa học – công nghệ. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề về quyền tự quyết của một dân tộc trong quan hệ với các cường quốc và hệ thống thuộc địa. Ngày nay, quyền tự chủ quốc gia vẫn chịu tác động mạnh mẽ bởi thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0. Một quốc gia muốn có năng lực tự chủ chiến lược phải có khả năng làm chủ các công nghệ nền tảng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn dữ liệu. Đại hội XIV của Đảng xác định: “xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.82) để phát triển đất nước; đồng thời, hoàn thiện thể chế hiện đại và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng. Điều này cho thấy, nội hàm của “độc lập, tự chủ” đang được mở rộng, phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Thứ sáu, quản lý nhà nước phải chuyển hóa giá trị độc lập thành năng lực quản trị phát triển.
Đối với lĩnh vực quản lý nhà nước, giá trị hiện thực của Tuyên ngôn Độc lập đặt ra yêu cầu đặc biệt: Nhà nước phải biến quyền độc lập của quốc gia thành năng lực quản trị và phát triển thực tế. Một quốc gia có chủ quyền nhưng thể chế kém hiệu quả, quản trị yếu kém, nguồn lực bị lãng phí, tham nhũng và tiêu cực làm suy giảm niềm tin xã hội thì sức mạnh độc lập cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là yêu cầu trực tiếp của việc hiện thực hóa tinh thần Tuyên ngôn Độc lập. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.83). Yêu cầu đặt ra là xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; đồng thời thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đây chính là phương thức để giá trị “độc lập, tự do” được thể hiện trong chất lượng quản trị quốc gia và trong đời sống xã hội.
5. Kết luận
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là bản tuyên bố về sự ra đời của một nước Việt Nam độc lập, đồng thời là bản hùng ca về quyền sống, quyền tự do và quyền tự quyết của dân tộc. Với nghệ thuật lập luận sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hòa giữa những giá trị phổ quát của nhân loại với thực tiễn lịch sử Việt Nam; giữa quyền con người và quyền dân tộc; giữa cơ sở pháp lý và sự thật lịch sử; giữa tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ độc lập. Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến đổi sâu sắc, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập càng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Đó chính là cách thiết thực nhất để lời tuyên bố thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 tiếp tục được khẳng định bằng những thành tựu của Việt Nam trong hiện tại và tương lai; để bản hùng ca về độc lập, tự do không chỉ sống mãi trong lịch sử mà còn trở thành nguồn động lực đưa dân tộc Việt Nam tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



